- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Vấn Đề Tài Liệu Nghiên Cứu Việt Sử (phần 4)

10 Tháng Ba 200912:00 SA(Xem: 120239)

320666_tunnel_0_300x200_1

 

Phần IV:

II. VIỆC NGHIÊN CỨU THỜI CẬN ĐẠI (1800-1975):

Giai đoạn trước 1975, việc nghiên cứu sử học đã có nhiều nguồn tư liệu hơn để làm việc. Tài liệu đáng tin cậy nhất, dĩ nhiên, là tài liệu văn khố. Nhiều nhà nghiên cứu sử học chuyên nghiệp đã sử dụng tài liệu văn khố Pháp, Mỹ và Liên Sô. Mới đây, văn khố Hội truyền giáo Hải ngoại cũng đã mở rộng, sau nhiều thập niên "cho người chết ngủ yên." Ngoài ra, người ta có thể sử dụng các báo chí đương thời xuất bản tại Đông Dương, Nga, Trung Quốc, Nhật, hay Hong Kong. Một số hồi kư bằng Hán ngữ, Pháp ngữ, Anh ngữ và Việt ngữ cũng có thể sử dụng.

A. TÀI LIỆU VĂN KHỐ:

Văn khố có nhiều loại. Chính yếu và quan trọng nhất là những tài liệu do chính quyền thu thập và soạn thảo, được lưu trữ và bảo quản để tiện theo dơi sự thi hành các chính sách hoặc kế hoạch hoạt động thuộc mọi ngành. Đây là những tài liệu cực kỳ quan trọng cho các nhà nghiên cứu. Mỗi cơ quan chính phủ đều có một văn khố. Những tổ chức, hội đoàn có cấu trúc chặt chẽ như Hội Truyền Giáo, nghiệp đoàn hàng hải, v.. v... cũng có văn khố riêng. Mỗi nhân vật tên tuổi cũng vậy. Mặc dù các viên chức hành chính hay quân sự, hay các tác nhân có thẩm quyền, vì những lư do dễ hiểu, đôi khi chủ quan, hoặc vì áp lực thư lại, có thể không viết hết sự thực, nhưng những kẽ hở này có thể loại bỏ hoặc bổ túc bằng các tài liệu khác, theo phương pháp tỉ đối (tức so sánh) và tổng hợp.

Ngoài ra, còn những thủ bút của các tác nhân lịch sử mà tính chất khả tín khó ai có thể bài bác. Hai lá thư xin nhập học trường Thuộc Địa của Nguyễn Tất Thành năm 1911, hay thư Giám mục Ngô Đình Thục gửi Toàn quyền Jean Decoux ngày 21/8/1944 van xin Decoux nghĩ đến công lao hãn mã của Ngô Đình Khả và họ Ngô mà nhẹ tay với Ngô Đình Diệm, Khôi, Nhu, v.. v.. chỉ là vài thí dụ cụ thể. Toàn bộ báo cáo của Giám mục Paul Puginier gửi các viên chức thuộc địa Đông Dương tại Văn khố Hội Truyền giáo Hải ngoại Pháp là một thí dụ khác. Bởi thế, với những nhà nghiên cứu chuyên nghiệp, tư liệu văn khố được xếp loại ưu tiên và khả tín hàng đầu.

Văn khố Việt không được bảo quản cẩn thận. Bởi thế không những một số "Châu Bản" nhà Nguyễn bị mục nát dần, mà ngay tư liệu của các chế độ Quốc Gia Việt Nam, Việt Nam Cộng Hòa cũng chịu chung số phận. Những tư liệu của Đảng CSVN, dĩ nhiên, chưa và có thể không bao giờ được giải mật. Thí dụ như những điện tín và văn thư giữa Bắc Kinh và Tuyên Quang-Thái Nguyên trong các chiến dịch Biên Giới (9-10/1950) hay Điện Biên Phủ (1953-1954) vẫn là tài liệu quốc cấm–và, sau hơn nửa thế kỷ, các nhà nghiên cứu mới chỉ có được những "hồi kư" của Trần Canh, Vơ Nguyên Giáp, hay La Quí Ba, v.. v... Đó là chưa nói đến những mật điện và tài liệu về những chuyến đi Nga 1950, 1952, 1954 của Hồ Chí Minh.

Mới đây đã có nỗ lực gửi các chuyên viên Việt ra ngoại quốc học tập thêm về kỹ thuật bảo quản và tổ chức văn khố. Hy vọng sẽ có những tiến triển tốt đẹp hơn. Ngoài ra, theo một học giả Nga, Anatoli Sokolov, văn khố Đảng Cộng Sản Việt Nam làm được nhiều microfilm tư liệu tàng trữ tại các văn khố Nga và Pháp.

Do tình huống đặc biệt của Việt Nam, nơi nhiều siêu cường đã có mặt, tùy theo giai đoạn người ta có thể nghiên cứu thêm ở các văn khố Pháp, Mỹ, Bri-tên, Nga và Trung Quốc. Trong giai đoạn trước 1945, nguồn tư liệu quan trọng là văn khố Pháp, Nga, Trung Quốc, và Bri-tên.

Giai đoạn từ 1945 tới 1975 cũng vậy. Quan trọng nhất vẫn là tài liệu văn khố Pháp, Mỹ, Nga, Trung Quốc và Bri-tên. Tuy nhiên, một số tư liệu trong giai đoạn này vẫn chưa giải mật. Cho đến năm 2001, chẳng hạn, văn khố Mỹ mới chỉ mở tới năm 1971. Mặc dù mỗi năm đều có thêm tài liệu giải mật, nhưng có những tài liệu vẫn chưa được tham khảo. Thí dụ như tài liệu về cuộc đảo chính 1963 tại Thư viện John F. Kennedy chưa mở hết,đặc biệt là các công điện và báo cáo của Henry Cabot Lodge. Thư viện Gerald Ford đã giải mật một số hồ sơ về cuộc sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa–như báo cáo của Tướng Frederick Weyand ngày 9/4/1975, một số công điện của chiến dịch Frequent Wind—nhưng trên đại thể chưa đủ để dựng lại một bức tranh toàn diện. Văn khố Pháp thì nhiều tài liệu trong giai đoạn 1945-1954 phải chờ tới năm 2009-2010 hoặc có thể lâu hơn mới được tham khảo. Tài liệu Bộ Ngoại Giao cũng mới mở đến năm 1964. Tư liệu về Trần Đình Lan chỉ giải mật năm 2029! Tài liệu Nga và Trung Cộng, vì được xếp hạng là liên quan đến an ninh quốc gia, hầu như không mở ra cho các học giả ngoại quốc.

 

Tại Mỹ, ngoài các Văn khố Quốc Gia, Văn khố các Bộ và nha sở, Văn khố các binh chủng, còn văn khố tại các thư viện Tổng thống Mỹ. Đây là nơi tập trung các tư liệu có yếu tố quyết định cho chính sách ngoại giao cũng như nội trị của mỗi Tổng thống. Muốn có được một bộ sử chính xác về chiến tranh Việt Nam, không thể không làm việc tại các văn khố này; đặc biệt là các thư viện Dwight D. Eisenhower, John F. Kennedy, Lyndon B. Johnson, Richard Nixon, Gerald Ford và Jimmy Carter. Cho tới nay, tôi thường làm việc tại Văn khố Lyndon B. Johnson, trong khuôn viên Đại học TexasAustin, Texas. Hầu như mỗi năm đều ghé qua một lần. Được tham khảo và làm phóng ảnh khá nhiều tư liệu đã từng công bố trong các tập Mậu Thân 68: Thắng hay Bại? (in lần thứ hai) và 55 Ngày & 55 Đêm: Cuộc sụp đổ của Việt Nam Cộng Hòa (in lần thứ 5) dưới bút hiệu Chính Đạo. Toàn bộ những tư liệu văn khố trên sẽ được phổ biến đầy đủ hơn trong tập Việt Nam Niên Biểu I-D: 1964-1968, và nhất là bộ The Vietnam War, 1945-1975: Lost or Won? [Chiến Tranh Việt Nam, 1945-1975: Bại Hay Thắng?] bằng Anh ngữ, hoàn tất đã lâu, nhưng còn cần những hiệu đính nho nhỏ về chi tiết mỗi khi có tư liệu mới giải mật.

Bất cứ ai muốn tái tạo lịch sử cận đại Việt một cách tương đối trung thực không thể không làm việc tại Thư viện LBJ. Theo sự hiểu biết của tôi, chỉ riêng cựu Đại tá Phạm Văn Liễu, chẳng hạn, đã có hàng chục tư liệu chưa được bạch hóa. Có lẽ chính ông Liễu cũng chẳng rơ lư do khiến ông bị cách chức Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia vào ngày 8/4/1966 (dù mãi tới ngày 21/4/1966 mới được công bố): Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia đã buộc tội ông Liễu tiếp tay cho cuộc tranh đấu miền Trung của Phật Giáo và Lực Lượng Tranh Thủ Tự Do (3-6/1966) vì một công điện kư tên giả mà ông Liễu chẳng bao giờ nhận được. Lãnh tụ "Baby Turks" Nguyễn Ngọc Loan đã chết, nhưng Tướng Nguyễn Cao Kỳ, cựu Chủ tịch Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương (1965-1967), có thể giải thích thêm việc này.

Trường hợp hai Tướng Huỳnh Văn Cao và Tôn Thất Đính cũng vậy. Tướng Cao không bị chỉ định mà tình nguyện ra Đà Nẵng thay Tướng Đính làm Tư lệnh Quân đoàn I. Tướng Đính thì có những lời tuyên bố khiến ông phải hối hận, sau này. Riêng Thượng Tọa Thích Trí Quang, giống như tôi đã trình bày trong tập Tôn Giáo & Chính Trị: Phật Giáo, 1963-1967, là nạn nhân của chính ông. Người Mỹ hiểu rằng Thượng Tọa Trí Quang không là Cộng Sản, và cái mũ Cộng Sản đã bị những người Ki-tô cuồng tín–nhất là tàn dư Cần Lao-Nhân Vị của Ngô Đình Nhu-Ngô Đình Cẩn–và ngay cả các cán bộ Cộng Sản, chụp lên đầu ông. Thượng Tọa Trí Quang, qua những tin tình báo nhận được ở Tòa Bạch Cung, có tới ba loại người thù: Cộng Sản, Ki-tô cuồng tín hiếu chiến kiểu Trung Cổ, và phe kiêu binh, đại diện bằng những Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn Ngọc Loan, Nguyễn Bảo Trị. Khi chính phủ Johnson, qua đề nghị của nhóm Edward Lansdale và Bill Colby, quyết định cho giới Ki-tô trở lại thống trị chính trường miền Nam từ năm 1967-1968, ngày tàn giấc mộng kê vàng "quốc sư” của Thượng Tọa Trí Quang bắt đầu. Ngay đến Linh mục Hoàng Quỳnh, người chủ trương hòa đồng tôn giáo để chống Cộng, cũng bị nhóm Đại Đoàn Kết của Nguyễn Gia Hiến loại bỏ vì "đã già, mềm yếu với Phật giáo," không còn xứng đáng cầm đầu các ủy ban "hành động" Ki-tô. Tướng Nguyễn Bảo Trị và Ủy viên Thanh niên Vơ Long Triều cũng tự nhận đã ra công vận động giáo dân Ki-tô Hố Nai và Phú Nhuận xuống đường đương đầu với Phật giáo, ngăn chặn không cho Phật giáo thống trị các cơ quan dân cử và chính quyền. Niềm tin tôn giáo đã bị những kẻ tham vọng khai thác làm con đường tiến thân cho riêng họ. Những ai thích tin tưởng ở "thánh chiến" nên ghé văn khố LBJL ở Austin một lần, tìm đọc vài hộp tư liệu của Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Mỹ [National Security Files (NSF), Vietnam Country File]. Từ những nhân vật như Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ, Trần Văn Đôn, v.. v... tới các tác nhân hạng hai, hạng ba như Bùi Diễm, Trần Văn Ân, Tôn Thất Thiện, Đặng Đức Khôi, v.. v... đều có dấu vết trong kho Tư liệu Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Mỹ dưới thời chính phủ Johnson. Phía sau sân khấu chính trị miền Nam, tại các tư dinh hay công sở Mỹ, các "lãnh tụ" Việt không cao lớn và uy quyền như họ muốn chúng ta phải tin. Bởi thế, mới có hai thành ngữ thời đại: sự "dốt nát hào nhoáng " (the shining ignorance) và sự "lừa dối sặc rỡ" (the colorful lies).

Đặc biệt có giá trị là những công điện trao đổi giữa Sài Gòn và Oat-shinh-tân trong giai đoạn 1964-1968. Một trong những tài liệu đáng chú ư là "sự hiểu ngầm" của Hà Nội trước khi Tổng thống Johnson tuyên bố ngừng oanh tạc Bắc Việt ngày 1/11/1968. Những báo cáo của Tướng Lansdale về các nhân vật Việt Nam cũng khiến cười ra nước mắt. Khó tin, nhưng có thực: Nhiều "lãnh tụ" đã lập công danh, kiếm tài lợi qua những "party" buổi tối hay giấc ngủ thiếp lả trên salon tư dinh Tướng Lansdale, với những "sứ mệnh" đủ loại. Nào là Mặt Trận Cứu Nguy Dân Tộc, nào là đoàn thanh niên, hay trại hè thiện chí. "Lãnh tụ thanh niên", chẳng hạn, từng giao nạp hồ sơ bốn học sinh tình nguyện cứu trợ nạn nhân chiến tranh cho cơ quan an ninh vì tình nghi họ là Cộng Sản. Nhưng ác độc nhất là việc diễn giải tấm biểu ngữ cứu trợ nạn nhân chiến tranh của Phật giáo là "có khuynh hướng thân Cộng." Cũng may, sau đó người Mỹ quyết định bỏ rơi miền Nam Việt Nam, bằng không chẳng hiểu chuyện gì xảy ra với những "lãnh tụ ... cổng hậu tư dinh quan tướng tình báo ngoại quốc này!"

Các "lãnh tụ" miền Nam, như Bùi Diễm, trong hồi kư In the Jaws of History, Trần Văn Đôn, trong Our Endless War, và Nguyễn Cao Kỳ trong Twenty Years and Twenty Days chẳng thấy đá động gì đến những chi tiết phía sau hậu trường, chỉ thấy khoe mình tài, mình giỏi, mình quân tử. Việc quá nhỏ để nhớ hay nhắc đến trong hồi kư chăng?

Huỳnh Văn Lang, trong hồi kư Nhân Chứng Một Chế Độ (3 tập), và Y sĩ Đặng Văn Sung, qua buổi phỏng vấn riêng của tôi năm 1997, ít tháng trước ngày ông từ trần, tự chứng tỏ lương thiện hơn nhiều người đồng thời. Cả hai đều thú nhận hợp tác chặt chẽ với cơ quan tình báo Mỹ. Và không như nhiều người đóng vai ngụy quân tử, chụp mũ cho người khác là "CIA" hay "Xịa."

Lật dở những trang tài liệu quản thủ kỹ lưỡng, khác hẳn với những hồ sơ dầy bụi thời gian của văn khố Pháp, hơn một lần tôi thoáng nhớ đến những chữ "Moise", "Jacobs" và "giải phóng" trong thư "Petrus Key" gửi "Grand Chef" Jauréguiberry vào cuối tháng 3/1859 (do một linh mục ở Vĩnh Long chuyển) để thúc dục "những sứ giả của Thiên Chúa [Ki-tô]" này xâm lăng Đại Nam cho nhanh; hay, ba chữ "bol de riz" (bát cơm) bảo hộ Pháp của dòng họ Ngô mà Ngô Đình Khôi đã nhờ Ngô Đình Nhu chuyển lời cho Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Paul Arnoux vào tháng 8/1944 trong các văn khố Pháp. (Xem Vũ Ngự Chiêu, Các vua cuối nhà Nguyễn, tập III)

Cơ trí, ắt cơ tâm. Những "lãnh tụ" của hạ bán thế kỷ 20 có vẻ khôn ngoan và thông minh hơn những người của thế hệ trước. Những tấm lòng yêu nước ... Pháp và Mỹ mới (ít nữa thì trên đầu môi chót lưỡi) chẳng hiểu nên nhớ hay quên? Đây mới là những "bí ẩn" lịch sử mà người ta cố che đậy, dấu diếm, chẳng khác gì người Cộng Sản cố tình tô lục chuốt hồng cho Hồ Chí Minh ... suốt đoạn đường "cứu nước" và "yêu nước" ... chủ nghĩa xã hội!

Sự khác biệt giữa người học sử chuyên nghiệp và những người thích "bí ẩn" là người học sử cố gắng xuyên suốt những dữ kiện chính xác thành một diễn giải lịch sử khoa học, khách quan tối đa; những người thích công bố "bí ẩn" thường mang tư tâm "xây dựng kỳ đài" hay "đào mộ" nào đó. "Bí ẩn" bởi thế thường chỉ là những câu chuyện bên tách cà-phê, ly ruợu mạnh, hoặc bàn mạt chược, chiếu xóc đĩa, chắn cạ nhằm xuyên tạc, mạ lÿ kẻ thù, xưng tụng, bái lạy chủ cũ bằng thứ lư luận "rẻ rách ... sinh chuột con." (Đáng buồn hơn nữa là dăm ba người có đôi chút học thức chuyên đi ăn cắp công trình nghiên cứu của người khác–nhất là những tài liệu do tôi phát hiện tại các văn khố–in vào "sách" của họ, rồi cao giọng chỉ trích–nhưng chỉ phơi bày rơ ràng hơn sự ngu dốt và điêu ngoa hào nhoáng của loài tinh tinh tân thời).

Đáng tiếc là văn khố LBJL vẫn chưa giải mật một số hồ sơ. Như tài liệu về buổi gặp mặt giữa Tổng thống Johnson và Giáo Hoàng Paul VI ngày 23/12/1967. Tài liệu về vụ bà quả phụ Anna Chennault móc nối Bùi Diễm cùng Nguyễn Văn Kiểu để làm gió cho ứng cử viên Richard Nixon của Đảng Cộng Hòa trong cuộc tranh cử Tổng thống 1968 cũng chưa có tính cách thuyết phục, vì chỉ là những ý kiến riêng của các nhân vật như McGeorge Bundy, Nguyễn Cao Kỳ, Bùi Diễm, v.. v... Hai thư viện Tổng thống khác sẽ lôi cuốn nhiều nhà nghiên cứu trong những năm tới là Thư viện Richard Nixon và thư viện Gerald Ford.

B. BIÊN KHẢO:

Đặc biệt giai đoạn cận đại có nhiều biên khảo bằng Việt ngữ cũng như ngoại ngữ khá giá trị. Những học giả nổi danh về Việt Nam có David G. Marr, Pierre Brocheux, Nguyễn Thé Anh, v.. v... Về các học giả Việt trong nước, một số đã được ra ngoại quốc tu nghiệp hay khảo cứu tại các văn khố. Nhưng đa số biên khảo trong nước còn bị hạn chế về tài liệu, tức thiếu những chi tiết chính xác về thời gian cũng như dữ kiện. Dĩ nhiên, cũng có những biên khảo chẳng nhắm mục đích gì khác hơn tuyên truyền, lập danh, hoặc vì đôi chút tài lợi.

Vì trước năm 1975, hầu hết tác giả Việt không được sử dụng tài liệu văn khố hay tư liệu nguyên bản, nên thường có tình trạng sao chép giây chuyền lỗi lầm của người đi trước. Trường hợp các Thánh lệnh của Giáo hoàng Ki-tô trong việc phân chia thế giới cho Portugal (Bồ Đào Nha) và Espania (Tây Ban Nha) trong thế kỷ XV chỉ là một thí dụ nhỏ. Hay việc Pháp đưa Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân, Khải Định, Bảo Đại lên ngôi, v.. v... dưới "thiên mệnh Đại Pháp."

Ngoài ra, vì ảnh hưởng của chế độ Bảo hộ Pháp cũng như các thế lực bản xứ, các nhà nghiên cứu không được tham khảo các tư liệu bất lợi cho mục tiêu khai hóa của người Pháp (tức biến Việt Nam thành một nguồn cung cấp vật liệu thô và nhân công rẻ tiền, đồng thời cũng là một thị trường đóng kín cho hàng hóa Pháp, và vùng đất để rao giảng đạo Ki-tô Vatican). Bởi vậy, hầu hết sử sách viết về giai đoạn này hiện đang lưu hành–ngoại trừ các bộ quốc sử triều Nguyễn–đều ca ngợi công lao khai hóa của người Pháp. Vài dòng ngắn ngủi của Trương Vĩnh Ký để kết thúc bộ Bài giảng sử An-Nam-Mít [Cours d’histoire annamite] là một thí dụ tiêu biểu.[ Xem bài Petrus Key].

Bởi thế, người ta thấy xuất hiện những loại văn sử không những chỉ sai lầm về dữ kiện mà còn méo mó nguy hiểm về lối giải thích hay lập luận (vì tác giả thuộc giới trung gian bản xứ, hoặc vì không dám làm mất lòng các quan chức bảo hộ cùng những nhà truyền giáo và giáo dân nặng mang tinh thần Trung cổ, nếu không phải với chủ đích cung văn những tác nhân trên). Ngay đến vài sử gia cũng tìm cách tránh đối diện những sự thực gai góc về phong trào trào thực dân Ki-tô/vật bản từ thế kỷ XVI tới thế kỷ XX. Bất cứ ai dám công bố những sự thực lịch sử do mình dày công sưu tầm thì lập tức bị vu cáo có dụng tâm "nói xấu" cá nhân này, tôn giáo nọ, hay "sai lầm." Nên chẳng có gì ngạc nhiên khi thấy những người như Petrus Key (Trương Vĩnh Ký) hay các công thần của chế độ Bảo hộ Pháp và con cháu họ (như Ngô Đình Khả, Ngô Đình Thục) thanh thản và mạnh bạo gọi những người chống lại chế độ Bảo hộ Pháp là "rebelles" (giặc hay phiến loạn). Giống như sáu trăm năm trước, Lê Tắc đã dùng những thuật ngữ "bản nghịch" (những tên phản loạn) hay "yêu đảng" để gọi hai Bà Trưng, Bà Triệu Ẩu, hay Lư Bí, Dương Thanh, v.. v...

C. BÁO CHÍ:

Các tài liệu báo chí cũng khá phong phú. Từ cuối thế kỷ XIX, báo chí đã lưu hành ở Việt Nam, đặc biệt là Nam Kỳ thuộc Pháp (Cochinchine). Những tựa báo quan trọng có Courrier SaigonaisGia Định Báo. Ngoài ra, còn các báo tư nhân như L’Avenir du Tonkin. Người nghiên cứu cũng nên tham khảo các báo Pháp ngữ tại chính quốc (Pháp) và Trung Hoa (như tờ Gazette de Peking).

Qua thế kỷ XX, báo chí được chuyên nghiệp hóa ở cả ba miền. Người nghiên cứu ít nhất phải tham khảo các tờ báo chính như Trung Bắc Tân văn, Nam Phong, Thanh Nghị, Tri Tân ở miền Bắc; Tiếng Dân ở miền Trung; cùng các báo La tribune indigène, La tribune indochinoise, Nam Kỳ Lục Tỉnh, v.. v... ở miền Nam. Tuy nhiên, sử dụng các tài liệu này cần cực kỳ thận trọng. Nghề báo tại một nước bị Pháp xâm chiếm như Việt Nam khó thể nói đã trưởng thành và có được Đệ tứ quyền. Đó là chưa kể những dụng tâm chính trị của các chủ báo. Nên so sánh với các tài liệu văn khố của các cơ quan an ninh thuộc địa Pháp để hiểu thêm về chính sách truyền thông của người Pháp. Học giả David Marr là người đã sử dụng khá nhiều tư liệu báo chí.

D. HồI Ký:

Hồi ký là một kho tài liệu khá có giá trị. Hầu hết các viên chức cao cấp Pháp đều viết về những sinh hoạt của họ tại Đông Dương. Tác nhân Việt thì rất ít người viết hồi ký. Mở đầu phong trào này là hai cuốn nói về chuyến đi sứ Pháp và Espania của Phan Thanh Giản và Phạm Phú Thứ (1864). Rồi đến Chuyến đi Bắc Kỳ năm 1876 của Petrus Trương Vĩnh Ký, Đi Tây của Phạm Quỳnh. Phạm Duy Khiêm cũng có hai tập hồi ký nói về cuộc phiêu lưu sang Pháp làm thông ngôn cho lính thợ [ONS].

Hai cuộc chiến 1945-1954 và 1959-1975 sản xuất khá dồi dào hồi ký. Đa số nhân vật ngoại quốc (Nhật, Trung Quốc, Pháp, Mỹ, v.. v...) đều viết hồi ký. Nhiều tác nhân Việt cũng có hồi ký, đặc biệt là phe Cộng Sản.

Dĩ nhiên, hồi ký không hoặc chưa là lịch sử. Chỉ là lời chứng trước tòa án lương tâm và dân tộc. Hồi ý Nguyễn Xuân Chữ (1996), hay Một Cơn Gió Bụi của Trần Trọng Kim (1969) là những thí dụ. Tác nhân lịch sử có thể sai lầm, trong khi kể lại các sự việc hay lư luận, nhưng đó là những điều khó tránh. Đa số dùng hồi ký để biện minh tâm trạng mình như Linh mục Cao Văn Luận, qua cuốn Bên Dòng Lịch sử (Sài Gòn: 1984) hay ông Đỗ Mậu với hai tập Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi (tái bản năm lần, từ 1987 tới 1993) và Tâm Thư (tái bản một lần).

Huỳnh Văn Lang, qua 5 tập hồi ký về đá gà, đi săn, và hoạt động chính trị cũng rọi sáng vài ba sự thực lịch sử về chính phủ Ngô Đình Diệm (1954-1963) và tâm trạng người trí thức Ki-tô miền Nam trong cuộc đảng tranh sắt máu 1945-1975. Những hồi ký khác của Tướng Nguyễn Chánh Thi, Trần Văn Đôn, Nguyễn Cao Kỳ, Tôn Thất Đính, Huỳnh Văn Cao, Lý Tòng Bá, v.. v... có những giá trị nhất định nào đó. Ngay đến cựu Hoàng Bảo Đại cũng có một hồi ký do hai người Pháp viết, Le Dragon d’Annam (Paris: Plon, 1980). Hồi ký này đã được viết lại bằng Việt ngữ, nhưng nội dung chẳng mấy giá trị, nếu không phải chứa đựng nhiều tư liệu sai lầm. Và mục đích in hồi ký của Cựu Hoàng chỉ vì nhu cầu tài chính.

Trong số các hồi ký, tập Việt Nam Máu Lửa Quê Hương Tôi Tâm Thư của Tướng Đỗ Mậu là một hiện tượng. Tập VNMLQHT được in lại nhiều lần ở hải ngoại. Ngay nhà xuất bản Công An của CSVN cũng sửa chữa, cắt xén in lại trong nước. Tại hải ngoại, vì vạch trần những sự thực không đẹp của chế độ Ngô Đình Diệm và hàng lãnh đạo Ki-tô, ông Mậu đã bị đả kích một cách tàn nhẫn và thô tục suốt nhiều năm.

Cá nhân tôi cũng bị lôi cuốn vào chốn "giang hồ gió tanh mưa máu." Có kẻ tung tin tôi đã tiếp tay hoặc giúp Tướng Mậu hoàn tất cuốn Tâm Thư của ông, dù chính tôi chưa hề biết mặt ông Mậu, và cũng không hề quen biết ở trong nước. Tôi đã giữ thái độ im lặng, vì chửi bới, vu cáo trên các tờ báo chợ là một thông lệ hơn biệt lệ ở hải ngoại. Tôi cũng quá bận rộn, không có thì giờ. Hơn nữa, theo tôi, sự thực chỉ là sự thực. Những lời chửi bới, vu cáo "rất chợ búa" Tướng Mậu, hay những người có can đảm công bố sự thực về gia đình Ngô Đình Khả-Ngô Đình Diệm (như ông bà Nguyễn Mạnh Quang) cùng những tập đoàn "trung gian bản xứ" khác chắc chắn không thể làm đẹp hơn cho họ. Và chắc chắn không thể làm giảm giá trị của những sự thực đã được công bố. Chẳng ai có thể gói lửa bằng giấy.

Riêng những hồi ký của các tác nhân Cộng Sản cũng không hoàn toàn vô giá trị như một số người muốn chúng ta phải tin và tuân lệnh. Các hồi ký của Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Trần Văn Trà, Lê [Trịnh?] Trọng Tấn, Hoàng Văn Thái, Trần Độ, Phạm Khắc Hoè, Lê Tùng Sơn, Nguyễn Văn Trấn, Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Thị Thập, Lê Văn Hiến, Hoàng Văn Hoan–hay hồi ký của những người ngoài đảng như Vũ Đình Hoè, v.. v...– đều có chỗ dụng của chúng, nếu biết loại bỏ những khía cạnh tuyên truyền quá lộ liễu. Với chế độ Cộng Sản, không cần sự thực. Chỉ cần những mảnh vụn sự thực phục vụ cho mục tiêu chính trị giai đoạn. Ngay đến những tài liệu tự ca ngợi mình của Hồ Chí Minh, như Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch (ký tên Trần Dân Tiên), hay Vừa đi đường vừa kể chuyện (ký tên T.L.) ít nữa cũng cho người đọc thấy cách vận chuyển của hệ thống tuyên truyền Cộng Sản.

Tôi nhớ đến tiếng "Vẹm" mà dân chúng miền Bắc đã từng sử dụng để gọi tổ chức Việt Minh. Không chỉ có những lời dối trá hào nhoáng, mà còn có những lươi mã tấu sỉn máu để bắt mọi người phải coi những lời dối trá đó là khuôn vàng thước ngọc, phải sủng kính như Thánh kinh.

Với cương vị chủ bút nhà Xuất bản và Phát hành Văn Hóa, tôi đã cùng ông Nguyễn Xuân Phác thực hiện một số cước chú cho bản thảo hồi ký còn dở dang của cụ Nguyễn Xuân Chữ, và góp ý với tất cả những tác giả từng muốn nhờ chúng tôi xuất bản hay phát hành. Tôi cũng từng chia xẻ cho một số tác giả tư liệu văn khố thu thập được trong các chuyến du khảo, với hy vọng giúp người viết cũng như người đọc thấy được những sự thật không thể chối cãi của một số tác nhân lịch sử bấy lâu được tô hồng chuốt lục cho những mục tiêu chính trị giai đoạn nào đó. Tham vọng nhỏ bé của tôi là trả sự thực cho lịch sử. Vì chỉ có sự thực lịch sử mới giúp người Việt thoát được những cơn giông bão triền miên của thế cờ chiến lược quốc tế, cùng những tham vọng ngoại cường. Cá nhân tôi không hề có tham vọng chính trị, trước cũng như sau năm 1975.

Những điều cần làm, đã, đang, và sẽ làm, chỉ hướng về một tương lai tốt đẹp hơn cho đất nước và dân tộc nói riêng, cũng như sự cảm thông của nhân loại nói chung.

III. NGHIÊN CỨU THỜI HIỆN ĐẠI

Việc nghiên cứu thời hiện đại, tức từ 1975 tới nay, vô cùng khó khăn. Các tư liệu thường rất hạn chế, phần lớn dựa theo tin tức tình báo và ngoại giao cùng báo chí.

Tuy nhiên, đôi khi, người nghiên cứu có được những tài liệu cực kỳ quí báu. Cuộc xâm phạm Việt Nam của Hồng quân Trung Quốc năm 1979, và cuộc chiếm đóng Kampuchea của Cộng Sản Việt Nam từ 1978 tới 1989 giúp người nghiên cứu nhiều tư liệu về liên hệ giữa Trung Cộng, Việt Nam và Kampuchea. Trong số những chi tiết đáng kể có việc Quân ủy Trung Cộng cùng các Tướng Trần Canh, Vi Quốc Thanh, v.. v... đã thực sự chỉ huy các trận đánh Cao Bằng-Lạng Sơn (1950) hay chiến dịch Điện Biên Phủ (1954); Chu Ân Lai ép buộc Hồ Chí Minh phải chấp nhận tạm thời chia đôi Việt Nam theo vĩ tuyến 17 tại Hội nghị Geneva (7/1954); hay, tháng 9 năm 1958, Hồ Chí Minh đã sai Phạm Văn Đồng viết thư cho Chu Ân Lai, nhìn nhận lãnh hải do Bắc Kinh công bố để có quân viện đánh chiếm miền Nam.[ Xem Phụ Bản]

Nhưng cho tới năm 2009 này, các sử quan Cộng Sản hay "xã hội chủ nghĩa" vẫn nhất định nhắm mắt lại mà ca ngợi công ơn vĩ đại của những Karl Marx, Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, hay Hồ Chí Minh. Các sử quan và văn nghệ sĩ trong nước từng được Trường Chinh Đặng Xuân Khu nhiều hơn một lần dạy bảo rằng văn chương, thơ phú hay sử học phải bám sát và phục vụ mục tiêu chính trị giai đoạn của Đảng Cộng Sản Việt Nam. Bất cứ ai không nhìn thấy được sự vĩ đại của Liên Sô, Trung Quốc, hay tư tưởng Hồ Chí Minh (khi cần thiết) đều bị xếp hạng là kẻ thù của "nhân dân," phản động, và ngay cả Việt Gian. Bởi thế, sử sách Việt Nam bị ô nhiễm bởi những lời xưng tụng Stalin như cha già của Hồ Chí Minh, hay ông nội của thanh thiếu niên Việt trong thập niên 1950. Thứ "tinh thần Hồ Chí Minh" này có đáng nuôi dưỡng, phát huy để soi sáng cho quốc dân Việt trong thế kỷ 21 hay chăng?

Chưa một ai, nhưng chắc chắn sẽ có người, làm một cuộc so sánh những văn thư ngoại giao thời Việt Nam phong kiến với thư từ trao đổi giữa Đảng Cộng Sản Việt Nam và Liên Sô hay Trung Cộng.

Một triết gia Tây phương từng viết: "Không ai có thể tắm hai lần trong cùng một dòng nước." Nhưng cổ nhân cũng dạy rằng: "Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ." Đại họa của thế nhân thường do không chịu học hỏi những bài học lịch sử. Ai nấy đều muốn quên đi những chuyện buồn dĩ vãng, gìn giữ những niềm vui, nỗi sướng cũ như một túi hành trang. Đáng sợ hơn nữa là có nghĩ rằng mình đã "biết hết rồi!" những điều mà họ thực sự chẳng biết gì cả. Như huyền thoại người Mỹ đưa quân vào miền Nam để muốn độc chiếm quân cảng Cam Ranh, hay đào xới chất Uranium. Sự thực, từ những năm 1945-1946, Hồ Chí Minh nhiều hơn một lần "van nài" người Mỹ nhận hải cảng Cam Ranh, nhưng chính phủ Harry Truman (1945-1953) từ chối. [Xem Chính Đạo, Việt Nam Niên Biểu, tập I-A & B] Cho tới đầu thế kỷ XXI, người Mỹ vẫn rất hững hờ trước lời mời gọi khai thác cảng Cam Ranh. Và, chưa một nhà khoa học Việt nào phát hiện mỏ Uranium ở Đông Dương–ngoại trừ một quặng non ở Pia Ouac, do một chuyên viên "người Việt mới" gốc Nhật phát hiện trong giai đoạn 1947-1948. Mỏ Uranium này còn nằm trong lãnh thổ Việt, hay đã cắt nhượng cho Trung Cộng?

Với một dân tộc như dân tộc Việt–một dân tộc kiêu hùng bảo vệ sự sinh tồn của mình bằng máu và nước mắt từ nhiều ngàn năm qua–bài học dĩ vãng luôn luôn là tấm gương soi mặt ngàn năm. Nhờ vậy, dù không so sánh được với các cường quốc, tổ tiên ta đã để lại cho con cháu một giải giang sơn gấm vóc làm vốn liếng. Tàn phá những tư liệu lịch sử, hay không bảo quản đúng mức các kiến trúc cổ thời, các kho văn khố, là tội ác văn hóa khó tha thứ. Nói chi việc nổi lửa thiêu đốt văn hóa phẩm của miền Nam Việt Nam. Đào xới các di tích khảo cổ đem bán làm đồng vụn, sắt vụn. Vì một chút tài lợi cỏn con mà ngụy tạo lịch sử, trắng đổi làm đen.

Một dân tộc thiếu sự lương thiện trí thức hẳn khó thoát cảnh nô lệ ngoại bang.

Houston, 11/2000-9/3/2009

Nguyên Vũ Vũ Ngự Chiêu

Copyrighted 2002, 2009; All Rights Reserved

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
30 Tháng Mười Hai 20252:20 SA(Xem: 5430)
Dẫn Nhập: Sau khi đọc bài viết thứ 7 mới đây, một chuyên gia về môi trường từ Đại học Cần Thơ nhận định: “Hiện nay, giữa Thái Lan – Cam Bốt đang có đấu pháo tranh chấp biên giới, chưa dừng được, phần thua thiệt có lẽ nghiêng về phía Cam Bốt nhiều hơn, dù ông TT Trump có gọi điện can thiệp. Có lẽ dự án kênh Funan Techo tiếp tục bị "treo", khó triển khai lúc này, dù đã gần 3 năm Hun Sen phát lệnh khởi công.” Một số bạn đọc ở trong và ngoài nước cũng có cùng nhận định như vậy. Và đây là bài viết thứ 8 như một Đánh giá Phân tích Ảnh hưởng cuộc xung đột biên giới giữa Thái Lan – Cam Bốt trên Tiến độ Công trình Xây dựng Kênh đào Funan Techo. Bài này được viết từ ngày 07.12.2025 khi cuộc chiến tranh biên giới Cam Bốt – Thái Lan tái bộc phát, cuộc chiến đã bước sang ngày thứ 20 với nhiều thương vong cho cả hai bên.
30 Tháng Mười Hai 20252:15 SA(Xem: 6704)
Nhờ có Facebook mình và Miên đã gặp lại nhau. Cô bạn thuở xưa của tuổi học trò đầy mơ và mộng. Bây giờ mỗi đứa một mảnh đời riêng, Miên sung sướng bình yên và hạnh phúc bên chồng. Mình gãy cánh uyên ương từ khi còn rất trẻ nhưng cuối cùng mình cũng có được chút hạnh phúc bình yên bên con và cháu của mình. Hai đứa gặp nhau mình tíu tít kể chuyện vui buồn nhắc chuyện ngày xưa.
29 Tháng Mười Hai 20252:21 SA(Xem: 6219)
Tôi là người vượt biển. Một người tỵ nạn của những năm đầu thập niên 80. Đặt chân lên đất Mỹ với hai bàn tay trắng và vài bộ quần áo cũ — cùng một niềm tin mỏng manh rằng, ở đâu đó phía trước, đời mình rồi cũng sẽ có mùa đông bớt lạnh. Đêm Giáng Sinh vừa qua, trong căn nhà yên ắng, con gái tôi kể lại một câu chuyện cũ. Một mùa Giáng Sinh của nhiều năm về trước, khi anh em nó còn đang đi học, khi BA tôi — ông nội của tụi nhỏ — vẫn còn ngồi đó, chậm rãi nhìn quanh căn phòng. Hôm ấy, gần đến lễ Noel, ông nội bỗng chép miệng, giọng buồn buồn: “Nô-en năm nay sẽ vui biết mấy nếu nhà mình có cây thông để đón lễ Chúa Giáng Sinh…” Nói xong, ông im lặng. Khuôn mặt già nua thoáng một nỗi buồn không giấu được.
25 Tháng Mười Hai 20251:09 SA(Xem: 5732)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
21 Tháng Mười Hai 20252:39 SA(Xem: 8489)
Thầm dỗ Ngủ yên Ngủ yên nhe Cây mùa đông Sợi thời gian Dali chảy dài thương đợi Chờ xanh miết trời xanh Giấc mơ thiên nga và thời gian miên man Mọc trên cành khô Gọi người Người sẽ về Từ phía biển Tôi biết từ lâu Nỗi chợ đợi biển khơi
21 Tháng Mười Hai 20251:47 SA(Xem: 4670)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
17 Tháng Mười Hai 20255:00 CH(Xem: 5852)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
17 Tháng Mười Hai 20253:02 CH(Xem: 9485)
MƯA không phải là một bài thơ, mà là một trường thi của hiện sinh, nơi mưa trở thành một thực thể siêu hình: mưa của thời gian, mưa của ký ức, mưa của lưu lạc, và mưa của chữ nghĩa tự vấn chính mình. Ngay từ khổ đầu, Thi sĩ Nguyễn Chí Trung đã đẩy mưa vượt khỏi phạm vi tự nhiên để đặt nó vào trường độ lịch sử và siêu lịch sử: “mưa từ thượng cổ đến nay”. Mưa ở đây không gột rửa mà làm meo mốc ký ức, phủ rêu lên những “ngày vui qua”, những ngày “như ngọc như ngà” nhưng chỉ còn tồn tại như một hình thức của nhớ, không còn là thực tại. Đó là mưa của thời gian bị hỏng.
17 Tháng Mười Hai 20252:52 CH(Xem: 5551)
Đặc biệt là với bộ phim: “Rang De Basanti” sản xuất năm 2006 (Hãy tô màu nghệ cho tôi - nguyên gốc tiếng Hindi có nghĩa: Hãy vẽ tôi bằng màu sắc mùa xuân) của đạo diễn Rakeysh Omprakash Mehra, bộ phim đã phá vỡ toàn bộ các kỷ lục phòng chiếu trong lịch sử điện ảnh Ấn Độ và sau đó chiến thắng nhiều giải thưởng quốc tế quan trọng; và bộ phim “The Last Film Show” sản xuất năm 2021 (Buổi chiếu phim cuối cùng) của đạo diễn Pan Nalin - người xem phim Việt có thể tìm thấy dân tộc mình trên con đường đẫm máu đến với Tự do & Dân chủ và đồng thời tìm đến với Nghệ thuật thứ Bảy như một phương tiện hữu hiệu bậc nhất để tuyên truyền và giáo dục dân chúng.
13 Tháng Mười Hai 202510:23 CH(Xem: 5005)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9326)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16158)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15175)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15515)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 900)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 1237)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 1330)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
23 Tháng Tư 20269:06 CH(Xem: 1818)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3585)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 5403)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 4974)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 5580)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 1099)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
24 Tháng Tư 202612:31 SA(Xem: 1408)
Bây giờ trăng đã lên trên khỏi lầu Ông Hoàng một phế tích của người Pháp để lại nằm trên một ngọn đồi Thơ mộng do Quận công Ferdinand D'Orléans xây dựng ngày 21 tháng 2 năm 1911 vì ông thấy nơi đây cảnh đẹp rất hữu tình,đứng trên lầu nhìn bao quát cả một vùng biển đẹp tuyệt vời trên mặt biển những chiếc thuyền đánh cá đã lên đèn nhấp nhô trên mặt biển,bờ cát trắng trải dài ngút ngàn và rừng dừa im lặng xõa tóc đón những cơn gió nhẹ ôm bờ vai người con gái -Em đêm nay đêm cuối mình chơi cho hết mùa trăng,Bá nói với Thúy người con gái tuổi như vầng trăng đang e thẹn nấp trong những đám mây trắng trôi bàng bạc nàng đang tựa lưng vào Bá
23 Tháng Tư 20262:19 CH(Xem: 1718)
Xe lăn bánh, bụi mù mịt xóm Chùa. Tôi nhìn theo cái xe biển xanh của Thuận, vừa buồn cười vừa thấy lòng nhẹ nhõm. Thuận có làm đến bộ trưởng thì cái tính khôn lỏi, dỗi dai và cái kiểu "anh anh em em" nửa đùa nửa thật để rồi dúi vào tay người khác cái chổi quét nhà, con dao băm bèo, thái khoai chắc cũng chẳng bao giờ bỏ được. Mà thôi, cái làng Đá này nếu thiếu một thằng Thuận cứ thích bĩu môi, thích mắng người khác là "ngu lắm cơ" rồi nguây nguẩy cái mông quay mặt đi cười thầm thì chắc cũng chẳng còn chuyện hay ho gì để mà kể.
19 Tháng Tư 202611:05 CH(Xem: 1692)
Biển Nha Trang có những ngày lặng gió. Nước trong xanh. Nhưng cái lặng ấy không phải lúc nào cũng bình yên. Có những cơn sóng được giấu rất sâu. Cuộc đời Thục Nhi cũng vậy.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1366)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1242)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 1491)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 1539)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 12209)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28583)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35080)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 34972)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9732)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 11938)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 904)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 1237)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 1818)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 1956)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 2260)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 6956)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6388)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 8313)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.