- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

HOA CÚC QUỲ KHÔNG BAO GIỜ CHẾT

18 Tháng Bảy 201212:00 SA(Xem: 123491)

 phamphuong_2011_bw-content

 Phạm Phương (Hà Nội)

Tôi có thể kể một câu chuyện giống như diễn tiến tự nhiên của cuộc sống. Tất nhiên điều đó không có hại gì cho sự nghiệp văn chương của tôi. Trừ phi tôi muốn dây dưa bằng những thứ ì xèo người ta gọi là vạ miệng. Con chữ giết người. Sự sứt mẻ tinh thần đem đến những mớ bòng bòng rắc rối. Và họa vô đơn chí sẽ có một vài kẻ bắt vạ không lương thiện. Họ làm tổn thương tâm hồn nhà văn của tôi.

Tôi là một phóng viên có năng lực, ít ra là sự tự tin nói vậy. Hai mươi ba tuổi, với nhiều truyện ngắn đăng báo và vài cuốn sách được xuất bản, gắn mác nhà văn, tôi có chỗ đứng trong một tòa soạn tiếng tăm. Không người yêu, không gia đình, không cả hứng thú với cuộc sống, tôi đơn độc đối chọi với một cục người hàng ngày ăn uống ngủ nghỉ, chửi nhau, làm bậy, giết nhau, thậm chí chôn vùi nhau trong một đống bầy nhầy gọi là thành phố.

Tôi lặng lẽ chấp nhận.

Thành phố phồn hoa đã có thời quyến rũ tôi. Như cô học trò đôi chín choáng ngợp trước vẻ đẹp hiệp sĩ của thầy giáo, tôi háo hức từ quê đến thành phố để học đại học với những mơ tưởng viển vông về một thế giới khác, nơi người ta tự do hơn, có thể sẽ có một tình yêu trên chiếc xe đạp rách, những xóm trọ bốc mùi hôi thối nằm trong hang cùng ngõ hẻm với lời chửi bới ngoa ngoắt đến hài hước của bà già chủ nhà có hình dáng quỷ dạ xoa, chống nạnh, gầm gừ. Trước khi trở thành sinh viên, tôi ít khi nghĩ đến kết cục vinh quang với tấm bằng đỏ. Tôi dành nhiều thời gian để mơ ước một lối sống mới hơn. Sau khi tốt nghiệp, tôi dần biến đổi trở thành một kẻ vật vã kiếm tiền rồi vật vã tiêu tiền. Như một con bạc khát nước trong vòng quay xổ số của cuộc sống, có đêm tôi nằm mơ thấy mình là vua Mi – Đát, đang cầu xin thần Đi-ô-ni-dốt trên bờ biển toàn cát vàng lóng lánh. Tôi ghét màu vàng. Tôi yêu màu trắng hơn.

Chân dung phác họa của tôi cho đến bây giờ chỉ có vậy!

Tòa soạn của tôi nằm giữa một trung tâm thương mại lớn với một vòng xuyến xoay như xoáy nước trong nồi phở. Đứng trên tầng 8 nhìn xuống, cảm giác người qua kẻ lại là hành mỡ đang quyện vào nhau. Trong lớp kính đã mờ vì hơi sương trước mặt tôi có một hình bóng loang loáng, đổ vỡ. Tôi đưa ngón tay gạch chéo chữ X vào cái bóng rồi quay lưng bước đi về phía phòng làm việc của mình. Bây giờ đã là cuối mùa thu, sự nhức nhối trong từng lớp không khí làm cho mùi vị cuộc sống có vẻ tanh tưởi hơn bình thường. Lá đã bắt đầu phơi mục, trơ gân cứng, lớp diệp lục mành mành tan vào đất. Một sự tàn úa khủng khiếp đến tê dại nơi đầu các giác quan trễ nải của tôi. Cố quẳng một cái nhìn lạnh giá về phía thiên nhiên, tôi chui vào bàn làm việc – vốn là một cái ngăn gỗ nhân tạo với một chồng giấy má, máy tính, bút nhiều màu và vài thứ đồ hộp được dấu kĩ dưới ngăn kéo bàn.

Lịch công tác tháng này, xem nhé các tình yêu.

Tiếng nói của ai từ góc nào đó trong văn phòng đập vào tai tôi. Một tờ giấy được ấn xuống trước mặt tôi từ một ngón tay đàn ông sạch đến từng cái móng. Những cái móng bị viêm nhìn như móng giả lướt đi một cách ẻo lả và ngu ngốc, dí ngược từng dòng chữ đen đậm trên đó vào mắt tôi. Tháng này đi Tây Nguyên à, tôi lẩm bẩm, chết tiệt thật! 

Vùng đất cao nguyên vẫn luôn đem đến cho tôi một ấn tượng không tốt. Từ bao giờ, tôi luôn chạy trốn khỏi nó như một con ma chạy trốn địa ngục, hoặc cũng có thể là giống như một con người chạy trốn trái đất của mình. Mặc định phiêu du và tự do luôn ám vào nó chăng nữa, khao khát của tôi dành cho những ý muốn trong lòng vẫn trở nên trơ lì trước sự căm ghét dường như ăn sâu vào máu dành cho miền đất vô tội ấy.

Lén lút vò vún tờ lịch công tác lại rồi vất dưới ngăn bàn. Một hành động vô học của một đứa con hoang vẫn tồn tại trong không gian đầy chất trí thức này. Tôi nhìn sang bàn bên cạnh, thấy khuôn mặt đồng nghiệp cúi gằm xuống tờ bảng biểu ép Plastic. Trong tấm nhựa ép bóng loáng ấy là cái bóng của khuôn mặt hắn. Một điệu cười nhếch mép và một đôi mắt quả ớt nham hiểm đến rụng rời.

Cái làng ma ấy cũng hấp dẫn đấy chứ. Ông bố quân nhân của cô lại là chúa đất ở đấy. Một con ma cúc quỳ chứ vài chục cũng phải nghe lời ông ấy thôi.

Tôi im lặng dần rồi từ từ chìm nghỉm trong không gian cô đơn đầy những bóng khí ép chết nhau. Con ma cúc quỳ ở ngôi làng Jrai đó, cái thứ có hình dung được mô tả như một dị nhân luôn để lại một bông cúc quỳ sau khi ăn thịt động vật. Cái xác của con vật bị giết bị gặm nham nhở. Những vết cắn man rợ đẫm máu, đôi mắt bị moi ra theo những dây máu đông. Nhìn vẻ đau đớn của con vật là biết ngay nó bị giết khi đang còn cố giãy giụa. Đôi khi là chó, lợn, thậm chí gần đây còn có cả người. Nghĩ đến đây, sợ hãi dán chặt vào người tôi dính lớp nhớp. 

Tôi đi Tây Nguyên vào đầu tuần. Bầu trời Hà Nội lúc tôi ra đi ngồn ngộn mây đen. Một kiểu thời tiết ấm ức thô tục, bất lực. Đón tôi ở sân bay Pleiku là một người thanh niên mặc quân phục có điệu cười như tượng thần trong các đền đài Ăng-co-vát, môi dày, mắt hơi lồi, nước da nhám đá. Anh ta cầm tấm biển ghi tên tôi đầy đủ đến từng chức danh, đứng nhấp nhổm nơi phòng chờ. Tôi định quay bước hoặc lờ anh ta đi. Có lẽ đã có kẻ nào đấy chơi xấu tôi, gọi điện cho Người ấy, báo cho người ấy biết tôi đã vào Tây Nguyên. Tôi đến trước mặt người thanh niên, anh ta cười bẽn lẽn với tôi. Thật tức cười khi pho tượng thần phương Đông đẹp đẽ và huyền bí ấy lại đang ngại ngùng trước con bé đến từ thành phố dáng hình yếu ớt và đôi mắt lạnh lùng. Như một con rắn trắng đang quan sát con mồi, tôi cố gắng không thè lưỡi. Tình trạng kịch tính và không được lãng mạn cho lắm. Không muốn bị tưởng tượng ru ngủ, tôi nhanh chóng trèo lên chiếc xe U Oắt xanh rêu đã tróc sơn thành từng vảy sắt han gỉ da cá sấu, đất đỏ bám trên đó khô cứng, rụng tơi bời như hoa hồng quế mùa đông. Chiếc xe bon bon trên con đường trải nhựa - những đồ thị hình sin đang vẽ trên một hệ quy chiếu xanh ướt cây và đỏ rực bazan. Người thanh niên chăm chú lái xe, vận tốc có khi lên đến hơn trăm cây số một giờ. Bên ngoài, khung cảnh nhảy múa. Tôi đang đứng giữa tâm của một hình tròn để xua đi ảo giác, trước mắt chỉ còn cây, đất và những bóng hình của người đi đường vun vút ở lại sau từng khắc thời gian đổ bóng xuống suy nghĩ của tôi.

 Tôi và Tượng-Thần đều im lặng. Nóng rẫy cảm giác. Nước da rám nắng ấy cuối cùng cũng tìm được điểm tương đồng với cảm quan thẩm mỹ của tôi. Tôi bắt đầu nghĩ anh ta đẹp trai. Nơi tôi đến là một doanh trại quân đội, vài người lính trẻ măng nhìn tôi với đôi mắt ngây thơ như mắt nai rừng. Tôi cố cười thân thiện, cúi người chào hỏi. Bước vào gian phòng còn nồng mùi băng phiến, tôi nằm xuống chiếc giường phẳng phiu đến từng mm với ga giường màu trắng đục. Một người đàn ông bước vào. Quân hàm đại tá rung rinh trên cầu vai đã gần trễ xuống vì tuổi tác. Tiếng nói đơn độc như những bông hoa cúc quỳ xấu xí sau bếp của bà nội ngày xưa. Nơi đó mẹ vẫn thường đứng nhìn rồi chảy nước mắt. Mẹ chết, cây cúc quỳ cũng chết khô. 

Đói chưa? – Người đàn ông hỏi tôi.

Tôi không nói gì, trở mình quay lưng vào tường, cố nhắm mắt ngủ, cảm giác có bàn tay ai đó kéo chiếc chăn chiên đắp lên người mình.

Tỉnh dậy lúc trời đã xế chiều. Giờ tôi mới để ý thấy bầu trời ở Tây Nguyên không có mây đen. Buổi chiều muộn luôn vàng rực nắng quái hoàng hôn và trời sập tối rất nhanh. Trong chút đơn côi của trời đất có từng bóng nắng đu đưa vẫy gọi nhau, ríu rít như hồn lịch sử bí ẩn đang làm tình, thì thầm, rên rỉ, miên man, mải miết, bồi hồi...

Trong bữa cơm, mùi lá sắn trong món cá sông Sê San luộc chát sít đến tận cổ họng.

Con cần vào làng để lấy tin viết bài... – Tôi nói.

Con ăn đi, mai bố sẽ cho người lấy tin cho con.

Con muốn tự đi...

Con không được đến làng đó – Bố nói như ra lệnh.

Con là một nhà báo, con muốn tự do tác nghiệp...

Nhưng con là con gái bố, đừng có bướng... – Bố quát

Con gái bố ư? – Tôi nói với giọng hơi mỉa mai.

Khuôn mặt bố tôi méo xệch như người trúng tên. Tôi hả hê...

Hoa cúc quỳ ở Tây Nguyên hình như là loài hoa không bao giờ chết. Nếu dùng một hình ảnh nào đó để so sánh với nó thì đó chỉ có thể là hình ảnh những thiếu nữ Tây Nguyên ngực trần, mắt sáng rực như sao. Những bông hoa cúc quỳ ở bên nhau nên vàng lại càng vàng. Từng rặng, từng rặng vươn lên về phía mặt trời đôi khi thành những lũy hoa. Cánh hoa mong manh nhưng mạnh mẽ như những loài hoa dại khác. Màu vàng hòa hợp của nắng và thời gian. Loài hoa đẹp đẽ, trong nỗi lòng khép kín của tôi vẫn luôn có một chỗ đứng không thể từ bỏ được. Người mẹ hay cười, ít nói chỉ còn lờ mờ trong trí óc. Hình ảnh ấy đứng lại trong khung tranh truyền thần đặt trên bàn thờ, viền tranh trang trí hoa cúc quỳ theo ước muốn của mẹ. Người mẹ lạ lùng, luôn thích cởi trần đi lại trong gian phòng nhỏ của hai mẹ con. Bầu vú căng mọng tung tẩy theo từng nhịp đi. Mẹ hay vẽ những hình hài nhỏ bé, méo mó trên giấy, lúc thì một cánh chim, lúc lại là một bông hoa. Mẹ kể về thảo nguyên, những con đường đất đỏ vàng rực hoa cúc quỳ. Loài hoa ấy trong một ngôn ngữ khác còn có tên là Po-Nga-Phí.

Trước cửa phòng bố tại đơn vị có trồng một hàng cúc quỳ. Không phải đất hoang, những bông hoa vẫn sống, ra hoa nhưng gầy yếu, se sắt. Thỉnh thoảng có đôi mắt nâu đen lờ mờ đâu đây bẽn lẽn. Trong chớp mắt, tất cả những ưu tư, bức bối trở thành quẩn quanh đến ngượng ngập như lối mòn dẫn vào rừng. “Con muốn vào rừng”, tôi nói. Bố lờ tôi đi bằng thái độ cam chịu. Tôi đồng ý với đôi mắt đen nâu lúc này đang nhìn chăm chăm vào tôi qua cửa sổ như muốn nói, “anh sẽ dẫn em đi”. Tôi ngước mắt lên nhìn rồi chợt cảm thấy đồng tử của mình dãn ra, bối rối.

Con đường vào ngôi làng sau núi là một con đường đất đỏ gập ghềnh đáng sợ, lởm chởm đá dăm và dấu vết của những con nước xói mòn đất thành những dòng chảy cứng ngắc, ngập ngừng vươn đến những đoạn dốc có khi dựng đứng. Tượng-Thần đi trước tôi, đeo một ba lô lớn. Tượng-Thần thỉnh thoảng quay lại đưa tay kéo tôi qua nhưng chỗ khó đi. Có khi tôi ngã dúi dụi vào khuôn ngực vạm vỡ sau lớp áo xanh thì lập tức nước da rám nắng đỏ lựng như quả cà chua chín. Trong thâm tôi như dội lên những suy nghĩ mông lung khó tả về một thời điểm nào đó hơn 23 năm về trước, cũng có một người đàn ông dắt một người đàn bà đi trên con đường này. Người đàn bà Jrai da nâu, mắt sáng, đẹp đẽ như nàng Hơ Bí, Hơ Nhí trong trường ca Đăm San. Người đàn ông áo xanh, bóng dáng mạnh mẽ, với cầu vai đeo quân hàm trễ nải. Từng tấc đất reo ca, cây rừng im lìm mê đắm. Đứa con của anh bộ đội và cô gái Jrai sinh ra sau một trận mưa rừng... Một đứa con gái mắt nâu, tóc lơ thơ, nước da trắng và khóc oa oa như tiếng thác đổ lúc chiều xuống.

Vượt qua hơn 10 km đường đất như vậy, làng Po-Nga-Phí hiện ra trước mặt tôi. Giống như cái tên của nó, ngôi làng bao quanh bởi rừng hoa cúc quỳ vàng rực đã tan tác sau cơn mưa.Tất cả dường như chỉ là hoa cúc quỳ và màu vàng đến mờ nhạt, khét nắng. Cổng làng cách khu nhà ở rất xa. Đứng ở đó chỉ có thể nhìn thấy mờ mờ bóng một cây nêu cao lớn dựng đứng, kiêu hãnh đối diện cửa nhà Rông, mái như lưỡi Rìu bổ lên trời. Không một bóng người nơi ấy, cảm giác cô liêu bám vào những ảm đạm trong không khí khiến tôi thấy mình như cánh bướm đang đậu lại trên một hạt sương. Trách nào những kẻ rỗi hơi ở thành phố lại quá tò mò về nó, gọi nó là ngôi làng ma hấp dẫn nhất trong năm. Tôi là kẻ được phái đến với lý do săn tin. Liệu có phải mình là con cọp đang rình mò cái làng này không, tôi tự nhủ rồi cùng Tượng-Thần đi sâu vào làng, con đường đất đỏ lầy lội, bùn nhão dính chặt chân tôi.

Giàng ơi...

Trước mặt tôi là một bà già móm mém, nhăn nheo như một con dộc cái, mặt ngắn choằn, cái miệng há hốc rú lên kinh ngạc.

Giàng ơi, H’Pía về rồi!

Tiếp sau đó một toán người chạy ra đứng cạnh bà già nhăn nheo nọ. Tất cả họ đều nhỏ bé, da đen như đồng hun, ánh mắt hoang dại. Một lúc sau cả làng đã vây quanh chúng tôi. Trẻ con, người già, tất cả họ đều có mặt đầy đủ. Không ai tỏ ra dữ dằn, nhưng Tượng-Thần kéo tôi nép vào người mình.

H’Pía, Giàng thả mày về rồi à? – Bà già vẫn chưa hết hoảng loạn – Giàng bắt tội mày quên cả tiếng Jrai rồi!

Bà ta nói bằng tiếng Jrai, tôi không hiểu nghĩa. Tượng-Thần khẽ dịch nghĩa cho tôi. Bỗng khuôn mặt của bà già căng lên dữ tợn, nói một điều gì đó như hét. Tiếng hét hay tiếng gào thét của rừng?! Mọi người sấn tới ôm lấy bà ta rồi kéo về chiếc cột lớn trước cửa nhà Rông, trói nghiến lại.

Sau đó họ đứng quây quần lại quanh cái cột, mặt ai cũng u ám. Không ai nhìn về phía người đàn bà đang lảm nhảm nói nữa. Tượng-Thần nhìn về phía tôi trấn an rồi cùng đứng đối diện với người đàn ông già nhất, có lẽ là già làng. Ông ta bắt đầu nói chuyện với tôi bằng thứ tiếng Kinh trọ trẹ.

Từ khi Mày theo cái thằng bộ đội đó. H’Du bị con ma điên bắt. Cha mẹ mày chết hết rồi, cái nhà lạnh lẽo, bếp lửa không ai thắp, ruộng rẫy không ai làm.

Nó thành ma của người Kinh rồi – người đàn bà có hình dung con dộc lại nói xen vào – Da nó trắng như mắt con hổ, nó không còn là người Jrai mình đâu... – Nhưng không ai để ý đến bà ta.

H’Du ...– già làng ngậm ngùi.

Sau mỗi tiếng nói của ông già là một cảm giác sầu thảm ghê gớm, Tượng-Thần càng lo lắng, lúc nào cũng trong tư thế kéo tôi bỏ chạy.

Tôi không phải H’Pía... – Tôi lắp bắp.

Nó dẫn thằng bộ đội đến. Nó là ma người Kinh... – Bà H’Du vẫn gào.

Người đàn ông già nhìn thằng vào tôi, cái nhìn sắc lạnh như nước suối lúc nửa đêm. Sau đó ông thở dài:

Ừm, nếu mày là H’Pía thì cũng phải già bằng H’Du. Mày không phải H’Pía rồi.

Sau sự kết luận của ông ta, mọi người lục tục bỏ về nhà mình. Người đàn bà già vẫn bị trói ở giữa cột, mồm liên tục gào. Tượng-Thần khẽ rùng mình, nói thầm vào tai tôi:

Bà ta nói muốn giết chúng ta.

Tôi định lại gần nhưng Tượng-Thần đã kéo tôi đi nhanh về phía làng.

Làng Po-Nga-Phí có lẽ là ngôi làng của người dân tộc nguyên bản nhất mà tôi đã từng gặp. Một ngôi nhà Rông lợp lá Som đã cũ, mái chảy dài vệt của mưa nắng, dính bết lại như sơn. Một bếp lửa lập lòe trong ráng chiều bí ẩn và hoang sơ, lấp ló sau những vách gỗ nhà sàn. Bầu trời ở đây dường như đẹp hơn. Con trai đóng khố, con gái ngực trần... đâu đó lại vang lên tiếng đàn réo rắt như tiếng thì thầm:

Ta luyến ta thương

Cái đất nước ông bà

Cái nơi làm rẫy

Cái bến nước ăn

Cái làng cũ, cái nhà xưa

Nơi bãi cỏ xanh xanh

Có con trâu con bò gặm cỏ

Ta luyến ta thương

Dòng suối nước trong

Và rừng ta đi về lấy cây suốt cá

Rừng ta đẹp chim bay về làm tổ

Nước ta trong bờ suối nở hoa rừng

Trong hương thơm đất và trời, men say chết người của cảm giác khiến tôi đờ đẫn, ngây dại. Tiếng đàn T’rưng hay Klông-pút cất lên, dập dìu nấp sau kẽ lá, nhành hoa, từng hạt đất đỏ hoặc một đôi chân trần ngây thơ đang dẫm đất bước đi. Ngôi làng là một thế giới hoàn toàn khác với bên ngoài, một thế giới dường như tách biệt khỏi những vương vấn rất không thật trong đời thực. Tôi thấy hoa cúc quỳ nghiêng ngả, say sưa trong tiếng gọi của đại ngàn, gió núi và nước mắt kỉ niệm, tình yêu và đơn độc. Mẹ ơi!

Trong làng không có người trưởng thành, chỉ có người già và trẻ con. Họ không đề phòng chúng tôi những có vẻ sợ hãi. Phía sau ngôi nhà sàn có những ánh mắt trẻ con đen nhẻm, rách rưới. Thấy tôi, chúng bỏ chạy. Tôi đến ngôi nhà lớn nhất và tươm tất nhất. Đó là nhà của già làng. Trước khi vào nhà, tôi hướng dẫn cho Tượng-Thần cách bấm chiếc Canon D60 của mình sau đó lên tiếng gọi. Sau tiếng gọi của tôi, tôi thấy im lặng mải miết trườn xuống bậc thang, trùm kín lên tôi. Tôi mạnh dạn bước lên trên gõ cửa, đến lần thứ 2 mới thấy có người mở cửa. Ông già mời tôi vào nhà. Đó là một ông già rất già. Cái sự già ấy nó không chỉ in hằn trong từng nếp nhăn sâu và nhiều. Mà sự già trong đôi mắt dường như chỉ còn nhìn thấy cuộc sống bằng thói quen. Không như những cuộc phỏng vấn của tôi, ông già chặn ánh sáng từ chiếc D60 bằng một cái xua tay rồi mở lời trước. Bếp lửa cháy rực lên rồi lụi tàn trong chớp mắt. Những quầng sáng bay như linh hồn tan rã trong gió.

Ngày xưa làng này còn có H’Pía thì hoa Po-Nga-Phí nở nhiều quanh làng, bảo vệ làng. H’Pía suốt ngày chỉ thích chơi với hoa. Từ khi H’pía đi, trai gái trong làng cũng bỏ đi hết. Người già đau yếu không có ai trông nom, bọn trẻ con ngày càng nhiều, nhưng rồi chúng nó cũng bỏ làng mà đi theo bố mẹ chúng trồng cao su thôi... Mày tìm H’Pía về đây thì sẽ có nhiều hoa đẹp cho mày nhiều cái hình đẹp đấy.

Ông cười chua chát sau câu nói cuối cùng. Người ấy đã từng là hoa ở đây.Tôi bất giác mở lời:

Ông kể chuyện H’pía cho cháu nghe được không?

Khuôn mặt ông già dãn ra, dường như xa xăm, hốc hác.

H’Pía đẹp lắm. Sinh ra đã làm hoa Pơ lang phải ghen tị, dòng suối phải lặng lẽ trôi đi mỗi khi mái tóc H’Pía thả xuống gội đầu. Lớn lên, H’Pía hát hay còn hơn chim rừng. Con hươu, con nai gặm cỏ non cũng phải ngẩn ngơ. Cái nương, cái rẫy nhà H’Pía bao giờ cũng tốt nhất làng. Chàng trai nào cũng muốn được H’Pía lấy làm chồng. Rồi vào một mùa mưa, khi nương rẫy còn chưa gặt lúa, thằng bộ đội trắng trẻo ấy đến, bảo dân làng bỏ rẫy trồng cao su. Không ai nghe nhưng H’Pía nghe nó, cho nó nhiều ruộng rẫy, để nó phát hết cả hoa Po-Nga-Phí trong vườn. Cha mẹ H’Pía và chị gái H’Du vì thế mà buồn rầu. Dân làng xa lánh. H’Pía khóc ròng rã mấy tháng trời, sau đó bỏ nhà đi theo thằng bộ đội. Dân làng đuổi theo nhưng chúng nó chạy nhanh như con sóc, con thỏ. Sau đó không lâu có rất nhiều thằng bộ đội nữa về, chúng nó trồng nhiều cao su lắm. Hoa cúc quỳ ngày càng ít, chỉ còn một ít ở làng này thôi. Trước đây, hoa mọc tràn cả vào sân nhà...

Ông có gặp lại bọn họ không? H’Pía và bộ đội đó.

Có, cách ít lâu sau ta đi chợ mua cái sắt thì thấy thằng bộ đội bế một đứa trẻ con. H’Pía đi đằng sau, mặc quần áo của người Kinh. Ta sợ nó bỏ chạy nên ta đi hướng khác.

Bếp lửa lại được mấy đứa trẻ đốt lên, bập bùng cháy trong không khí lúc chiều xuống đã hơi se se lạnh. Bà nội của tôi, một người đàn bà Bắc Bộ thuần túy đã sửng sốt biết bao nhiêu khi con trai mình đem về nhà một cô gái dân tộc với một đứa con gái còn đỏ hỏn trên tay. Người con trai quân nhân về rồi lại đi. Người vợ vốn đôi chân quen leo núi, đôi tay quen trỉa bắp, trỉa lúa, dường như không thể đứng vững nơi đất bằng phẳng. Cô không thể tắm nơi sân giếng, cô không thể ăn cơm bằng đũa cũng không thể cấy cày. Như con chim bị nhốt trong lồng, hót đến rách họng để kêu gào tự do. Cô khóc, khóc đến khi chết nước mắt vẫn đọng lại nơi gò má nâu đen xinh đẹp. Đứa con gái trở thành mồ côi, mồ cút. Người chồng đau khổ vì cái chết của vợ, đã chạy trốn tội lỗi của ông ta để rúc vào xó rừng, nơi thỉnh thoảng ông ta vẫn nhìn thấy hình bóng người vợ thân yêu trong những đóa cúc quỳ. Đứa con gái lớn lên với nhiều ám ảnh vì bị bố mẹ bỏ rơi, luôn mặc định mình không gia đình.

Đứa con gái đó là tôi.

Một sự lãng quên thầm lắng, cháy đắng cay nồng... Mẹ của tôi là H’Pía. Giờ linh hồn Người phiêu du nơi chốn nào?!

Bên ngoài có tiếng la hét thất thanh. Qua kẽ những miếng ván trống hoác của căn nhà, tôi thấy lửa. Mọi người trong nhà đều chạy ra ngoài, Tượng-Thần nắm tay tôi kéo đi vội vã. Bàn tay nóng, ướt đẫm mồ hôi.

Căn nhà Rông to lớn cháy phừng phừng. Như một cây rìu lửa bổ lên trời xanh, mùi mục rỗng bị đốt nóng hăng hắc đáng sợ. H’Du đứng gần đó cười điên dại. Nhìn thấy tôi, bà ta không nói câu nào, phi lại như tên bắn, tay lăm lăm một thứ vũ khí nhìn như móng vuốt diều hâu. Đó chính là thủ phạm những vết cào của con ma cúc quỳ. Tôi run rẩy mò xuống túi đựng máy ảnh đeo bên hông, định rút máy ra chụp thì đã bị Tượng-Thần kéo đi. Tôi vẫn rút máy ảnh ra, bật nguồn chuẩn bị bấm. Tượng-Thần nhỡ đà đã chạy được một đoạn, chợt đứng khựng lại, hốt hoảng nhìn về phía tôi đang dần bị H’Du áp sát. Tôi nhắm mắt cam chịu một cái chết đến rất gần.

H’Pía, hoa của mày đây. – Người đàn bà điên trở nên dịu dàng, ánh mắt hiền từ.

Bỗng có tiếng súng nổ rất gần, H’Du ngã xuống. Một toán người chạy đến vây kín đám cháy. Bông cúc quỳ cài trên tóc rơi xuống theo dòng máu chảy ra từ ngực H’Du. Màu vàng pha đỏ trở nên lợm giọng. Tôi ngất lịm đi. Trong cơn mê man, thấy đôi mắt lo lắng của bố. Và kề bên tôi là khuôn ngực vạm vỡ của Tượng-Thần.

Anh là Tượng Thần à? – Tôi hỏi.

Không, anh là bộ đội thôi...

PHẠM PHƯƠNG

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
24 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 117874)
C húng tôi hãy còn rất trẻ. Tuổi trẻ không trông thấy trên khuôn mặt, trong đôi mắt, nhưng ở những giấc mơ không bao giờ tắt. Tết Giáp Tuất. Tôi về sống ngôi nhà của Quý, phía nam phần lục địa. Trái đất xoay như thỏi đá cứng, những cạnh gai góc cắt vào chốn vô hình. Mỗi trưa, tôi với Quý và Chiến - cũng một người bạn ở nhờ - bầy những tiệc rượu đón bắt những vô hình mà cả ba đều linh cảm rất rõ, theo sóng của cây rừng tràn đến tận thềm. Cả một triền núi lươn lướt tắp đến bàn rượu. Cơ ngơi của Quý to lớn sừng sững.
24 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 112565)
H ồ Đình Nghiêm, sinh ở Huế. Làm thuyền nhân trôi giạt qua Hồng-kông năm 1979. Định cư ở Montréal từ 1980. Viết lai rai cho hầu hết các tạp chí xuất bản tại hải ngoại, cộng tác với Hợp Lưu ngày từ số ra mắt. Đã in bốn tập truyện ngắn...Chưa hề trở lại cố quận đìu hiu.
24 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 147826)
Đừng đánh thức giấc mơ tôi trong lúc ngửa mặt lên trời hứng những giọt mưa đêm tháng chạp với hình ảnh duy nhất là đôi mắt em.
24 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 110857)
Ernest Miller Hemingway (21 tháng 7, 1899- 2 tháng 7, 1961) là một nhà văn, nhà báo Mỹ. Cách viết văn riêng biệt - biểu thị qua đặc điểm lối mô tả khiệm lời và khiêm nhường - cũng như những cuộc phiêu lưu và hình tượng công chúng của ông đã tạo nên nhiều ảnh hưởng cho nền văn chương hư cấu của thế kỷ thứ 20.
23 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 121545)
Chương trình phát thanh tiếng Việt hàng ngày của đài BBC, Anh Quốc, quen thuộc với người Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua, sẽ chính thức ngưng hoạt động sau buổi phát thanh cuối cùng vào Thứ Bảy 26 tháng 3 từ 14 giờ 30 đến 14 giờ 45 giờ quốc tế hay từ 9 giờ 30 đến 9 giờ 45 phút giờ Việt Nam.
22 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 99448)
Hoàng Chính chuyển ngữ từ Peeling trong tập truyện "The Fat Man in History" của Peter Carey. Peter Carey, tiểu thuyết gia người Úc, sinh ngày 7 tháng 5, 1943, hai lần đoạt giải Man Booker với các cuốn "Oscar and Lucinda" (1988) và "True History of the Kelly Gang" (2001). Hiện Peter Carey dạy đại học tại New York.
22 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 117627)
Những cái chết sau quá khứ về sau vẫn tiếp tục tiếp diễn mãi cho đến tận bây giờ. Những cái chết trên biển, bên kia biển, và bên này đất liền.
22 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 143903)
Tháng Mười chơi trò xếp đặt Những con rồng được tạc bằng xương người Những con rắn cong khô trên bếp than cời Dưới nền trời xám và khô Phố phường mạ bằng vàng mã Người người ướp lạnh.
22 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 108486)
T rước năm 1975, mỗi dịp Tết âm lịch, văn gia và dân chúng miền nam thường làm lễ kỷ niệm chiến thắng Tết Kỷ Dậu (31/1/1789) của Quang Trung Nguyễn Huệ (1753-1792). Đây là một trong những võ công vệ quốc lịch sử của dân tộc Việt chống lại âm mưu thôn tính của bắc phương từ ngày giành được độc lập năm 939–sau khi Ngô Quyền (898-944) phá quân Nam Hán ở sông Bạch Đằng (theo Nguyễn Trãi, còn gọi là sông Vân Cừ), khai sinh ra một vương quốc mới, tức Đại Việt (từ năm 1054) hay Việt Nam (từ năm 1804). (1)
22 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 107189)
Từ xưa đến nay, tình mẫu tử luôn là đề tài sáng tác vô tận cho thơ ca nói riêng và văn chương nghệ thuật nói chung. Một cách tự nhiên, Nguyễn Xuân Tường Vy đã chinh phục độc giả bằng chính những dòng viết giản dị, chân thật về tình cảm muôn thuở ấy.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3873)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13302)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19671)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18652)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1660)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1820)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2353)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2444)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1490)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2230)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1962)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 2014)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1397)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2445)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2648)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2389)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 267)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 825)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1059)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1143)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6438)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15908)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32168)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38872)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1504)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13905)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6924)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10739)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9978)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 10053)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10848)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3473)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11164)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10379)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi