- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,580,227

Trương Chi

21 Tháng Giêng 201212:00 SA(Xem: 95043)

truongchi

“Ai đi qua bến giang đầu tha thiết, nghe sông than mối tình Trương Chi…” (Trương Chi- Văn Cao)


LTS: Nguyễn Thi Quyên, hiện là Nghiên cứu sinh ngành Văn học so sánh tại Đại học Strasbourg, Cộng Hòa Pháp. Câu chuyện về Trương Chi đã được tác giả viết trong một đêm mưa như gửi tiếng lòng về với quê hương xa xôi.Tạp chí Hợp Lưu trân trọng giới thiệu “Trương Chi” đến cùng quí độc giả và văn hữu khắp nơi.
Tạp Chí Hợp Lưu

Hoàng hôn rắc một lớp bụi màu tím sẫm trên mặt sông. Gió đã chuyển hướng từ nam sang đông, mang theo hơi nước mát lạnh. Trăng non đầu tháng đã lên tự bao giờ, mỏng như một chiếc lá lúa đang thì con gái, xanh và trong suốt. Sông Cải mùa này nước trong hơn nhưng cạn hơn. Anh thò tay vốc một vốc nước, rồi để dòng nước chảy qua kẽ tay, rơi xuống bàn chân cô.
- Anh này... Làm ướt hết cả người ta rồi- Cô kêu lên, giọng hờn dỗi
- Đâu có. Anh chỉ rửa chân cho em thôi...
- Chỉ khéo chống chế... Cô mỉm cười- Ta về thôi anh. Trẻ chăn trâu về hết rồi. Mẹ mắng em chết. Bảo là ra sông giặt áo, vậy mà ngồi mãi từ nãy đến giờ...
- Thôi nào, một chút nữa thôi. Trời chưa tối mà...
Cô nhìn anh, rồi nhìn mặt sông. Chẳng biết từ bao giờ, người ta gọi dòng sông bằng cái tên “ Sông Cải”. Cũng chẳng biết từ bao giờ, người làng trồng cải bên sông. Khi cải trổ hoa, hai bờ sông rực vàng, lũ bướm từ đâu kéo về. Chúng vờn hoa, rồi vờn hoa. Hết mùa hoa, chúng lại kéo nhau đi, để lại những nàng hoa ủ rũ thai nghén những hạt cải non.
Nếu anh không nói thì cô chẳng biết dòng sông này còn mang một cái tên rất đẹp, rất thơ nữa: Vân Giang- dòng sông mây. Đối với cô, cái tên đó thật xa lạ, xa lạ như những câu chuyện mà anh vẫn kể những đêm trăng sáng.
Trăng đã lên cao. Ánh sáng non nớt nhưng cũng đủ lấp lánh cả một khúc sông. Cô chạm khẽ vào tay anh, thì thào
- Ta về thôi anh. Em sợ
- Ừ...ta về thôi...
*
Trăng đã lên. Trăng rằm tròn vành vạnh. Trương Chi đẩy thuyền lên mạn trên. Gió tây thổi lồng lộng. Xa xa, xóm làng yên ắng. Chỉ có tiếng chó cắn ma chốc chốc theo gió đưa tới. Dải núi Vu trầm mặc vắt ngang bầu trời trong như hổ phách. Ra đến giữa dòng, Trương Chi cất tiếng hát, như hàng đêm vẫn vậy.
Hò ơ
Trăng trăng cao
Ta lướt mái chèo
Gió reo
Sóng reo
Bốn bề quạnh hiu
Ta lướt mái chèo
Sương ngấn lệ gieo
Đêm cô liêu
Hò ơ...
Thương ai mắt hoen sầu
Tiếng hát tan ra trên mặt sông loang loáng ánh trăng, lẫn với tiếng mái chèo khua nước nhẹ nhàng. Đêm nay cũng như mọi đêm, Trương Chi quăng lưới và hát. Nhưng đêm nay không như mọi đêm, lòng chàng nặng trĩu. Chàng nhìn ánh trăng tan dưới mái chèo của mình, rồi ngước nhìn mặt trăng xanh buồn bã, tự nhủ: “ Trăng sao giống nàng, kiều diễm và buồn bã. Ước gì ta có thể làm tan biến nỗi buồn ấy...”. Chàng hướng mắt lên phía tây, xa xa là lâu đài của nàng, ánh đèn vẫn sáng kiêu sa. Đêm nay nàng có nhìn trăng không? Nàng có nghe ta hát không. Này là khúc tương tư...

*
- Có đúng là Trương Chi đã hát khúc hát đó không? – Nàng đã hỏi anh câu hỏi ấy không biết bao nhiêu lần. Và lần nào cũng vậy, anh không trả lời, chỉ ngước đôi mắt buồn bã nhìn nàng. Đôi mắt thật đẹp và thật buồn. Thỉnh thoảng chúng ánh lên vẻ lo âu thoảng thốt. Nàng cảm thấy như vậy. Nàng không nhớ từ bao giờ nàng bắt đầu biết đọc những câu trả lời trong mắt anh.
Nàng biết anh từ lúc nàng mới sinh ra. Có lẽ vậy. Hai nhà chung một lối cổng. Anh mất mẹ, sống với cha và mẹ kế. “ Mấy đời bánh đúc có xương...”, mẹ nàng vẫn nói vậy mỗi khi nghe dì ghẻ anh la mắng con riêng của chồng. Anh lớn lên, lầm lũi như một cái bóng. Có người bảo anh lì lợm, vì chẳng bao giờ anh trò chuyện với ai. Không bạn bè, cũng đúng thôi, vì anh đâu có thời gian để chạy chơi với chúng, không thả diều, không bắn chim. Hết tiết học ở trường, hôm thì xách giỏ ra đồng, hôm thì canh lũ vịt. Mười lăm tuổi mà anh chẳng cao hơn được cánh cổng gỗ mở sang nhà nàng. Hồi bé, nàng và lũ bạn lít nhít hay leo lên cây ổi, dòm qua vườn nhà anh, canh chừng nếu không có người thì lẻn qua hái trộm dâu chín. Thế nhưng lần nào cũng thấy anh ngồi đọc sách dưới tán dâu. Mấy đứa vừa sợ vừa ghét ánh mắt lạnh lùng của anh, thường thè lưỡi ra chọc giận rồi tụt khỏi cây ổi bỏ chạy, cười vang cả xóm.
Ấy thế mà không biết từ khi nào, anh trở thành một phần trong một ngày của nàng. Nàng đi học, anh chạy đến tận trường bằng chiếc xe đạp Nhật cũ mua lại của ông chú bằng tiền anh bán cua suốt mấy năm. Sáng đi học, chiều giúp cha và dì việc đồng áng, tối anh lọ mọ xách đèn ra ruộng tìm bắt cua. Sáng ra, mang cua bán cho người đi chợ trước khi tới trường, ngày nào anh cũng có mấy nghìn đồng. Dì anh định lấy luôn số tiền đó, nhưng sợ chồng, nên mặc kệ anh. Thế là năm nàng học lớp mười và anh học lớp mười hai, anh đã có xe đạp. Và nàng, dù đã được mẹ mua cho một chiếc mới toanh vẫn thích ngồi xe của anh. Bạn bè trêu, nàng không đỏ mặt. Thì sao chứ, anh nghèo thật, không đẹp trai nhưng chăm chỉ và học giỏi. Và nàng biết rằng với anh, nàng có nhiều ý nghĩa hơn cả một người bạn gái. Nàng là người duy nhất anh kể truyền thuyết Trương Chi và là người duy nhất anh hát cho nghe khúc ca ai oán của chàng ngư phủ.
*
Trăng đã biến mất. Gió đổi hướng đông, đẩy thuyền ngược lên mạn trên. Trương Chi cố ghì mái chèo. Mây ùn ùn kéo đặc cả bầu trời đêm. Mặt sông trong chốc lát tối sầm lại. Sóng cuộn lên, đánh tới tấp vào mạn thuyền. “ Đêm mai, ngươi phải ghé vào bờ, chỗ bãi cải đang trổ hoa kia. Nhớ là phải che mặt lại”. Người thị nữ ấy đã vội vã nói và vội vã đi, không thèm nhìn mặt chàng. Trương Chi biết là nàng phái người ấy đến. Hẳn là nàng muốn nghe chàng hát. Nhưng chẳng phải là nàng không muốn gặp chàng hay sao. Nàng đã quay đi kinh hãi khi nhìn thấy chàng hôm đó cơ mà. Và chẳng phải người ta bảo rằng chàng phải ra đi, không được quay lại khúc sông này nữa. Và chẳng phải lúc này chàng đang phải ra đi, để nàng vừa lòng, cũng như chàng đã phải đến trước đây, để thoả ý nàng sao?
Không. Trương Chi không muốn đến. Chàng không muốn con tim nhỏ bé của mình phải quặn lên khi phải hát trước mặt nàng. Và hẳn là, nàng sẽ đưa tay che mắt. Ai hiểu được chàng không? Gió thổi mạnh quá. Thuyền chao trên sóng. Trương Chi mệt mỏi ngồi bệt xuống sàn thuyền. Một tiếng sấm rền vang, liền đó, ánh chớp xé ngang mặt sông. Mưa ào ào trút xuống. Người ngư phủ ngửa mặt lên, hứng lấy những hạt mưa như những nhát roi quất. Chàng cất tiếng hát...
*
- Trăng thật là đẹp, anh nhỉ- Nàng phá tan im lặng. Ngày mai anh đi rồi, nàng không muốn anh đi với một tâm trạng nặng nề
- Trăng lúc nào cũng đẹp- Anh nói- Và buồn, và cô đơn...
- Thôi nào anh... Sang đó nhớ giữ sức khoẻ. Nhớ em thì cũng thỉnh thoảng viết thư thôi, đừng gọi điện thoại kẻo tốn tiền. Nghe nói gọi điện từ nước ngoài về tốn tiền lắm...
Anh im lặng. Lại hai năm nữa trôi qua. Nàng đã mười tám tuổi, đẹp như bông sen trong ao làng. Còn anh, anh sắp đi xa, đến một nơi mà anh chưa đến, để làm việc trong một nhà máy hay một công ty nào đó, để kiếm tiền. Cha và dì anh đã phải đi vay mấy chục triệu đồng chạy cho anh đi xuất khẩu lao động là mong anh kiếm được nhiều tiền. Anh cũng mong vậy. Kiếm được tiền, anh có thể học lên đại học. Và hơn nữa, anh được gần nàng. Năm nay nàng cũng sẽ vào đại học.
- Anh hát khúc Trương Chi đi
- Em muốn nghe ư?- Anh ngạc nhiên. Có lần nàng đã bảo anh đừng hát, vì khúc đó “ buồn làm sao” ấy
- Vâng, anh hát đi...
Anh ngắt một ngọn cỏ đưa lên môi. Mùi cỏ hăng hắc. Anh nhìn nàng rồi nhìn ánh trăng lấp lánh trên mặt sông. Anh cất tiếng hát

Hò ơ...
Đêm đêm trôi
Trăng chơi vơi
Gió than khúc ngậm ngùi
Sầu giăng tơ
Mộng giăng tơ
Cành theo gió phất phơ
Hò ơ...
Ai buông tóc bơ phờ
*
Sau một đêm mưa như trút, ngôi làng tỉnh giấc dưới ánh mặt trời chói gắt. Mọi người kháo nhau về điềm dữ sắp xảy ra. Chứ còn gì nữa, trời đất bất thường đến thế. Ở cái xứ sở này, có bao giờ mưa mùa đông lại có sấm rền chớp loé. Lại nữa, mặt trời chói gắt thế kia, chắc chắn có tai hoạ.
Quả nhiên là tai hoạ. Ông Cả Tuần chủ bãi cải ven sông đi thăm đồng về với khuôn mặt tái nhợt. ông chạy đi tìm tuần đinh, báo rằng có xác người chết trên ruộng cải nhà ông. Tuần đinh và dân làng kéo nhau ra bãi. Người ta nhận thấy đó là xác anh ngư phủ vẫn kéo lưới ở khúc sông chảy qua làng mấy tuần trăng nay. Thỉnh thoảng, các cô gái trong làng vẫn kháo nhau rằng anh ta hát rất hay. Con người xấu xí nằm chết trên ruộng cải. Mọi người kháo ầm lên. Người thì bảo anh ta bị giết. Người thì bảo anh ta chết đói và chết rét. Nhưng trên ruộng cải bị quần nát một góc, dấu vết rõ ràng hằn trên đó là của hai người. Chắc hẳn họ đã vật lộn rất lâu, vì những cây cải ngồng bị dập nát be bét, lẫn vào bùn nhão. Điều lạ là, trong mấy dấu chân để lại, người ta nhận thấy rõ vết hài phụ nữ.

*
Anh đi được ba năm thì nàng lấy chồng. Nàng có vào đại học và yêu một vài chàng trai thị thành. Họ dạy nàng cách hôn. Người cuối cùng là con trai một cán bộ cao cấp trong chính quyền thành phố. Ngày cưới nàng vào mùa hoa cải. Sắc vàng như lụa trải suốt bãi sông dài. Lũ bướm lại dập dờn kéo đến cùng vũ điệu lả lướt của chúng.
*
Trong câu chuyện anh kể cho nàng về chàng ngư phủ, hai tháng sau cái chết của Trương Chi, Mỵ Nương cũng lấy chồng. Và nàng sinh con bảy tháng sau đó, một đứa trẻ xấu xí không giống mẹ chút nào.

Nguyễn Thị Quyên

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1131)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1193)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1884)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5915)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5893)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13232)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30158)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81259)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20273)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
24 Tháng Chín 20216:27 CH(Xem: 399)
Cây chi cây lạ lùng / Không cành cũng không lá / Toàn những thân với thân! / Mà thân thì dựng ngược / A plant that is so strangely amazing / Which has neither branches nor leaves growing / It has only body upon body growing about / And each body is growing upside down