- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,433,201

THƠ NGUYỄN LÃM THẮNG

01 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 93211)


nguyenlamthang
 Nguyễn Lãm Thắng 2/2011 Photo Trịnh Thị Phương Anh


LTS: Lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu, Nguyễn Lãm Thắng Sinh năm 1973 tại Quảng Nam. Hiện sống và làm việc tại Huế.
TCHL


Điện thoại cho mẹ


mẹ tôi đã 76 tuổi
mẹ tôi có hai bảy người đàn ông đi dạm trước khi gặp ba tôi
bi chừ
tóc bạc trắng
những răng giả nhưng nụ cười vẫn thật
đôi chân cong đã có những thanh inox bên trong
thời gian trôi nhanh như một chớp mắt
gần hai mươi năm tôi lang thang khắp chốn
ít khi về
mẹ tôi vẫn cười qua điện thoại
vẫn dặn dò tôi như khi tôi còn tiểu học
vẫn hỏi thăm những bạn bè của tôi dù bà chỉ gặp một lần hay chỉ nghe tên
vẫn thường xuyên cập nhật cho tôi những người vừa chết trong làng
vẫn nhắc tôi về những ngày kỵ những người trong gia đình
và bảo vườn cà chua năm nay chết lụi khi vừa đơm hoa
 
cuộc điện thoại hay đúng hơn là cuộc độc thoại của mẹ
vì mẹ tôi bị lãng tai
suốt cuộc điện thoại tôi lặp lại nhiều nhất hai tiếng vâng ạ
 
Huế, 24/3/2011


Tiếng khóc trên đồng



tiếng khóc của núi chảy dọc theo phù sa bào mòn giấc ngủ
sợi dây thừng tàn bạo của cơn mê sảng thắt cổ giấc mơ niên thiếu
anh ngã sấp xuống buổi chiều hôn mê
vết dao trá hình chém phập phía sau lưng hờn tủi
những viên sỏi lăn lóc dòng sông đời nhá nhem tao loạn
ghim vào từng cơn đói
ký ức mọc lông vỗ cánh phía mặt người
 
gánh củi nặng oằn đè trên vai người đàn bà có chửa
đứa con lọt lòng rớt giữa đồng khô
máu nhoè từng cơn sản hậu
hoà nước mắt mồ hôi tưới xuống đất cày
con bò u mê đạp lên tiếng rên oán thán
mê nón che ngang một giọt máu chào đời
kiếp người bắt đầu biết đau trên lưỡi liềm cắt rốn
đắp vết thương bằng miếng cỏ hò khoan...
 
cái nghèo trớ trêu như trái đào lộn hột
cứ phơi ra ngoài một cục ghèn đau
anh bước ra đồng
anh bước theo trâu
lật lớp bùn nâu lật từng thớ tuổi
nghe tiếng khóc chảy ra từ khe núi
gần nửa đời người
con sâu đục thân mỏi mòn mắt lúa
cái khổ đục người méo miệng cười xưa
 
anh gác rựa bờ châm thêm điếu thuốc
con trâu giật mình đếm cỏ dưới chân
tiếng khóc giật mình trượt trên bầu vú
anh lật bàn tay đếm từng mùa hạn
nghe tiếng loài người khóc dưới đáy mộ sâu...
 
Kiệt Dứa, Hè 2008


Qua cửa thành đêm

 
những khẩu súng thần công chĩa vào nhau từ hai phía
chúng đang nhìn nhau
hay đang nhắc về quá khứ của những xác chết đạp lên nhau?
chúng đang ôn lại Hương giang cố sự
hay đang gục mặt tưởng niệm quyền uy?
 
những đôi tình nhân cà sát vào thân súng bắn vào nhau những nhục dục
nhợt nhạt ánh đèn vàng - chất nhớt của không gian biến dạng
những họng súng im lìm co ro trong viên kẹo bảo tồn
toát lạnh hơi đồng
chạm những giọt mồ hôi của đôi tình nhân hổn hển
cửa thành nghẹn một tiếng nấc của viên gạch sắp vỡ
lũ chuột rú lên giành nhau những bao cao su sũng ướt
chúng tha lên phế tích của rêu
bánh xe xích lô vô hồn lăn bóng mình vào u lặng
chạm một vũng trăng thừa ra giữa ngã ba đường
 
cửa thành đã mục
tiếng đóng cửa cũng đã mục từ thế kỷ trước
loài người sẽ dán thêm vào bằng những lớp hồ hiện đại
cổng thành sẽ gánh thêm trên vai mình trách nhiệm mới
trong sự già nua oằn oại còn vương đọng tử khí Mậu Thân


Buổi trưa trên lăng Tự Đức

 
em trượt ngã bên bậc thềm hậu cung
buổi trưa đắm nắng
cây vả trái xanh không vươn được tán lá che bàn chân em
những bức tường rêu đổ nát
im lặng đến mê cung
em đứng lên theo bàn tay anh
em say nắng thật thà
đôi môi tím tái và bàn tay lạnh
những lo lắng đang nỗ lực tìm một điểm tựa
em nói khẽ trong yếu ớt: — anh không bế nổi em đâu!
bàn chân em lạnh hơn cơn gió hiểm
mái tóc dài quấn vào cổ anh
đẫm mồ hôi
hậu cung đắm nắng
em tỉnh lại lúc năm ngón tay đan lồng vào nhau
anh dìu lên bậc thềm cũ với nụ cười mới lạ
phế tích biến chúng mình thành hai giọt nắng lồng vào nhau…
 
Nguyễn Lãm Thắng
12h 24/8/2009

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 1360)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 4883)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
31 Tháng Ba 20207:18 CH(Xem: 565)
NGÔ THẾ VINH Lời Dẫn Nhập: Giáo sư Phạm Hoàng Hộ sau khi hoàn tất bộ sách đồ sộ “Cây Cỏ Việt Nam” mà Giáo sư gọi là “công trình của đời tôi" và vào mấy năm cuối đời, như một Di Chúc, Giáo sư Phạm Hoàng Hộ đã đề tặng toàn sự nghiệp ấy cho: “Những ai còn sống hay đã chết trong tù vì tháng Tư năm 1975 đã quyết định ở lại để tiếp tục dâng góp cho đất nước. Tặng giáo sư Nguyễn Duy Xuân nguyên viện trưởng Đại Học Cần Thơ, mất ngày 10/XI/1986 tại trại Cải Tạo Hà-Nam-Ninh. Tặng hương hồn những ai trên biển Đông đã chết nghẹn ngào”.
30 Tháng Ba 20206:04 CH(Xem: 510)
Em hớ hênh thèm một miếng thương / Để anh dáo dát đụng chân giường / Ngoài kia dẫu dịch tràn như sóng / Anh vẫn chết chìm trong mắt em. /
30 Tháng Ba 20205:57 CH(Xem: 391)
tháng hai, tháng ba ta trở về / chiều đi lên đồi nghe mùi của đất bốc lên thoang thoảng / lá vây quanh và mây xanh trên đầu / mớ ký ức vẽ hình vòng cung /
28 Tháng Ba 20206:12 CH(Xem: 751)
Ban đầu, ông thấy người gai gai, sốt, chán ăn. Bụng bảo dạ, nhẽ mình lao động hơi quá sức. Chả là vừa tập Gym hồi đêm về sáng trên máy bay với Hải Yến xong, thì tối hôm đó lại về sân hàng chiếu ở Times city thi đấu cả đêm. Bắt buộc phải cả đêm, bởi nếu không thì khó mà sống với phòng nhì đang kỳ lửa nồng được. Dù ông biết thân trước khi lâm trận, đã viện đến bao nhiêu sự trợ giúp, ngay cả từ lúc mới xuống sân bay kia. Thế nên đêm đầu về nhà cũng làm cho em Thuận mãn nguyện. Những đêm sau thì phải cố, cũng qua bài. Gặp mặt Hội 3G, tay bắt mặt mừng ôm hôn thắm thiết, mừng công trình rực rỡ để đời đã hoàn thành. Mừng cú tuyệt tác one in hole trên chín tầng mây, thật là độc nhất vô nhị! Nhưng mấy hôm tiếp theo đi họp hành, tiệc tùng chiêu đãi nhiều thấy mệt mỏi. Càng ngày càng thấy người ốm tệ. Sốt, ho, khó thở... Hay là nhiễm cúm virus corona? Em Thuận hoảng hốt vội gọi xe đưa vào viện khám. Xe đưa ông Nam vừa đi thì cũng có xe khác đến đưa ngay cả hai mẹ con đi cách ly chống dịch.
26 Tháng Ba 202010:54 CH(Xem: 494)
Raymond Clevie Carver Jr. sinh ngày 25 tháng Năm, 1938, là tác giả Hoa Kỳ chuyên về truyện ngắn và thơ; người được xem như một trong những nhà văn lớn của nước Mỹ. Các tác phẩm chính của Carver gồm có: Will You Please Be Quiet, Please? (1976), Furious Seasons and other stories (1977), What We Talk About When We Talk About Love (1981), Cathedral (1983), Elephant (1988), Where I'm Calling From: New & Selected Stories (1988), Short Cuts: Selected Stories (1993), Collected Stories (2009).
25 Tháng Ba 202010:33 CH(Xem: 494)
Ơi bạn ta / Trong mỗi căn phòng cách ly / Hãy quán chiếu về sự chết / Hãy mở cánh cửa thâm u đã từng khóa chặt / Hãy mĩm cười về phía biển xanh / Sóng vẫn chập chùng pháp âm vô lượng nghĩa.
25 Tháng Ba 20209:32 CH(Xem: 546)
Lúc này, bên những vết tích còn lại của bản Thái hoang tàn, Cư có cảm tưởng lạc vào nơi từng ghi dấu sự tích kể về cô gái con tạo bản đã héo hon mà chết vì mong nhớ người yêu; nhưng mọi người không sao đem nổi xác nàng ra khỏi nhà, bởi hồn nàng quyết không chịu rời đi. Bản bị hồn ma ám, không ai dám ở. Còn chàng trai nghèo thất tình, khi trở về đã ôm ấp nàng suốt bảy ngày đêm mà không biết đó là thi thể giá lạnh, giữa cái bản vắng tanh...
25 Tháng Ba 20209:25 CH(Xem: 616)
Đêm đêm, nhất là những đêm trăng sáng, thỉnh thoảng có những “sinh hoạt” gì đó tôi cũng chẳng biết. Và thỉnh thoảng, có những đoàn quân rất đông người với bao nhiêu là súng ống đạn dược, kéo về trong một đêm, rồi sáng sớm hôm sau họ lại lên đường. Chắc là đánh nhau ở đâu đó. Tôi nghe loáng thoáng cha mẹ tôi nói là bộ đội chủ lực gì gì đó.