- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Triết lý nghệ thuật trong thơ Á Nam Trần Tuấn Khải

26 Tháng Giêng 201212:00 SA(Xem: 126929)

a_nam_trantuankhai
 Á Nam Trần Tuấn Khải (1894-1983)

 
Á Nam Trần Tuấn Khải sinh năm 1894 tại làng Quan Xán, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định, mất năm 1983 tại Sài Gòn, thọ đúng 90 tuổi ta. Cuộc đời ông trải qua hầu hết những giai đoạn thăng trầm nhất, chứng kiến hầu hết những biến cố quan trọng nhất của lịch sử cận hiện đại Việt Nam. Ông cũng chứng kiến hầu hết những cuộc đổi thay của văn học hiện đại Việt Nam, từ sự ra đi của thơ Cũ đến sự xuất hiện của Phong trào thơ Mới, của Tự lực văn đoàn, đến các trường phái, trào lưu, khuynh hướng, chủ thuyết văn học cả tư bản và cộng sản gần suốt thế kỷ XX.

Những tưởng con người chứng kiến lắm sự đổi thay ấy sẽ phải có nhiều thay đổi trong cách cảm, cách nghĩ, trong nghệ thuật. Thế nhưng không. Ông xuất hiện là một nhà thơ Cũ, cho đến khi ra đi, ông vẫn là một nhà thơ Cũ. Điều đó khiến cho chúng ta không khỏi có những suy nghĩ về ông. Ông không thể đổi thay, hay ông không muốn thay đổi? Ông là người “chung tình” với nghệ thuật thơ Cũ, hay ông muốn trình bày một triết lý nghệ thuật của riêng mình?

Những đóng góp nghệ thuật chủ yếu của Á Nam Trần Tuấn Khải

Á Nam Trần Tuấn Khải là một trong những nhà thơ nổi tiếng nhất của văn chương Việt Nam đầu thế kỷ XX, trước khi có Phong trào Thơ Mới. Xuất thân trong một gia đình Nho học, đồng thời tiếp thu tư tưởng học vấn phương Tây, ông bước vào con đường nghệ thuật từ rất sớm. Ông bắt đầu sáng tác từ khi chưa đầy 20 tuổi. Năm 1921, ông cho xuất bản tập thơ đầu tiên Duyên nợ phù sinh, rồi sau đó là Duyên nợ phù sinh II năm 1923, Bút quan hoài và Hồn tự lập năm 1924, Bút quan hoài II và Hồn tự lập II năm 1927, Với sơn hà năm 1936, Với sơn hà II năm 1949… cùng nhiều sáng tác theo các thể loại khác như tiểu thuyết Gương bể dâu (1922), Hồn hoa (1925), Thiên thai lão hiệp (1935), và nhiều kịch bản, dịch phẩm, tản văn khác, từ những năm 20 cho đến những năm 80 của thế kỷ XX. Nhưng thành công nhất trong sáng tác của ông là trên lĩnh vực thơ ca.

Thơ Á Nam Trần Tuấn Khải dù qua bao đổi thay, mãi mãi dường như vẫn chỉ là thơ của những năm 20 của thế kỷ XX. Nội dung thơ ông chủ yếu nói về tình cha con, nghĩa vợ chồng, tình đồng chủng, nghĩa đồng bào, những thuỷ chung, tiết nghĩa, ân tình… mang đậm màu sắc đạo đức truyền thống. Sống trong thời kỳ đất nước bị thực dân Pháp đô hộ, thơ ông chứa đựng một cảm hứng yêu nước âm thầm được thể hiện qua những sáng tác về đề tài vịnh sử, hay gửi gắm trong các tác phẩm về đề tài sinh hoạt, như tả nỗi lòng cô gái gánh nước đêm trăng, niềm tâm sự của người vợ trẻ nhớ chồng chốn xa xôi, tâm sự của bác hát xẩm, của anh đồ, của người khách chốn bình khang, người khách sông Hương, hay cô hàng bán nước, cô gái nhà nông … Những bài thơ Tiễn chân anh khoá xuống tàu, Gánh nước đêm, Mong anh khoá, Gửi thư cho anh khoá, Nhắn khách sông Hương, Đêm đi tìm bạn, Chơi xuân, Hỡi cô bán nước… là những bài thơ chan chứa tình cảm thương nước. Nếu như tâm sự “Non Nước” là tâm sự yêu nước tiêu biểu trong thơ Tản Đà, và hình tượng “Non Nước” trở thành hình tượng đẹp nhất về lòng yêu nước âm thầm trong thơ của thi sĩ Tản Đà, thì trong thơ của Á Nam, ta cũng thường thấy xuất hiện tâm sự này. Nhưng Á Nam đã sáng tạo nên một hình tượng thơ khác, hình tượng “Anh Khoá”. Sự chia ly giữa Đất Nước với chủ nhân chân chính của nó là Nhân Dân được biểu tượng bằng sự chia ly giữa Non và Nước trong thơ Tản Đà, nay lại được biểu tượng bằng sự chia ly giữa Anh Khóa với người vợ trẻ trong thơ Á Nam. Sự chia ly ấy là do đâu và đến bao giờ, vẫn là điều day dứt trong tâm hồn mỗi người khi đọc lại thơ của hai ông. Có lẽ những hình tượng “Non Nước” và “Anh Khoá” đã trở thành những hình tượng điển hình, phổ biến nhằm ngấm ngầm bày tỏ lòng yêu nước thương nòi không chỉ của các nhà thơ, mà còn của đông đảo người Việt Nam mọi thời đại.

Bây giờ đọc lại thơ Á Nam Trần Tuấn Khải, nếu không đặt vào hoàn cảnh lịch sử của nó, chúng ta khó có sự đánh giá khách quan. Trong cái không khí ngột ngạt và tối tăm của đất nước sau khi các phong trào cần vương kháng Pháp thất bại, thì đây có thể là những âm thanh nghệ thuật được xem là trong trẻo và lành mạnh nhất. Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà nhiều bài thơ của ông, nhất là những bài thơ về “Anh Khoá” lại được độc giả nồng nhiệt chào đón, truyền tụng, yêu dấu. Và cũng không phải ngẫu nhiên mà những bài thơ ấy lại bị những kẻ cưỡng chiếm đất nước này, mà lúc đó là chính quyền thực dân, sợ hãi, cấm đoán.

Điểm đặc biệt về nghệ thuật là thơ của ông hoàn toàn làm theo lối cổ. Ông là một nhà thơ hoàn toàn Cũ. Các thể thơ thường được ông sử dụng là các thể thơ Đường cổ xưa: bát cú Đường luật, tứ tuyệt Đường luật, ngũ ngôn luật, thất ngôn trường thiên, thi ca liên hành, từ khúc… Bên cạnh đó, ông cũng thường sử dụng những thể thơ dân tộc như lục bát, song thất lục bát, thơ hát nói và nhiều thể thơ ca dân gian như hát xẩm, ngâm khúc, ca lý… Những thể thơ ca đó hoàn toàn không mới.

Có người nói rằng ông không có đóng góp gì đặc biệt cho sự phát triển của nghệ thuật thơ ca. Có người cho rằng nghệ thuật của ông không theo kịp được thời đại. Nếu nhìn qua, thì có phần đúng. Trong khoảng thời gian những năm 20 của thế kỷ trước, văn học Việt Nam đã bắt đầu có những biến chuyển quan trọng, chuẩn bị cho sự hình thành nền Văn học Mới với những tiểu thuyết, truyện ngắn theo xu hướng hiện đại như các tác phẩm của Phạm Duy Tốn, Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Bá Học… và đặc biệt là Hoàng Ngọc Phách với tiểu thuyết Tố Tâm. Bên những vần thơ, truyện ngắn, tiểu thuyết… tuy không mới về thể cách nhưng tràn trề nhiệt huyết và tinh thần cách mạng của Nguyễn Thượng Hiền, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh…, bên những nhà văn miệt mài tìm kiếm cách tân hình thức, hay bên cây bút tài hoa Tản Đà tuy được xem là nhà thơ Cũ nhưng có những cách tân tuyệt vời về thi từ và thi cú, là người được chính các nhà Thơ Mới “cung chiêu anh hồn” khi khai trương đài Thơ Mới, thì nghệ thuật thơ của Á Nam Trần Tuấn Khải dường như không thật ấn tượng, không thật đột xuất, không có cách tân. Điều đó càng rõ hơn sau khi Phong trào Thơ Mới rầm rộ chiếm lĩnh thi đàn Việt Nam.

Tuy nhiên, như chúng ta thấy, ông vẫn là một trong những nhà thơ nổi tiếng, có nhiều độc giả vào loại bậc nhất ở nửa đầu thế kỷ XX. Thơ của ông đi vào lòng người theo cách của nó, và phù hợp với tâm hồn một bộ phận đông đảo con người thời kỳ này. Thành công là bởi ông đã triệt để khai thác thế mạnh của những lời ca dân gian. Những bài thơ hay nhất của ông là những bài được viết theo phong cách của những lời ca dân gian. Có lẽ không có nhà thơ nào của đương thời đã ngân lên tiếng lòng của mình bằng những cung bậc của lời ca dân dã thành công bằng ông. Những bài thơ Đường luật của ông không thật ấn tượng. Nhưng những lời thơ lục bát, song thất lục bát, hát nói, những điệu hát xẩm, hát ví, sa mạc, ca lý… đã thực sự làm say đắm lòng người, nhất là lớp bình dân cả ở chốn thị thành lẫn nơi thôn dã. Nhớ Á Nam là người ta nhớ tới những bài thơ - ca mang tính dân gian ấy.

Bên những nhà thơ, nhà văn bắt đầu lần mò tìm kiếm những lối diễn đạt mới cho nhưng tư tưởng nghệ thuật mới, hay bên những nhà văn, nhà thơ diễn đạt những tinh thần mới của thời đại một cách mãnh liệt, ồn ào trong những thể cách thơ văn cũ, thơ ông thật hiền lành, lặng lẽ. Thế nhưng, ông đã lặng lẽ tự tạo cho mình một phong cách riêng, một lề lối thể hiện riêng, và một tư tưởng riêng, khiến cho nhớ tới ông là người ta phải nhớ tới một tiếng thơ riêng, nhớ tới những lời ca tha thiết, du dương và đầy quyến rũ. Nó cất lên trong trẻo trên bầu trời tối tăm vần vũ của xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX, và in sâu mãi vào tâm hồn người đọc.

Lặng lẽ, âm thầm và kiên trì cất lên tiếng hát trong trẻo gửi người phương xa trong nỗi buồn nhớ và mong ngóng, chính là hình ảnh của Á Nam không chỉ ở những năm 20 đầu thế kỷ XX, mà còn mãi sau này. Đó là một hình ảnh tưởng là quê cũ, nhưng trong bối cảnh ồn ào của những phong trào “Âu hoá”, “hiện đại hóa”, của những chủ thuyết và khuynh hướng đến từ Pháp, Liên Xô hay Mỹ… thì thật là lãng mạn. Có lẽ để đánh giá những đóng góp của ông vào lịch sử văn học dân tộc, chúng ta cần chú ý nhiều đến điều này, một điều tưởng rất bình thường dung dị, nhưng lại không phải ai cũng làm được, và nhất là không phải ai làm được một cách đầy ấn tượng như ông.

Á Nam Trần Tuấn Khải là một nhà thơ Cũ, từ bắt đầu cho tới kết thúc

Những điều trên là để nói tới một Á Nam Trần Tuấn Khải của những năm 20 cách đây ngót thế kỷ. Nhưng còn một Á Nam Trần Tuấn Khải trước những biến động vô thường của lịch sử gần trăm năm qua thì sao? Lật giở lại thơ văn ông, thật kỳ lạ, dường như ông không hề thay đổi sau hơn nửa thế kỷ sáng tác. Những tưởng điệu lục bát, điệu ca, điệu lý, điệu xẩm, điệu ví ấy… chỉ là nghệ thuật của ông ở những năm 20 trước khi có Phong trào Thơ Mới xuất hiện? Những tưởng khi Thơ Mới đã thắng thế và ngự trị trong đời sống thi ca Việt Nam thì không còn chỗ cho những điệu Thơ Cũ đó nữa? Những tưởng sau bao tháng năm sống hết dưới chế độ “thực dân cũ” lại đến chế độ “thực dân mới”, rồi chế độ “xã hội chủ nghĩa”..., tiếp xúc với bao trường phái văn học từ “lãng mạn” đến “hiện thực”, từ “hiện đại” đến “hiện sinh”, từ “nô dịch” tới “cách mạng”..., thơ ông phải đổi thay đi, phải Mới lên?
 
Thế nhưng, chúng ta vẫn chỉ thấy một Á Nam Trần Tuấn Khải không hề thay đổi. Đọc Với sơn hà I, xuất bản chính khi Phong trào Thơ Mới toàn thịnh năm 1936, chúng ta vẫn thấy ông lặng lẽ thả những dòng Đường luật, và nhất là vẫn ngân nga những câu lục bát, song thất lục bát, những điệu hát nói, những lời ca lý, xẩm, ví… cũ về những đề tài rất cũ, cả Khi tỉnh giấc, lúc Nghe người hàng xóm khóc, khi Trời mưa hỏi cô hàng gánh, lúc Cùng bạn văn học, Viết bức thư đêm… cho đến Với sơn hà II in năm 1949 cũng vẫn thế. Hay những bài thơ viết mãi sau này, gần cuối thế kỷ XX, như bài Mong tri kỷ viết năm 1970, Xuân Giáp dần viết năm 1974, Mừng xuân ất mão viết năm 1975… Và nhất là bài Mừng anh khoá về viết năm 1975, sau ngày đất nước hết cảnh chia ly, ta hoàn toàn bất ngờ khi gặp lại một Á Nam Trần Tuấn Khải dường như vẫn là một Á Nam của những năm 20 cách đó hơn nửa thế kỷ!

Năm 1914, khi mới vừa 20 tuổi, ông đã ví cảnh nước mất như sự chia lìa giữa người vợ với người chồng, giống như cảnh Nước - Non đôi ngả trong thơ Tản Đà, khi ông hoá thân trong vai một người vợ trẻ Tiễn chân anh khoá xuống tàu mà lòng ngơ ngác buồn:

Anh khoá ơi! Em tiễn chân anh xuống tận bến tàu
Đôi tay em đỡ cái khăn trầu, em lấy đưa anh…
Anh khoá ơi! Chữ tương tư vai gánh nặng nề
Giang hồ anh sớm liệu trở về kẻo nữa em mong…

Hơn 60 năm sau, năm 1975, ngay sau khi Nam – Bắc tái hợp, trong vai người vợ sau bao nhiêu năm mòn mỏi chờ chồng, ông nghĩ đó là một sự tái hợp, nên ông Mừng anh khoá về với nỗi mừng vui đến ngỡ ngàng, ngượng ngập và vẹn nguyên trẻ trung, xúc động:

Anh khoá ơi! Nhớ từ khi em tiễn chân anh xuống tận bến tàu
Mấy mươi năm đằng đẵng em những ôm sầu trông đợi tin anh…

Lúc đó, Á Nam xem sự tái hợp Nam – Bắc là một sự trở về của Non và Nước, của Đất Nước và Nhân Dân. Có lẽ sự liên tưởng nào về mặt nội dung của thơ ca cũng ít nhiều là gán ghép. Nhưng điều chúng ta thấy ở nghệ thuật thơ của Á Nam một thực tế khó phủ nhận, rằng, trong khi nhân tình biến đổi, thế cuộc vần xoay, và các hình thức nghệ thuật ào ào tiến lên phía trước, thì, hình như một mình Á Nam Trần Tuấn Khải vẫn đứng lại với thời xa vắng. Ông vẫn đắm mình trong những câu ca, điệu lý, giọng xẩm cổ xưa. Đọc những vần thơ của ông viết bây giờ (tức là những năm 70, 80 của thế kỷ XX), so với những vần thơ ông viết của hơn 60 năm trước, mà thấy dường như âm điệu không hề thay khác. Chúng ta bỗng nhận ra rằng, ông thật là lãng mạn. Ông vẫn như người vợ trẻ thuỷ chung chờ đợi “Anh Khoá” thuở nào, ông vẫn chung tình với những lời ca dẫu là rất Cũ nhưng thật trong trẻo, tha thiết và quyến rũ của “buổi ban đầu lưu luyến ấy”. Hỏi trong văn học của chúng ta, có mấy ai lãng mạn được như thế? Lãng mạn đâu phải chỉ là đuổi theo những mối tình mới. Lãng mạn có khi còn là ôm mãi một mối tình xưa cũ chẳng tàn phai. Và đến đây, hình tượng “Anh Khoá” sau hơn nửa thế kỷ dường như lại có thêm một ý nghĩa mới, không phải chỉ là cái hình tượng bày tỏ lòng yêu nước thương nòi trong sự chia ly có phần ai oán, não nề của Non và Nước, của Anh Khóa và người vợ trẻ, mà dường như vẫn ngấm ngầm bày tỏ niềm tin sắt đá về một ngày đoàn tụ nhất định sẽ đến sau những phong ba, bão táp của thế cuộc?

Sự “chung tình” hay một triết lý nghệ thuật?

Đọc thơ ông, buộc lòng người ta phải đặt ra câu hỏi: Ông không có khả năng thay đổi? Hay ông không muốn thay đổi? Theo chúng tôi, hình như ông là người không muốn đổi thay. Ông mãi chung thuỷ với những vần thơ Cũ. Ông mãi là một nhà thơ Cũ giữa thời đại thơ Mới, giữa thời “hiện đại”, hay thậm chí “hậu hiện đại”. Bản thân sự việc đó chẳng nói lên điều gì hay sao? Cũng có thể ông không theo kịp thời đại như có người quan niệm. Cũng có thể ông bảo thủ và cố chấp. Nhưng chúng tôi không cho là như vậy. Và ông không có lý gì phải như vậy. Chúng tôi cho rằng, bằng nghệ thuật của mình, và bằng cả cuộc đời của mình, ông muốn trình bày một triết lý nghệ thuật mà ông kiên trì bảo vệ, rằng:
Không phải mọi cái Mới đều có giá trị và mọi cái Cũ đều vô giá trị. Mọi cái Mới rồi cũng sẽ Cũ, nhưng cái Cũ mà vẫn được chào đón thì nó là luôn luôn Mới. Hướng về dân tộc là một việc nên làm. Nguyễn Du học tiếng nói của người trồng dâu trồng gai trong những lời ca nơi thôn dã (“Thôn ca sơ học tang ma ngữ” – Thanh minh ngẫu hứng) để làm nên Truyện Kiều, thì ông cũng học tiếng ca của nhân dân lao động trong câu ví, điều xẩm, điệu lý để làm nên sức sống cho thơ ca của mình ngay cả khi phong trào “Âu hoá”, “Tây hoá”, “ngoại hoá” đã thành thời thượng trong văn hoá và văn học.
Trong cái thế giới lắm đổi thay thì không thay đổi cũng là một triết lý sinh tồn. Trong cái biến ảo khôn lường của nhân thế, khi vạn vật dường như chỉ còn là một “sát na”, một “điện ảnh” rồi tan biến vào hư không, ông muốn tìm tới chỗ “thường trụ” cho nghệ thuật của mình, đó chính là tiếng thơ, là âm thanh của dân tộc. Điều đó phải chăng là không mới, khi nó đã được kiểm định trong những hoàn cảnh vô cùng khắc nghiệt của văn học hiện đại Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua? Thơ ông đã vượt qua được hoàn cảnh đó. Nó đâu chỉ là lời ca tương hợp với tiếng lòng của con người trong một cung đoạn của lịch sử xa xưa, mà nó còn có thể tương hợp với tiếng lòng của không ít con người bây giờ, nhất là trong thời buổi mà Nhân Dân vẫn mải miết tìm kiếm vai trò chủ nhân của mình với Đất Nước mình, khi mà đời sống văn hoá, đời sống nghệ thuật dân tộc có nhiều dấu hiệu của một sự khủng hoảng, khi mà lơ lửng treo trước mắt nhiều nghệ sĩ bây giờ một câu hỏi chưa hẳn đã được trả lời rốt ráo: “Nghệ thuật của chúng ta đang đi về đâu?”
Tuy nhiên, sự “chung tình” một cách cố ý, thậm chí cố chấp của Á Nam Trần Tuấn Khải không phải bao giờ cũng thành công, nếu không muốn nói rằng nhiều khi thơ ông rơi vào lạc lõng trong thế giới đầy cách tân và thay đổi này. Nhưng ông đã khiến mọi người nghĩ ông đúng là như thế. Và như thế, phải chăng ông đã thành công? Nếu trầm lắng đọc thơ ông, chúng ta sẽ có thể ngộ ra nhiều điều thú vị. Dường như đấy là một triết lý nghệ thuật, thậm chí, một triết lý văn hoá! Theo cách mà Á Nam Trần Tuấn Khải thể hiện thì có thể hiểu, cái mà mọi sự đổi thay, cách tân, hiện đại cần phải dựa vào để tồn tại, chính là truyền thống dân tộc, chính là Dân tộc. Và trầm lắng dưới những dòng thơ hoài cổ của ông, ta vẫn thấy ngân lên thao thiết khát vọng xum vầy của Non và Nước, của Đất Nước và Nhân Dân.

Nguyễn Phạm Hùng
(Đại học Quốc gia Hà Nội)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Ba 202611:11 CH(Xem: 7828)
Xin thưa ngay, “Giáo chủ” đang nói tới đây không nhằm nói về một nhân vật cụ thể, ở một xứ sở cụ thể nào. Và động lực để hắn có đủ lòng dũng cảm (vâng, cần tới lòng dũng cảm) để viết những dòng tạm gọi là “truyện ngắn” cho lành này, chính là tâm sự của một người mẹ - bạn gái hắn, kể với tay nhà báo quèn về chuyện đã “mất” đứa con gái duy nhất tên là MTT cho một đấng “Giáo chủ” cùng hệ thống giáo lý và cái “Thiên đường” của ông ta ra sao…
14 Tháng Ba 202610:45 CH(Xem: 8413)
đưa em về qua chợ / bến đò đầy khách rồi / bữa hôm trời trở gió / tháng giêng hai đến rồi
14 Tháng Ba 202610:34 CH(Xem: 8995)
Ở miền sông nước Hậu Giang, nơi những con rạch nhỏ lặng lẽ chảy qua vườn dừa, vườn khóm, người ta vẫn nhớ về một cô gái có nụ cười “tỏa nắng” như nắng tháng Ba phương Nam. Cô tên là Mai Thị Ngọc Linh.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 9348)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
28 Tháng Hai 20263:32 SA(Xem: 6438)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
28 Tháng Hai 20262:58 SA(Xem: 7267)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 11618)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
19 Tháng Hai 202611:49 CH(Xem: 9025)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 10266)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 12653)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 641)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11077)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17722)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16775)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 441)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 516)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 2052)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 2567)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
(Xem: 384)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 2440)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 2199)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 2793)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 1041)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 1113)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 1652)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 2430)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
09 Tháng Tám 2026(Xem: 258)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 247)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 1727)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 2275)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 3101)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14426)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30498)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36777)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12201)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13535)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 3968)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 6003)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 5484)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 6045)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 6691)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 9004)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 8299)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11237)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.