- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,538,532

Trương Chi

21 Tháng Giêng 201212:00 SA(Xem: 93832)

truongchi

“Ai đi qua bến giang đầu tha thiết, nghe sông than mối tình Trương Chi…” (Trương Chi- Văn Cao)


LTS: Nguyễn Thi Quyên, hiện là Nghiên cứu sinh ngành Văn học so sánh tại Đại học Strasbourg, Cộng Hòa Pháp. Câu chuyện về Trương Chi đã được tác giả viết trong một đêm mưa như gửi tiếng lòng về với quê hương xa xôi.Tạp chí Hợp Lưu trân trọng giới thiệu “Trương Chi” đến cùng quí độc giả và văn hữu khắp nơi.
Tạp Chí Hợp Lưu

Hoàng hôn rắc một lớp bụi màu tím sẫm trên mặt sông. Gió đã chuyển hướng từ nam sang đông, mang theo hơi nước mát lạnh. Trăng non đầu tháng đã lên tự bao giờ, mỏng như một chiếc lá lúa đang thì con gái, xanh và trong suốt. Sông Cải mùa này nước trong hơn nhưng cạn hơn. Anh thò tay vốc một vốc nước, rồi để dòng nước chảy qua kẽ tay, rơi xuống bàn chân cô.
- Anh này... Làm ướt hết cả người ta rồi- Cô kêu lên, giọng hờn dỗi
- Đâu có. Anh chỉ rửa chân cho em thôi...
- Chỉ khéo chống chế... Cô mỉm cười- Ta về thôi anh. Trẻ chăn trâu về hết rồi. Mẹ mắng em chết. Bảo là ra sông giặt áo, vậy mà ngồi mãi từ nãy đến giờ...
- Thôi nào, một chút nữa thôi. Trời chưa tối mà...
Cô nhìn anh, rồi nhìn mặt sông. Chẳng biết từ bao giờ, người ta gọi dòng sông bằng cái tên “ Sông Cải”. Cũng chẳng biết từ bao giờ, người làng trồng cải bên sông. Khi cải trổ hoa, hai bờ sông rực vàng, lũ bướm từ đâu kéo về. Chúng vờn hoa, rồi vờn hoa. Hết mùa hoa, chúng lại kéo nhau đi, để lại những nàng hoa ủ rũ thai nghén những hạt cải non.
Nếu anh không nói thì cô chẳng biết dòng sông này còn mang một cái tên rất đẹp, rất thơ nữa: Vân Giang- dòng sông mây. Đối với cô, cái tên đó thật xa lạ, xa lạ như những câu chuyện mà anh vẫn kể những đêm trăng sáng.
Trăng đã lên cao. Ánh sáng non nớt nhưng cũng đủ lấp lánh cả một khúc sông. Cô chạm khẽ vào tay anh, thì thào
- Ta về thôi anh. Em sợ
- Ừ...ta về thôi...
*
Trăng đã lên. Trăng rằm tròn vành vạnh. Trương Chi đẩy thuyền lên mạn trên. Gió tây thổi lồng lộng. Xa xa, xóm làng yên ắng. Chỉ có tiếng chó cắn ma chốc chốc theo gió đưa tới. Dải núi Vu trầm mặc vắt ngang bầu trời trong như hổ phách. Ra đến giữa dòng, Trương Chi cất tiếng hát, như hàng đêm vẫn vậy.
Hò ơ
Trăng trăng cao
Ta lướt mái chèo
Gió reo
Sóng reo
Bốn bề quạnh hiu
Ta lướt mái chèo
Sương ngấn lệ gieo
Đêm cô liêu
Hò ơ...
Thương ai mắt hoen sầu
Tiếng hát tan ra trên mặt sông loang loáng ánh trăng, lẫn với tiếng mái chèo khua nước nhẹ nhàng. Đêm nay cũng như mọi đêm, Trương Chi quăng lưới và hát. Nhưng đêm nay không như mọi đêm, lòng chàng nặng trĩu. Chàng nhìn ánh trăng tan dưới mái chèo của mình, rồi ngước nhìn mặt trăng xanh buồn bã, tự nhủ: “ Trăng sao giống nàng, kiều diễm và buồn bã. Ước gì ta có thể làm tan biến nỗi buồn ấy...”. Chàng hướng mắt lên phía tây, xa xa là lâu đài của nàng, ánh đèn vẫn sáng kiêu sa. Đêm nay nàng có nhìn trăng không? Nàng có nghe ta hát không. Này là khúc tương tư...

*
- Có đúng là Trương Chi đã hát khúc hát đó không? – Nàng đã hỏi anh câu hỏi ấy không biết bao nhiêu lần. Và lần nào cũng vậy, anh không trả lời, chỉ ngước đôi mắt buồn bã nhìn nàng. Đôi mắt thật đẹp và thật buồn. Thỉnh thoảng chúng ánh lên vẻ lo âu thoảng thốt. Nàng cảm thấy như vậy. Nàng không nhớ từ bao giờ nàng bắt đầu biết đọc những câu trả lời trong mắt anh.
Nàng biết anh từ lúc nàng mới sinh ra. Có lẽ vậy. Hai nhà chung một lối cổng. Anh mất mẹ, sống với cha và mẹ kế. “ Mấy đời bánh đúc có xương...”, mẹ nàng vẫn nói vậy mỗi khi nghe dì ghẻ anh la mắng con riêng của chồng. Anh lớn lên, lầm lũi như một cái bóng. Có người bảo anh lì lợm, vì chẳng bao giờ anh trò chuyện với ai. Không bạn bè, cũng đúng thôi, vì anh đâu có thời gian để chạy chơi với chúng, không thả diều, không bắn chim. Hết tiết học ở trường, hôm thì xách giỏ ra đồng, hôm thì canh lũ vịt. Mười lăm tuổi mà anh chẳng cao hơn được cánh cổng gỗ mở sang nhà nàng. Hồi bé, nàng và lũ bạn lít nhít hay leo lên cây ổi, dòm qua vườn nhà anh, canh chừng nếu không có người thì lẻn qua hái trộm dâu chín. Thế nhưng lần nào cũng thấy anh ngồi đọc sách dưới tán dâu. Mấy đứa vừa sợ vừa ghét ánh mắt lạnh lùng của anh, thường thè lưỡi ra chọc giận rồi tụt khỏi cây ổi bỏ chạy, cười vang cả xóm.
Ấy thế mà không biết từ khi nào, anh trở thành một phần trong một ngày của nàng. Nàng đi học, anh chạy đến tận trường bằng chiếc xe đạp Nhật cũ mua lại của ông chú bằng tiền anh bán cua suốt mấy năm. Sáng đi học, chiều giúp cha và dì việc đồng áng, tối anh lọ mọ xách đèn ra ruộng tìm bắt cua. Sáng ra, mang cua bán cho người đi chợ trước khi tới trường, ngày nào anh cũng có mấy nghìn đồng. Dì anh định lấy luôn số tiền đó, nhưng sợ chồng, nên mặc kệ anh. Thế là năm nàng học lớp mười và anh học lớp mười hai, anh đã có xe đạp. Và nàng, dù đã được mẹ mua cho một chiếc mới toanh vẫn thích ngồi xe của anh. Bạn bè trêu, nàng không đỏ mặt. Thì sao chứ, anh nghèo thật, không đẹp trai nhưng chăm chỉ và học giỏi. Và nàng biết rằng với anh, nàng có nhiều ý nghĩa hơn cả một người bạn gái. Nàng là người duy nhất anh kể truyền thuyết Trương Chi và là người duy nhất anh hát cho nghe khúc ca ai oán của chàng ngư phủ.
*
Trăng đã biến mất. Gió đổi hướng đông, đẩy thuyền ngược lên mạn trên. Trương Chi cố ghì mái chèo. Mây ùn ùn kéo đặc cả bầu trời đêm. Mặt sông trong chốc lát tối sầm lại. Sóng cuộn lên, đánh tới tấp vào mạn thuyền. “ Đêm mai, ngươi phải ghé vào bờ, chỗ bãi cải đang trổ hoa kia. Nhớ là phải che mặt lại”. Người thị nữ ấy đã vội vã nói và vội vã đi, không thèm nhìn mặt chàng. Trương Chi biết là nàng phái người ấy đến. Hẳn là nàng muốn nghe chàng hát. Nhưng chẳng phải là nàng không muốn gặp chàng hay sao. Nàng đã quay đi kinh hãi khi nhìn thấy chàng hôm đó cơ mà. Và chẳng phải người ta bảo rằng chàng phải ra đi, không được quay lại khúc sông này nữa. Và chẳng phải lúc này chàng đang phải ra đi, để nàng vừa lòng, cũng như chàng đã phải đến trước đây, để thoả ý nàng sao?
Không. Trương Chi không muốn đến. Chàng không muốn con tim nhỏ bé của mình phải quặn lên khi phải hát trước mặt nàng. Và hẳn là, nàng sẽ đưa tay che mắt. Ai hiểu được chàng không? Gió thổi mạnh quá. Thuyền chao trên sóng. Trương Chi mệt mỏi ngồi bệt xuống sàn thuyền. Một tiếng sấm rền vang, liền đó, ánh chớp xé ngang mặt sông. Mưa ào ào trút xuống. Người ngư phủ ngửa mặt lên, hứng lấy những hạt mưa như những nhát roi quất. Chàng cất tiếng hát...
*
- Trăng thật là đẹp, anh nhỉ- Nàng phá tan im lặng. Ngày mai anh đi rồi, nàng không muốn anh đi với một tâm trạng nặng nề
- Trăng lúc nào cũng đẹp- Anh nói- Và buồn, và cô đơn...
- Thôi nào anh... Sang đó nhớ giữ sức khoẻ. Nhớ em thì cũng thỉnh thoảng viết thư thôi, đừng gọi điện thoại kẻo tốn tiền. Nghe nói gọi điện từ nước ngoài về tốn tiền lắm...
Anh im lặng. Lại hai năm nữa trôi qua. Nàng đã mười tám tuổi, đẹp như bông sen trong ao làng. Còn anh, anh sắp đi xa, đến một nơi mà anh chưa đến, để làm việc trong một nhà máy hay một công ty nào đó, để kiếm tiền. Cha và dì anh đã phải đi vay mấy chục triệu đồng chạy cho anh đi xuất khẩu lao động là mong anh kiếm được nhiều tiền. Anh cũng mong vậy. Kiếm được tiền, anh có thể học lên đại học. Và hơn nữa, anh được gần nàng. Năm nay nàng cũng sẽ vào đại học.
- Anh hát khúc Trương Chi đi
- Em muốn nghe ư?- Anh ngạc nhiên. Có lần nàng đã bảo anh đừng hát, vì khúc đó “ buồn làm sao” ấy
- Vâng, anh hát đi...
Anh ngắt một ngọn cỏ đưa lên môi. Mùi cỏ hăng hắc. Anh nhìn nàng rồi nhìn ánh trăng lấp lánh trên mặt sông. Anh cất tiếng hát

Hò ơ...
Đêm đêm trôi
Trăng chơi vơi
Gió than khúc ngậm ngùi
Sầu giăng tơ
Mộng giăng tơ
Cành theo gió phất phơ
Hò ơ...
Ai buông tóc bơ phờ
*
Sau một đêm mưa như trút, ngôi làng tỉnh giấc dưới ánh mặt trời chói gắt. Mọi người kháo nhau về điềm dữ sắp xảy ra. Chứ còn gì nữa, trời đất bất thường đến thế. Ở cái xứ sở này, có bao giờ mưa mùa đông lại có sấm rền chớp loé. Lại nữa, mặt trời chói gắt thế kia, chắc chắn có tai hoạ.
Quả nhiên là tai hoạ. Ông Cả Tuần chủ bãi cải ven sông đi thăm đồng về với khuôn mặt tái nhợt. ông chạy đi tìm tuần đinh, báo rằng có xác người chết trên ruộng cải nhà ông. Tuần đinh và dân làng kéo nhau ra bãi. Người ta nhận thấy đó là xác anh ngư phủ vẫn kéo lưới ở khúc sông chảy qua làng mấy tuần trăng nay. Thỉnh thoảng, các cô gái trong làng vẫn kháo nhau rằng anh ta hát rất hay. Con người xấu xí nằm chết trên ruộng cải. Mọi người kháo ầm lên. Người thì bảo anh ta bị giết. Người thì bảo anh ta chết đói và chết rét. Nhưng trên ruộng cải bị quần nát một góc, dấu vết rõ ràng hằn trên đó là của hai người. Chắc hẳn họ đã vật lộn rất lâu, vì những cây cải ngồng bị dập nát be bét, lẫn vào bùn nhão. Điều lạ là, trong mấy dấu chân để lại, người ta nhận thấy rõ vết hài phụ nữ.

*
Anh đi được ba năm thì nàng lấy chồng. Nàng có vào đại học và yêu một vài chàng trai thị thành. Họ dạy nàng cách hôn. Người cuối cùng là con trai một cán bộ cao cấp trong chính quyền thành phố. Ngày cưới nàng vào mùa hoa cải. Sắc vàng như lụa trải suốt bãi sông dài. Lũ bướm lại dập dờn kéo đến cùng vũ điệu lả lướt của chúng.
*
Trong câu chuyện anh kể cho nàng về chàng ngư phủ, hai tháng sau cái chết của Trương Chi, Mỵ Nương cũng lấy chồng. Và nàng sinh con bảy tháng sau đó, một đứa trẻ xấu xí không giống mẹ chút nào.

Nguyễn Thị Quyên

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Tư 20216:52 CH(Xem: 684)
Ngày tôi theo chồng đến thành phố này sinh sống, vì thường nhớ nhà nên tôi cũng thường khóc bởi cảnh vật nơi đây quá im lìm và hoang vắng đúng như cái tên Buồn Muôn Thuở mà người nào đó đã đặt. Tôi có nhiều bạn ở quê nhà nhưng ở thành phố này tôi chưa có bạn. Người bạn gái đầu tiên tôi quen là người Thượng còn rất trẻ tên là Sai Luông. Sai Luông một tuần một lần đem rau muống từ trong buôn làng của cô ra chợ Ban Mê Thuột bán. Sai Luông chỉ bán mỗi một thứ là rau muống thôi. Mỗi lần đi bán như vậy, Sai Luông gùi trên lưng hai mươi lăm bó, có đôi khi hơn được một vài bó. Tôi nghĩ, Sai Luông bán như vậy sẽ không được bao nhiêu tiền nên tôi thường mua ủng hộ mỗi lần ba bốn bó. Mua riết rồi Sai Luông và tôi quen nhau.
12 Tháng Tư 202111:48 CH(Xem: 636)
Thầy tôi là anh trai tráng trong làng, học cuối đệ nhất cấp, lớp đệ tứ, tức lớp 9 bây giờ, thầy về làng dạy học. Ngôi trường- đình làng đó cách xa với khu dân cư, nó tọa lạc trong khu đất rộng. Ban ngày, khu đó náo nhiệt với lũ học trò chúng tôi, quậy lên đó không khí của sự sống, vô tư hồn nhiên. Nhưng khi bóng chiều buông xuống thì khu đình đó bước sang một thế giới khác, thế giới của loài dơi, của lũ chim ăn đêm và là thế giới của sự tưởng tượng, hoang tưởng phong phú của con người.
12 Tháng Tư 202111:34 CH(Xem: 742)
Không buồn mà cũng chẳng vui / Hai con mắt mở bùi ngùi nhìn ta / Đường đời còn biết bao xa / Ai người đứng đó chờ ta cùng về.
11 Tháng Tư 202111:41 CH(Xem: 937)
Có nỗi nhớ nào bằng nỗi nhớ tháng ba / Dịu nhẹ thôi mà sao tha thiết thế / Mật bưởi dậy thì, hoa xoan thẹn thùng ấp màu yêu / Ngõ xưa lao xao màu áo cưới / Con đường làng khấp khởi sóng đôi. /
09 Tháng Tư 20212:33 SA(Xem: 857)
hồn nhiên những ngón tay / chắc hẳn chưa muốn vờn lên mặt những kí tự / lệnh thức bất lực trước cú pháp của ngôn từ / chỉ cần nhắm mắt / ý tưởng vời vợi hiện tiếng gõ phím reo lên
09 Tháng Tư 20212:20 SA(Xem: 868)
Nhắc tôi nhớ mùa lá xanh kỷ niệm / Ươm ước mơ… nở nụ biếc Giêng hai / Vương nắng lụa, phố xuân in dấu hài / Hàng me ngát gió thơm làn tóc rối
01 Tháng Tư 20214:31 CH(Xem: 1052)
Vào một ngày đầu hè năm 2019, tôi ngạc nhiên khi nhận được điện thoại của một người lạ, bạn ấy nói muốn gặp tôi trò chuyện vì đang làm ký sự Trịnh Công Sơn của Đài truyền hình Việt Nam. Chúng tôi hẹn gặp ở quán cà phê Trịnh Công Sơn trên đường Xuân Diệu để nghe nhạc và trao đổi cùng vài người bạn. Lúc ấy tôi mới biết bạn là Nguyễn Đức Đệ đạo diễn đang làm phim ký sự “Trịnh Công Sơn nhẹ gót lãng du” gồm 5 tập, kịch bản và cố vấn phim do nhà báo Trần Ngọc Trác ở Đà Lạt một người đam mê nhạc Trịnh đảm nhận. Anh Trác đề nghị cho anh photo tất cả tài liệu mà tôi sưu tầm được khi làm luận văn thạc sĩ Trịnh Công Sơn để làm tư liệu, ngày mai sẽ vào trường Đại học Quy Nhơn quay ngoại cảnh, tìm lại dấu vết cũ nơi Trịnh Công Sơn đã từng học thời gian 1962-1964. Phỏng vấn tôi xoay quanh luận văn thạc sĩ mà tôi đã làm về đề tại Trịnh Công Sơn.
31 Tháng Ba 202111:56 CH(Xem: 1120)
Cùng chung một chuyến đò ngang, / Người đà qua cõi, người... dang dở người
29 Tháng Ba 202111:52 CH(Xem: 1013)
JOHN STEINBECK, NOBEL VĂN CHƯƠNG 1962 Sinh ngày 27/02/1902 tại Salinas, miền trung California. Sống và lớn lên trong một vùng thung lũng đồng quê xanh tươi, còn được gọi là “Salad Bowl” với dòng sông Salinas. Xong trung học (1919), có ước vọng viết văn, Steinbeck ghi tên học môn Văn chương Anh và cả lớp Viết văn / Creative writings tại Đại học danh tiếng Stanford, Palo Alto. Năm 1923, Steinbeck ghi tên học thêm môn Sinh Học / Biology tại Hopkins Marine Station, tại đây Steinbeck quen biết với William E. Ritter và quan tâm nhiều hơn tới Môi sinh / Ecology. Do theo học thất thường, ông rời Stanford 6 năm sau (1925) và không có một học vị nào. Steinbeck quyết định sang New York lập nghiệp, ông làm đủ loại công việc lao động tay chân để kiếm sống và tập sự làm báo, viết văn nhưng không thành công, không nhà xuất bản nào nhận in cuốn sách đầu tay của ông.
25 Tháng Ba 202111:55 CH(Xem: 1049)
Đó là vào những ngày cả Hãng phim truyện VN như sôi sục lên trong giai đoạn tổ chức sản xuất bộ phim nhựa đen trắng “Tướng về hưu” dựa theo truyện ngắn cùng tên đang rầm rĩ dư luận xã hội của NHT. Sáng hôm ấy, đang ngồi họp xưởng đầu tuần theo thông lệ của Hãng, đồng chí bảo vệ ngó đầu vào nhắn: “Có nhà văn Nguyễn Huy Thiệp muốn gặp đạo diễn Nguyễn Anh Tuấn”.