- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,579,967

THƠ NGUYỄN LÃM THẮNG

01 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 97252)


nguyenlamthang
 Nguyễn Lãm Thắng 2/2011 Photo Trịnh Thị Phương Anh


LTS: Lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu, Nguyễn Lãm Thắng Sinh năm 1973 tại Quảng Nam. Hiện sống và làm việc tại Huế.
TCHL


Điện thoại cho mẹ


mẹ tôi đã 76 tuổi
mẹ tôi có hai bảy người đàn ông đi dạm trước khi gặp ba tôi
bi chừ
tóc bạc trắng
những răng giả nhưng nụ cười vẫn thật
đôi chân cong đã có những thanh inox bên trong
thời gian trôi nhanh như một chớp mắt
gần hai mươi năm tôi lang thang khắp chốn
ít khi về
mẹ tôi vẫn cười qua điện thoại
vẫn dặn dò tôi như khi tôi còn tiểu học
vẫn hỏi thăm những bạn bè của tôi dù bà chỉ gặp một lần hay chỉ nghe tên
vẫn thường xuyên cập nhật cho tôi những người vừa chết trong làng
vẫn nhắc tôi về những ngày kỵ những người trong gia đình
và bảo vườn cà chua năm nay chết lụi khi vừa đơm hoa
 
cuộc điện thoại hay đúng hơn là cuộc độc thoại của mẹ
vì mẹ tôi bị lãng tai
suốt cuộc điện thoại tôi lặp lại nhiều nhất hai tiếng vâng ạ
 
Huế, 24/3/2011


Tiếng khóc trên đồng



tiếng khóc của núi chảy dọc theo phù sa bào mòn giấc ngủ
sợi dây thừng tàn bạo của cơn mê sảng thắt cổ giấc mơ niên thiếu
anh ngã sấp xuống buổi chiều hôn mê
vết dao trá hình chém phập phía sau lưng hờn tủi
những viên sỏi lăn lóc dòng sông đời nhá nhem tao loạn
ghim vào từng cơn đói
ký ức mọc lông vỗ cánh phía mặt người
 
gánh củi nặng oằn đè trên vai người đàn bà có chửa
đứa con lọt lòng rớt giữa đồng khô
máu nhoè từng cơn sản hậu
hoà nước mắt mồ hôi tưới xuống đất cày
con bò u mê đạp lên tiếng rên oán thán
mê nón che ngang một giọt máu chào đời
kiếp người bắt đầu biết đau trên lưỡi liềm cắt rốn
đắp vết thương bằng miếng cỏ hò khoan...
 
cái nghèo trớ trêu như trái đào lộn hột
cứ phơi ra ngoài một cục ghèn đau
anh bước ra đồng
anh bước theo trâu
lật lớp bùn nâu lật từng thớ tuổi
nghe tiếng khóc chảy ra từ khe núi
gần nửa đời người
con sâu đục thân mỏi mòn mắt lúa
cái khổ đục người méo miệng cười xưa
 
anh gác rựa bờ châm thêm điếu thuốc
con trâu giật mình đếm cỏ dưới chân
tiếng khóc giật mình trượt trên bầu vú
anh lật bàn tay đếm từng mùa hạn
nghe tiếng loài người khóc dưới đáy mộ sâu...
 
Kiệt Dứa, Hè 2008


Qua cửa thành đêm

 
những khẩu súng thần công chĩa vào nhau từ hai phía
chúng đang nhìn nhau
hay đang nhắc về quá khứ của những xác chết đạp lên nhau?
chúng đang ôn lại Hương giang cố sự
hay đang gục mặt tưởng niệm quyền uy?
 
những đôi tình nhân cà sát vào thân súng bắn vào nhau những nhục dục
nhợt nhạt ánh đèn vàng - chất nhớt của không gian biến dạng
những họng súng im lìm co ro trong viên kẹo bảo tồn
toát lạnh hơi đồng
chạm những giọt mồ hôi của đôi tình nhân hổn hển
cửa thành nghẹn một tiếng nấc của viên gạch sắp vỡ
lũ chuột rú lên giành nhau những bao cao su sũng ướt
chúng tha lên phế tích của rêu
bánh xe xích lô vô hồn lăn bóng mình vào u lặng
chạm một vũng trăng thừa ra giữa ngã ba đường
 
cửa thành đã mục
tiếng đóng cửa cũng đã mục từ thế kỷ trước
loài người sẽ dán thêm vào bằng những lớp hồ hiện đại
cổng thành sẽ gánh thêm trên vai mình trách nhiệm mới
trong sự già nua oằn oại còn vương đọng tử khí Mậu Thân


Buổi trưa trên lăng Tự Đức

 
em trượt ngã bên bậc thềm hậu cung
buổi trưa đắm nắng
cây vả trái xanh không vươn được tán lá che bàn chân em
những bức tường rêu đổ nát
im lặng đến mê cung
em đứng lên theo bàn tay anh
em say nắng thật thà
đôi môi tím tái và bàn tay lạnh
những lo lắng đang nỗ lực tìm một điểm tựa
em nói khẽ trong yếu ớt: — anh không bế nổi em đâu!
bàn chân em lạnh hơn cơn gió hiểm
mái tóc dài quấn vào cổ anh
đẫm mồ hôi
hậu cung đắm nắng
em tỉnh lại lúc năm ngón tay đan lồng vào nhau
anh dìu lên bậc thềm cũ với nụ cười mới lạ
phế tích biến chúng mình thành hai giọt nắng lồng vào nhau…
 
Nguyễn Lãm Thắng
12h 24/8/2009

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1116)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1182)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1869)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5904)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5883)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13218)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30128)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81247)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20267)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
24 Tháng Chín 20216:27 CH(Xem: 98)
Cây chi cây lạ lùng / Không cành cũng không lá / Toàn những thân với thân! / Mà thân thì dựng ngược / A plant that is so strangely amazing / Which has neither branches nor leaves growing / It has only body upon body growing about / And each body is growing upside down