- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Trần Lê Hoa Tranh chuyện trò với Nhà văn/nhà báo Trùng Dương

Wednesday, January 18, 201212:00 AM(View: 66296)

Lời toà soạn: Mùa thu năm rồi, dưới sự bảo trợ của chương trình học bổng Fulbright của Hoa Kỳ,Giáo sư Tiến sĩ Trần Lê Hoa Tranh thuộc Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, TP-HCM/Sàigòn, đã có mặt tại Hoa Kỳ để thu thập chất liệu cho dự án nghiên cứu về các nhà văn nữ Việt tại hải ngoại. Trong dịp này, chị đã có dịp tiếp xúc với nhà văn/nhà báo Trùng Dương, cũng là một thành viên Fulbright của niên khoá 1990-91, và là một trong năm nhà văn nữ nổi tiếng nhất của nền văn học Miền Nam 1954-1975. Sau đây là cuộc nói chuyện giữa hai thế hệ văn học từ hai môi trường khác biệt, mà nhà văn Trùng Dương đã, với sự đồng ý của người phỏng vấn, dành cho tạp chí Hợp Lưu độc quyền phổ biến. Lẽ ra cuộc nói chuyện đã gồm cả những câu hỏi của Trùng Dương dành cho Trần Lê Hoa Tranh, song vì những lý do riêng, Hoa Tranh cho biết chưa tiện đáp ứng lúc này.

hoatranh_trungduong-content

Trùng Dương, mặt, và Trần Lê Hoa Tranh tại quán cà phê Gypsy ở Little Saigon

thuộc thành phố Westminster, California, tháng 2-2011. (Ảnh tư liệu Trùng Dương)

Câu hỏi dành cho nhà văn/nhà báo Trùng Dương
Người phỏng vấn: Trần Lê Hoa Tranh

Hỏi-1. Giới thiệu về quá trình cầm bút và các tác phẩm.

Đáp-1. Tên khai sinh là Nguyễn Thị Thái, sinh năm 1944 tại Sơn Tây, di cư và lớn lên tại Miền Nam từ 1954. Nguyên là chủ nhiệm-chủ bút nhật báo Sóng Thần (Saigòn, 1971-75), và là tác giả của nhiều truyện ngắn, truyện dài, biên khảo, phóng sự, minh hoạ, và một vở kịch ba màn, Các Con Tôi Đã Về (1978). Tị nạn cộng sản tại Hoa Kỳ từ 1975. Trở lại trường học và tốt nghiệp cử nhân và cao học ngành báo chí, công quyền và các vấn đề quốc tế, Đại học Tiểu Bang California, Sacramento. Fulbright Fellow, niên khoá 1990-91 tại Hong Kong, nghiên cứu về các vùng kinh tế đặc biệt (special economic zones) của Trung Cộng trước khi nước này mở tung mọi cửa ngõ đón nhận nền kinh tế thị trường. Từ 1991-93, phóng viên cho tờ The Mountain Democrat, Placerville, Calif.; sau đó về cộng tác với nhật báo The Record, Stockton, Calif., làm copy editor rồi trưởng thư viện tin tức (chief news librarian, archivist & researcher) từ 1993 tới khi về hưu năm 2006.

Các tác phẩm văn chương đã xuất bản trước 1975: Văn xuôi: Vừa Đi Vừa Ngước Nhìn, tập truyện (Khai Trí, 1966); Mưa Không Ướt Đất, tập truyện (Văn, 1967); Cơn Hồng Thủy và Bông Hoa Quỳ (Trình Bầy, 1968); Chung Cư, tập truyện (Tân Văn, 1971); Một Cuộc Tình, tập truyện (Tân Văn, 1972); Lập Đông, tập truyện (Văn, 1972); Thành Trì Cuối Cùng, truyện dài (đăng từng kỳ trên nhật báo Thần Phong, Saigòn, khoảng 1970-71, chưa in thành sách); Những Người Ở Lại, truyện dài (đăng từng kỳ trên nhật báo Sóng Thần, 1973, chưa in thành sách). Văn dịch: The Prophet (dịch Kahlil Gibran, đăng rải rác trong một số tạp chí, 1968-70); Ngàn Cánh Hạc (dịch Kawabata Yasunari, Trình Bầy, 1969); Đường Về Trùng Khánh (dịch Han Suyin, chung với Hồ Hải Nguyễn Vũ Thiện, không nhớ tên nhà xuất bản, khoảng 1970); Người Đàn Bà Trong Cồn Cát (dịch Kobo Abe, An Tiêm, 1971). Sinh hoạt điện ảnh: Giám đốc sản xuất phim Yêu, dựa vào cuốn tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Chu Tử, Đỗ Tiến Đức đạo diễn, 1973; viết truyện phim và phụ tá đạo diễn phim Gió Thoảng Cuộc Đời, Nguyễn Ngọc Liên đạo diễn, Cosunam Films sản xuất, 1975.

Từ sau 1975, viết nhiều thể loại và đăng báo, nhưng chưa xuất bản thành sách.

H-2. Quan niệm của cô về nghề báo.

Đ-2. Nghề báo đòi hỏi người cầm bút tôn trọng sự chính xác và khách quan. Đọc càng nhiều càng tốt, để trau giồi và mở rộng kiến thức. Nếu có một căn bản giáo dục về báo chí cấp đại học (formal training) thì tốt nhất. Ở Việt Nam các bạn trẻ thích nghề báo nên có khả năng về một ngoại ngữ, Anh văn chẳng hạn. Theo tôi, vì báo chí nặng về thông tin, có tính cách quần chúng, nên người làm báo lại càng cần phải thận trọng hơn. Tất nhiên vẫn có những nhà báo thuộc loại hành động (activist journalist), dù vậy, vẫn cần phải tôn trọng dữ kiện, không nên bịa đặt hoặc bóp méo vì như vậy chỉ làm hư đi cái mục tiêu mình dùng ngòi bút để phục vụ, vun sới, và ảnh hưởng bất lợi tới tư cách nghề nghiệp của mình. Ngoài khả năng săn tin, phỏng vấn, viết bài, một khả năng tìm kiếm tài liệu (research) là điều tối cần. Ngày nay với kỹ thuật Internet, điều này đã trở nên khá dễ dàng. Tuy nhiên, dùng tài liệu trên Internet cũng phải thận trọng và biết cách thẩm định tính chính xác của loại tài liệu này nữa (có nhiều Web sites của một số trường đại học Mỹ có các hướng dẫn về làm thế nào để thẩm định tính chất khả tín của các Web sites).

H-3. Quan niệm của cô về văn chương.

Đ-3. Cái chính là có tài và khả năng rung động được người đọc, và cái sau này không dễ mà có được. Người sáng tác văn chương không nhất thiết phải theo sát dữ kiện, trừ phi truyện dựa vào một bối cảnh lịch sử mà nhiều người đã quen thuộc với, hoặc nếu không quen thuộc song đã hiện hữu qua sách vở, tài liệu, nhân chứng ở ngoài nước. Tác giả có thể dựng nên những nhân vật hoàn toàn tưởng tượng trong một bối cảnh lịch sử có thật, và phải tôn trọng sự chính xác của giai đọan lịch sử đó. Lấy một tỉ dụ: phim Titanic dựa vào một biến cố có thật, xẩy ra vào tháng 4, 1912, nhưng câu chuyện tình đã làm rơi nước mắt của nhiều người thực ra là một chuyện do óc tưởng tượng của nhà viết truyện phim. Cũng vậy là hai nhân vật do tưởng tượng mà ra, Scarlett O’Hara và Rhett Butler, trong Gone with the Wind, một cuốn tiểu thuyết của nữ sĩ Margaret Mitchell với bối cảnh về cuộc Nội Chiến của Hoa Kỳ mà các chi tiết lịch sử chính xác không sử gia Mỹ nào có thể tranh biện được. Người làm văn chương, cũng như người viết báo, cũng cần đọc nhiều, đặc biệt sách của các tác giả ngoại quốc, qua nguyên tác hoặc sách dịch.

H-4. Cô thích nghề báo hay nghề văn?

Đ-4. Tôi thích cả hai, và trong trường hợp của tôi, chúng bổ sung cho nhau. Mặc dù về sau này tôi nghiêng về báo chí nhiều hơn. Đọc cũng vậy, trừ phi là sáng tác, hay phim truyện, có giá trị nhân bản và nghệ thuật. Tôi thích lối văn trong sáng, giản dị, và đi-thẳng-vào-vấn-đề (to the point) của báo chí, đặc biệt báo chí Mỹ mà tôi chịu nhiều ảnh hưởng. Khi đọc, tôi cũng thường để ý tới, ngoài nội dung, là lối viết, bố cục và cách dùng chữ. Hình ảnh sử dụng với các bài báo cũng cần được chú thích trung thực, có xuất xứ hẳn hoi, tránh sử dụng PhotoShop hay những software có thể làm thay đổi nội dung hay bố cục của hình. Riêng về phương diện hình ảnh, trên Internet cũng không thiếu những cẩm nang cho các phóng viên và chủ bút nhiếp ảnh về việc sử dụng hình ảnh.

H-5. Cô thường quan tâm đến những đề tài gì trong sáng tác của mình?

Đ-5. Nếu nói tới sáng tác thì bất cứ đề tài gì làm mình rung động. Còn khi viết bài cho báo, khi chọn đề tài tôi thường nghĩ tới độc giả trước, với câu hỏi: liệu bài này có giúp cho người đọc có thêm kiến thức hay hiểu biết gì không, hay chỉ làm mất thì giờ của mình cũng như của họ? Nói chung, tôi thích nhiều loại đề tài, do ảnh hưởng của báo chí, và bởi câu nói đã trở thành châm ngôn cho người làm báo: làm báo phải như con dao pha, nghĩa là đề tài nào cũng khai thác được, vấn đề là biết cách khai thác. Tôi còn nhớ mãi một lần ở tòa soạn Sóng Thần ở Sàigòn trước 1975, một anh phóng viên trẻ đi dự phiên họp thường ngày ở Quốc Hội về, anh tổng thư ký hỏi có bài không, thì anh phóng viên trả lời là chẳng có gì để viết. Anh tổng thư ký liền bảo: “Thì viết về cái không-có-gì-để-viết đó!” Điều đó không có nghĩa là bịa chuyện ra mà viết đâu. Đọc báo Mỹ tôi gặp nhiều loại tường thuật về những cái không-có-gì-để-tường-thuật đó. Một thí dụ điển hình là bức ảnh của Associated Press được luân lưu trên Internet ghi lại hình ảnh vài dân biểu chơi trò Solitary trên laptop của mình trong một cuộc họp tranh biện về chương trình y tế tại Quốc Hội Hoa Kỳ vào năm 2009, một thứ chuyện bên lề, nhưng có tầm quan trọng của nó: dân biểu do dân tín nhiệm bầu lên, lương do tiền dân đóng thuế, đi họp Quốc hội mà ngồi chơi video game thay vì theo giõi cuộc tranh biện. Một nữ dân biểu trong bức hình đó sau phải viết thư xin lỗi cử tri về thái độ tắc trách của mình.

Có đề tài nào mà tôi không hay chưa khai thác thì thường tại mình không hay chưa đủ kiến thức và khả năng đấy thôi, hoặc thế, hoặc chưa tìm được góc cạnh khác với các góc cạnh đã được khai thác của những người khác đối với một đề tài đang nổi tiếng và được nhiều người bàn tán. Lấy một tỉ dụ, vụ 33 người thợ mỏ ở Chile bị kẹt dưới lòng đất trên hai tháng vào cuối năm 2010, đã có nhiều người theo giõi và viết bài tường tuật. Tôi không định viết gì cho tới khi tình cờ đọc được một bài báo trên tờ The Wall Street Journal trong khi chờ máy bay ở một phi trường. Bài báo viết về việc những người thợ mỏ khi còn ở dưới đất đã được chỉ dẫn và huấn luyện mỗi ngày một tiếng để đối phó với giới báo chí truyền thông ra sao, đã đồng ý với nhau thành lập một hiệp hội để một giọng nói đứng ra điều đình bản quyền sách và phim về kinh nghiệm của chung của mọi người, và ký kết tôn trọng lời cam kết là sẽ không xé lẻ, vv. Tôi quyết định viết về những người thợ mỏ từ cái góc cạnh (angle) này, sau khi tìm hiểu và nghiên cứu thêm. Khi tôi cho một vài người đọc bài đó, họ mới chợt nhận ra, “Thảo nào mà tự dưng mình không còn nghe biết gì về những người thợ mỏ này nữa! Ra thế. Họ đòan kết hay thật thì thôi. Cứ tưởng là báo chí vô tình.” Cũng vậy là bài viết về hiện tượng văn học Millennium Trilogy của cố tác giả Thụy Điển Stieg Larsson mà rất nhiều nhà văn nhà báo Anh và Mỹ đã viết, mặc dù chưa có người viết tiếng Việt nào khai thác. Vì Stieg Larsson hay tự nhận mình là người hỗ trợ nữ quyền (feminist), nên tôi chú trọng vào các nhân vật nữ trong truyện của ông, và đặc biệt người bạn đời duy nhất suốt trên ba thập niên của ông, người đã không được hưởng tí gì cái gia tài đồ sộ mà bộ sách Trilogy đem lại vì sự vô ý của Larsson khi còn sinh tiền.

Ngoài ra, khi đối tượng độc giả của tôi là người Việt, tôi sẽ viết cách khác, và khi là người Mỹ, kể cả khi đó là các con tôi lớn lên bên này, tôi viết cách khác. Gần đây, tôi còn nhận ra một điều, khi đọc một bài của một nhà văn Úc gốc Việt và có lúc chợt thắc mắc không biết anh ta đang viết cho người Việt ở hải ngoại hay người Việt trong nước, đó là độc gỉả tiếng Việt cũng có những độc giả khác nhau ở mỗi địa dư. Tóm lại, khi viết, không những mình phải gắng đặt đề tài của mình vào một bối cảnh (tạm dịch từ chữ “scope”, nghĩa là cung cấp các dữ kiện liên hệ cho bài viết có chiều sâu và rộng), mà còn phải quan tâm đến cái môi trường trí thức (intellectual environment) của người đọc nữa.

H-6. Cô nhận xét mình viết với kỹ thuật viết truyền thống hay cách tân?

Đ-6. Kỹ thuật nào giúp mình truyền đạt được điều mình muốn truyền đạt đều tốt. Vấn đề là viết có hay, hay không. Tôi có một chủ trương hơi cổ điển, đúng ra là một lời khuyên cho những người trẻ muốn bước vào con đường làm văn học nghệ thuật: học cho thật thấm nhuần mọi nguyên tắc căn bản, rồi phá chúng và thoát ra, tìm lấy đường đi của riêng mình. Tóm lại, đừng định đi ngang về tắt. Trong văn học nghệ thuật, không có shortcuts (đường tắt).

H-7. Khuynh hướng sáng tác/tác giả nào ảnh hưởng đến cô nhất?

Đ-7. Ngày còn bé, tôi nhớ có đọc (giấu, vì gia đình cấm) những tác phẩm của các tác giả tiền chiến, đặc biệt của nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Khi mới lớn và chập chững cầm bút, tôi chịu ảnh hưởng của các tác giả hiện sinh, đặc biệt của Albert Camus, song song với ảnh hưởng của nhóm Nhân văn Giai phẩm ngoài Bắc các năm giữa thập niên 1950 -- một ảnh hưởng khá sâu đậm. Ảnh hưởng quan trọng nhất vẫn là không khí tự do ở Miền Nam trước 1975 đã tạo cơ hội cho nhiều luồng tư tưởng, khuynh hướng văn chương thế gìới tràn vào ảnh hưởng tới suy tư và các sinh hoạt văn học nghệ thuật của thế hệ tôi dạo ấy, đặc biệt của nữ giới.

H-8. Vấn đề hội nhập ở Mỹ và gìn giữ truyền thống Á Đông có mâu thuẫn trong tư tưởng/sáng tác của cô? Tại sao cô chọn viết bằng tiếng Việt?

Đ-8. Không có trở ngại gì, vì tôi đã chịu ảnh hưởng tinh thần phóng khoáng của Tây phương, đặc biệt của Pháp và sau này của Mỹ, từ trước khi rời Việt Nam, mặc dù hồi còn đi học tôi học chương trình Việt. Tôi chọn viết bằng tiếng Việt vì muốn tiếp tục duy trì một ngôn ngữ mà mình đã có một căn bản vững chắc, sau một thời gian sống ở Mỹ và quen thuộc với Anh ngữ, và nhận thấy mình bắt đầu quên nhiều chữ Việt. Tôi chỉ tiếc đã không làm được như vậy với khả năng Pháp ngữ của mình, để bây giờ nó han rỉ mất rồi. Với tôi, ngôn ngữ chỉ là một phương tiện. Cũng vậy là văn học nghệ thuật.

H-9. Phụ nữ gặp khó khăn gì trong việc viết văn?

Đ-9. Nếu có gia đình, nhất là con cái vốn đòi hỏi nhiều thì giờ và quan tâm của mình, ảnh hưởng rất đáng kể, có khi đòi hỏi một hy sinh lớn, đặc biệt trong việc sáng tác vốn rất đòi hỏi.

H-10. Ngoài việc viết lách, cô còn làm thêm nghề nào nữa không?

Đ-10. Tôi không bao giờ, sau vài lần kinh nghiệm, chủ trương kiếm sống bằng nghề viết văn, nhất là sáng tác, và có cái may mắn còn tiếp tục duy trì được chủ trương này. Ngay cả khi viết báo để kiếm sống, với tôi cũng là một vấn đề. Do đó mà khi có cơ hội trông coi cái văn khố của thư viện của tờ báo Mỹ tôi cộng tác để khỏi phải viết báo kiếm sống, tôi không ngần ngại nắm lấy, để chỉ viết khi mình muốn, thay vì bị áp lực của nghề. Nhiều người chỉ viết được khi bị áp lực, có deadline. Tôi là người chịu áp lực rất dở, cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Tôi không bao giờ hài lòng với bản viết đầu tiên, hay thứ hai, ba, mà có tật sửa tới sửa lui, thêm chỗ này, bớt chỗ kia.

H-11. Cô nghĩ thế nào về những nhà văn VN thế hệ 1.5, thế hệ 2 viết văn ở Mỹ?

Đ-11. Họ rất may mắn lớn lên trong một xã hội tự do và có nhiều cơ hội để học hỏi và phát triển. Về phương diện văn chương, họ nắm rất vững cách viết, nhờ ảnh hưởng của giáo dục bậc đại học. Phần lớn, theo nhận xét của tôi, họ sáng tác như một nghề tay trái, trong khi sinh hoạt trong những ngành nghề khác. Một số ít thì viết báo hoặc sinh hoạt trong ngành báo như một nghề chính để sinh sống, trong khi nuôi dưỡng vài đề tài sáng tác nào đó, như nhiều nhà báo Mỹ. Tuy vậy, theo tôi, trong việc sáng tác, họ cũng gặp phải một số vấn đề, mà nổi bật có lẽ là cái mà tôi tạm gọi là “căn cước văn chương”: họ nên viết như một nhà văn Mỹ và khai thác những đề tài của xã hội Mỹ, hay như một nhà văn Mỹ gốc Việt và chuyên mục vào những đề tài loại “căn cước thiểu số”, tạm dịch từ “ethnic identity”. Các đây vài năm, tôi có đọc một bài điểm sách (đúng ra là một tiểu luận) khá thú vị, của một nhà báo Anh gốc Kashmir, Hari Kunzru, về tập truyện The Boat của tác giả trẻ Úc gốc Việt, Nam Le, đăng trên The New York Times. Kunzru có nêu lên một vần đề, mặc dù không nói thẳng ra: nên hay không nên đi vào cái gọi là “văn chương thiểu số” (ethnic literature) mà một nhân vật của Nam Le gọi là “a license to bore” (chứng chỉ làm nản người đọc) trong khi các bạn của anh ta thì cho đây là loại đề tài “nóng”. Tôi nghĩ tới một thành ngữ của Mỹ, “You’re damned if you do and you’re damned if you don’t.” Nếu chỉ khai thác đề tài dựa vào kinh nhgiệm di dân tị nạn của mình, có thể bị mang tiếng là không có khả năng khai thác những đề tài của dòng chính (main stream), e sẽ mãi đứng bên lề. Mà khai thác những chuyện thuộc dòng chính, thì có người sẽ thắc mắc sao không viết về kinh nghiệm bản thân, vv. Một sự trăn trở… thú vị. Tuy nhiên, tác giả Nam Le đã có vẻ vượt lên được sự trăn trở đó, vì qua tập truyện ngắn The Boat, anh đã đưa độc giả đi khắp nơi, thăm thú những mảnh đời bên ngoài cũng như trong dòng chính, với một lối viết trong sáng, lưu loát của một người có tài kể chuyện.

H-12. Được biết con gái cô cũng là một nhà văn thế hệ 1.5, nhà văn, nhạc sĩ Dao Strom, cô có định hướng gì cho con gái mình? Cô nhận xét thế nào về khả năng của con gái mình?

Đ-12. Tôi không hề có, và cũng không cho phép mình đưa ra một định hướng nào về văn học nghệ thuật của các con hết, kể cả việc ảnh hưởng chúng về tôn giáo hay chính trị. Từ khi chúng còn nhỏ đã vậy. Trong việc giáo dục con cái, tôi chú trọng vào việc làm sao chúng sống cho ra con người, chân thực, nhân hậu và hữu ích, với mình, gia đình và xã hội, có nhận thì phải có cho lại, nghĩa là phải biết biết vả trả ơn. Các con tôi đứa nào cũng rất thực thà, tới độ có lúc tôi phải kêu lên là tại sao các con không có một chút “giao tế nhân sự” gì hết, thì chúng cười bảo tôi là mẹ đã dậy “yêu ai cứ bảo là yêu, ghét ai cứ bảo là ghét” mà lại. Có một thời gian khoảng vài năm, khi các con tôi còn nhỏ, gia đình tôi sống trên rừng, không có truyền hình, không có rạp hát bóng gần nhà. Hồi ấy đã hẳn là chưa có Internet. Trò giải trí duy nhất là hàng tuần mẹ con chất nhau lên xe đến thư viện cách nhà trên chục miles và mượn về một đống sách để đọc. Thấy tôi viết và vẽ thì tụi nhỏ cũng đứa viết, đứa vẽ. Khi vào đại học, cháu Dao chọn ngành điện ảnh, chuyên về đạo diễn. Rồi chuyển sang sáng tác sau khi đoạt vài giải thưởng văn chương và được chọn vào chương trình Writers’ Workshop của Đại học Iowa. Cháu viết rất vững vàng, nhưng lại chỉ thích chuyên về sáng tác. Tôi thỉnh thoảng vẫn phải nhờ nó edit bài viết bằng Anh ngữ của tôi, hoặc hỏi ý kiến về một bài viết nào đó, nhất là về bố cục, rằng nó có nhận ra điều tôi muốn truyền đạt, vv. Có lần tôi đề nghị nó xin chân copy editor tại một tờ báo trong khi viết văn như một nghề tay trái, cho đời sống vật chất đỡ vất vả; nhưng khác với tôi, nó không thích sinh hoạt báo chí, cho là cũng đầy không khí bon chen giống như bên điện ảnh. Tôi thích lyrics của vài bài hát của cháu, có nhiều chất thơ và chiều sâu. Về nhạc – nó tự dậy lấy mình --, tôi không có ý kiến vì không biết gì về âm nhạc.

H-13. Cô có hay đọc văn học trong nước không? Cô quan tâm đến tác giả, tác phẩm nào? Cô có liên hệ nào với các nhà văn VN trong nước hoặc ngoài nước Mỹ không?

Đ-13. Có một dạo, lâu rồi, vì nhu cầu cần tìm hiểu và “thấm nhuần” ngôn ngữ đối thoại của dân theo đạo Thiên Chúa tại một làng quê ở Bắc vào cuối thập niên 1950 tới đầu thập niên 1980 khi ngôn ngữ của họ chịu ảnh hưởng của đời sống duới chế độ cộng sản, tôi đọc một số tiểu thuyết trong nước có bối cảnh làng quê. Một trong những cuốn truyện tôi còn nhớ, đó là cuốn Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, mà tôi cho là rất sống động. Và đã hẳn là đọc nhiều tác phẩm trong dòng văn chương gọi là phản kháng trong nước. Về sau này tôi ít đọc sách trong nước, nhất là loại biên khảo, đặc biệt là biên khảo về văn học, vì thấy nhiều tác giả chưa thoát được ra khỏi các công thức chỉ đạo, từ cách suy nghĩ cho tới chữ dùng. Tôi có liên lạc với một số nhà văn trong nước, nhưng cũng hạn chế, vì ngại mình viết hay nói điều gì có thể liên lụy tới họ để phải ân hận. Tôi cũng hy vọng những trả lời thẳng thắn của tôi ở đây không gây một ảnh hưởng bất lợi nào đối với người phỏng vấn tôi.

H-14. Nhìn về văn học VN tại Mỹ, cô bi quan hay lạc quan?

Đ-14. Tôi không bi quan cũng chẳng lạc quan, mà một cách khách quan, đặc biệt với sự phát triển của kỹ thuật Internet, tôi thấy văn học Việt tại Mỹ có nhiều triển vọng vì bây giờ chúng ta không còn bị lệ thuộc vào vấn đề tốn kém in ấn, và đặc biệt là phát hành. Cũng như với tự do và dân chủ, người cầm bút sẽ làm gì với những điều kiện thuận tiện đó, và khi cầm bút không còn là đặc quyền đặc lợi của một số người thuộc tầng lớp được ưu đãi (privileged) nữa. Thế hệ của tôi, cái thế hệ buộc phải ổn định đời sống cho mình và gia đình sau chuyến đổi đời 1975 (mặc dù một số người vẫn tiếp tục sáng tác và một số khác đã tạo được một sinh hoạt báo chí khá phong phú), thế hệ đó thì coi như đã hoặc gần xong rồi. Còn lại là thế hệ 1.5 và 2 mà theo tôi họ có đời sống của họ và rất nhiều chọn lựa. Họ biết họ muốn gì, làm gì.

H-15. Theo cô, văn học VN tại Mỹ cần có những yếu tố gì để phát triển?

Đ-15. Câu trả lời như trên.

H-16. Cô đánh giá thế nào về ngôn ngữ của văn học VN tại Mỹ? có sự phát triển gì không?

Đ-16. Tôi nhớ có lần một người bạn đi Pháp về kể với tôi là anh ta có dịp ghé thăm một làng Việt Nam ở bên đó gồm những gia đình có người thân đi lính thợ cho Pháp nên khi Pháp rút về nước vào năm 1954-55, họ đi theo về Pháp, sống thành làng riêng biệt và còn giữ được giọng nói tiếng Việt của thời đó. Tôi nghĩ người Việt hải ngoại cũng ở trong trường hợp hơi tương tự, nghĩa là còn giữ được giọng nói của lúc ra đi, nhất là những người đi vào hồi 1975, pha vào đó là những danh từ đặc thù của kinh nghiệm di dân lập nghiệp, bên cạnh một số danh từ của sinh ngữ nơi mình định cư. Thứ ngôn ngữ ấy đương nhiên phản ảnh qua sáng tác và các phương tiện truyền thông, khiến ngôn ngữ Việt thêm phong phú. Ngôn ngữ phản ảnh con người và môi trường trong đó mình sinh hoạt.

H-17. Theo cô, những thành tựu chính của văn học hải ngoại tại Mỹ là gì?

Đ-17. Xin xem trả lời số 18 bên dưới.

H-18. Có ý kiến cho rằng: văn học VN hải ngoại, nhất là ở Mỹ gần như là một sự nối dài văn học miền Nam trước 1975 (Nguyễn Thanh Sơn), theo cô thì thế nào?

Đ-18. Tôi không biết ông Nguyễn Thanh Sơn có ý gì khi dùng chữ “nối dài”, song theo nhận xét của tôi, nếu là “nối dài” thì đây là sự nối dài cần thiết sau khi người cộng sản đã đốt hết sách vở và các sản phẩm văn học nghệ thuật của Miền Nam trong cơn say chiến thắng điên cuồng vào năm 1975. Gần đây tôi có dịp tiếp xúc với một nhà thơ trẻ trong nước, ra đời sau 1975 và đã hẳn là lớn lên trong lòng chế độ, và khi biết cậu ta “chỉ thích đọc văn học Miền Nam thôi”, tôi có hỏi tại sao, thì cậu trả lời rất gọn, rằng, “Vì ở đó có sự thật”. Câu trả lời đơn sơ đó đã khiến tôi xúc động. Tôi cũng vui khi thấy giới trẻ trong nước hiện có nhu cầu tìm hiểu về một giai đọan văn học nghệ thuật của Miền Nam vào các năm 1954-1975. Đây có thể nói là giai đoạn sung mãn thứ hai mà văn học sử của ta có được. Giai đoạn đầu là cuối thập niên 1920 tới đầu thập niên 1940, mà ta quen gọi là văn học thời tiền chiến, đặc biệt với sự xuất hiện của nhóm Tự Lực Văn Đoàn và nhiều tác giả khác bên ngoài nhóm này. Gần đây có người chuyển cho cái Web link eBook của nhà văn Vũ Trọng Phụng, tôi không khỏi ngạc nhiên trước một thư mục khá đồ sộ của ông, vì từ hồi nào tới giờ tôi chỉ biết có những Số Đỏ, Làm Đĩ, Kỹ nghệ lấy Tây, vv. mà thôi. Có người tiên đoán sẽ có một giai đoạn văn học rộ nở thứ ba trong một thời gian tới.

H-19. Theo đánh giá cá nhân cô, cô có cho rằng văn học VN ở Mỹ đã đóng góp một phần vào toàn cảnh bức tranh văn học Mỹ hiện nay? (part of American Literature), so sánh với văn học di dân các nước khác (Trung Quốc, Nhật, Hàn Quốc… tại Mỹ), Văn học VN có thua kém gì không?

Đ-19. Nước Mỹ là một nước có một truyền thống và lịch sử di dân. Người Việt chỉ mới có mặt tại Mỹ trên ba thập niên nay, vừa đủ thời gian để ổn định đời sống. Thế hệ con cháu của họ, những người có khuynh hướng văn học, đã, đang và sẽ tiếp tục đóng góp vào nền văn học của Hoa Kỳ, chắc chắn như thế. Và chắc chắn họ sẽ cần chất liệu để làm việc đó. Hiện một số thân hữu và tôi đang làm cái việc xây dựng một văn khố về lịch sử di dân của người Mỹ gốc Việt, để thế hệ trẻ có thể vào đó nghiên cứu và sưu tầm về gốc gác cha ông mình -- họ từ đâu đến, tại sao phải ra đi, ra đi như thế nào, kinh nghiệm lập nghiệp ra sao. Văn khố này sẽ được đưa vào các thư viện online của một số trường đại học tại Mỹ cho mọi người cùng tham khảo. Để thực hiện một phần của văn khố này, chúng tôi đã nhận được sự bảo trợ rất đặc biệt của Liên hội Sinh Viên Việt Nam tại Bắc Mỹ (gồm 119 trường đại học ở Mỹ và Canada), bên cạnh sự giúp đỡ của một số trường đại học Mỹ cùng nhiều cá nhân, đoàn thể khác. Tóm lại đây là một dự án hoàn toàn tư nhân.

Xin cám ơn Hoa Tranh đã cho tôi cơ hội trao đổi những kinh nhgiệm cầm bút của mình. Chúc may mắn, thành công trong dự án sách về các nhà văn nữ Việt hải ngoại. (TD, 04/2011)

Ghi chú:

Một số bài viết của Trùng Dương hiện có tại:

http://www.hopluu.net/D_1-2_2-44_10-92_12-1/

http://damau.org/archives/author/trungduong

http://tienve.org/home/authors/viewAuthors.do?action=show&authorId=88

Send comment
Your Name
Your email address
Sunday, December 14, 200812:00 AM(View: 120667)
"Mới hay cũ, đời sống vẫn thế," anh chồng trả lời vợ. Anh leo lên giường làm tình với nàng, mắt nhắm đê mê, trong khi đó cái loa vẫn phát thanh bài hát mới, giọng nam và nữ lập đi, lập lại những lời hát... "Cộng Sản thật vĩ đại, thật vĩ đại, thật vĩ đại. .."
Wednesday, December 10, 200812:00 AM(View: 120471)
Không biết những người dân ngồi chờ đã bao lâu. 7giờ 58 phút trưởng Công an xã mới lù mặt tới. Hắn bước vào bàn và kéo chiếc ghế nhích ra ngoài, hắn lấy tờ “nhật trình” để trên bàn phất vài cái vào mặt ghế, hắn ngồi xuống. Tay trưởng Công an xã liếc qua chồng chứng từ, hắn không cần phải ngẩng mặt lên nhìn ai (có thể là một thói quen?), sau khi nghiền ngẫm xong từng tờ đơn xin hay khiếu kiện gì đó. Hắn lấy cây viết cài trên túi áo rồi hắn ký chậm rãi dưới những tờ đơn.
Monday, December 8, 200812:00 AM(View: 138770)
nhiều nghịch lý giữa trò chơi thách đố với đức tin ức đoán khiến ta cười số mệnh là thù cũng vừa là bạn cứu vãn được gì khi nước mắt rơi
Monday, December 8, 200812:00 AM(View: 127447)
LTS: Hai mươi tuổi ngồi vào bàn viết, tuổi trẻ hôm nay viết gì? Thường là câu hỏi của những ai quan tâm đến văn học và sáng tác trẻ. Mang trên vai tuổi đôi mươi cùng ý thức hành văn khá sớm, Lữ Thị Mai sinh 1988 là một trường hợp khá lạ.
Monday, December 8, 200812:00 AM(View: 153406)
Mẹ nó run lên từng đợt: “ Nữa, nữa... đấy... mạnh vào, mạnh nữa vào, nhanh lên...”. Cái người cưỡi trên mẹ nó như mụ mị, hắn chẳng quan tâm tới tiếng cánh cửa mở mà cứ thúc, cứ đẩy. Mẹ nó thì rên rỉ, mẹ nó hét. Thế là bố nó nhào tới đâm.
Monday, December 8, 200812:00 AM(View: 145184)
Con Thạch Sùng chẳng hiểu gì. Tất nhiên. Em không chấp nó. Anh nhỉ. Đứa con của chúng ta đã lớn rồi đấy
Sunday, December 7, 200812:00 AM(View: 145259)
đúc lòng thú dữ. Tôi ngậm ngày giọt vuông ứa nóng vạn độ / cắt nhìn dân tộc móc nhau đu đưa tuần hoàn não bộ xưng mẹ toàn cầu ngôi nhà nổ tách từng cái miệng linh vị bay đến đỉnh cao tôi bốc câu chú giải nguyền rủa vi trùng tỉa giờ hối hả say.
Sunday, December 7, 200812:00 AM(View: 125666)
Giữa tháng 4, bố có tranh được treo triển lãm. Cả nhà kéo đi xem. Tranh vẽ một cụ già đang ngồi bên ngọn đèn, mắt mũi kèm nhèm, khâu áo. Ai cũng nhận ra khuôn mặt của bà. Triển lãm nhan đề: “Mẹ - tôi”. Bà bảo: “Lũ đểu”.
Saturday, December 6, 200812:00 AM(View: 118332)
Hắn miên man thêm. Tình dục qua internet nè, tình dục qua e-mail nè, tình dục qua điện thoại nè, tình dục trong các công sở nè ... Có người không thích bóng gió thì cũng có người đậm mầu lãng mạn.
Saturday, December 6, 200812:00 AM(View: 151224)
Không ai biết tại sao giữa dòng sông ấy lại nhô lên một bãi đất. Rồi cũng không ai biết người ta đến đấy ở từ bao giờ. Họ chia đều những khoảng đất, họ trồng ngô, trồng rau xanh rì, họ dựng nhà họ nuôi con. Họ không nuôi đàn ông. Con họ nuôi chó, nuôi mèo.
Friday, August 7, 2026(View: 3823)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
Saturday, August 16, 2025(View: 13280)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
Wednesday, December 18, 2024(View: 19647)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
Wednesday, December 18, 2024(View: 18620)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
Sunday, October 18, 20266:14 PM(View: 1615)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
Sunday, October 18, 20266:04 PM(View: 1769)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
Friday, October 9, 20266:39 PM(View: 2287)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
Friday, October 9, 20266:09 PM(View: 2406)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(View: 1448)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(View: 2206)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(View: 1945)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(View: 1988)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
Sunday, October 18, 20264:43 PM(View: 1363)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
Friday, October 9, 20265:49 PM(View: 2397)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
Friday, October 2, 202612:54 AM(View: 2605)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
Wednesday, September 23, 202610:53 PM(View: 2365)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
Tuesday, October 27, 2026(View: 234)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
Wednesday, October 21, 2026(View: 796)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
Monday, October 19, 2026(View: 989)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
Monday, October 19, 2026(View: 1101)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
Friday, June 5, 2026(View: 6400)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
Friday, June 6, 2025(View: 15879)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
Friday, December 22, 2023(View: 32134)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
Wednesday, April 27, 2022(View: 38854)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(View: 1472)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(View: 13876)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(View: 6893)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(View: 10667)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(View: 9869)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(View: 9998)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(View: 10794)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
Monday, September 14, 20262:19 AM(View: 3438)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
Friday, October 31, 202510:09 PM(View: 11151)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
Saturday, October 25, 20251:53 AM(View: 10351)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi