- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

NHỮNG VA CHẠM HAI MẶT – XÉT TỪ CẢM THỨC THƠ HẬU HIỆN ĐẠI

12 Tháng Năm 201112:00 SA(Xem: 118841)


hoangthuy_anh-content

 Hoàng Thuỵ Anh


LTS: Lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu, Hoàng Thuỵ Anh hiện sống và làm việc tại thành phố Đồng Hới. Chúng tôi trân trọng giới thiệu những bài viết của tác giả Hoàng Thuỵ Anh đến với quí văn hữu và bạn đọc của Hợp Lưu.

TCHL


Con đường thơ ca nhân loại ngày một dung nạp thêm nhiều giọng mới: thơ nữ quyền luận, thơ tân hình thức, thơ trình diễn, thơ thực hiện... Tự thân, nó đã thể hiện nhu cầu thay đổi, khác trước. Các khuynh hướng ấy, dù muốn hay không đã nằm trong guồng quay của cảm quan hậu hiện đại.

Hậu hiện đại đang còn là vấn đề nóng bỏng đối với các nhà nghiên cứu - phê bình trên thế giới. Việc cổ xúy hay bài xích nó chưa có hồi kết. Theo Nguyễn Văn Dân, các nhà nghiên cứu như: F. Lyotard, R. Ruland, B. Smith, L. Fiedler, I. Hassan, R. Stern... đều có ý kiến khác nhau về thời kì hậu hiện đại (xê dịch từ khoảng 1940 đến 1980), nhưng tương đồng về cách xác định đặc điểm hậu hiện đại trong nghệ thuật. Họ đều lấy chủ nghĩa hiện đại làm yếu tố quy chiếu để xác định cái gọi là chủ nghĩa hậu hiện đại. Xuất phát từ những kiến giải của mình, ông khẳng định: chỉ nên dùng khái niệm “hậu hiện đại” cho kiến trúc và hội họa, còn trong các lĩnh vực khác, đặc biệt là trong văn học, thì không nên dùng nó, mà chỉ nên dùng khái niệm “[chủ nghĩa] hiện đại”, hoặc cùng lắm thì dùng khái niệm “[chủ nghĩa] tối [hoặc siêu] hiện đại”[1].

Tuy không đồng nhất về khái niệm hậu hiện đại, thời kì hiện đại, chủ nghĩa hiện đại giữa các nhà nghiên cứu phương Tây lẫn ở phương Đông, song vẫn cần có những đặc trưng để xác định các yếu tố trong thơ hậu hiện đại. Paul Hoover (Hoàng Hưng dịch) nêu ra một số đặc điểm của thơ hậu hiện đại Mỹ: hướng về một thứ thơ “hữu cơ”, hữu nhân cách (đầy cá tính, personal), thơ đọc miệng; khuyến khích một quan điểm “toàn thị” (panoptic) hay cái nhìn từ nhiều phía; ưa thích “những chữ rỗng” (empty words) hơn là “cái thụ nghĩa mang tính siêu nghiệm”, cái có thực hơn cái siêu hình; cái chết của Thượng Đế và tác giả, sự vay mượn trở thành một phương sách ngự trị; không có kết thúc nào để đi đến, câu chuyện kể lặp lại chính nó với sự chồng chéo và đôi khi là những phiên bản trái ngược; đào sâu sự lạ lùng, ưa thích cái phi lý tính và bộc phát hơn là cái lịch thiệp và trau chuốt; ngẫu hứng ngôn từ và cảm thức Jazz trong nhịp điệu; mang tính công chúng, trực tiếp, trình diễn, trần tục; ưa thích đối với lối nhại; giải phóng ngôn ngữ khỏi cú pháp; văn bản ở trong tình trạng bất định; câu trở thành một sự khuyếch trương của chính cơ thể... Đó là lí do để ông cho rằng: “thơ hậu hiện đại chống lại các giá trị mang tính trung dung của sự thống nhất, ý nghĩa, tuyến tính, tính biểu đạt, và một chân dung được tâng bốc thậm chí mang tính khoa trương của cái tôi trưởng giả và những bận tâm của nó” [2]. Từ những đặc điểm này, chúng ta có thể soi chiếu sự tác động của nó đến thơ hậu hiện đại Việt Nam.

Thơ hậu hiện đại bùng lên ở các nước phương Tây và ảnh hưởng kéo dài đến các nước phương Đông. Ở Việt Nam, những sáng tác của nhóm trường thơ Loạn, Xuân Thu Nhã Tập, Dạ Đài lúc bấy giờ ít nhiều đã có sắc thái hậu hiện đại. Nhưng phải từ khoảng những năm 1980 đến nay, sáng tác theo tâm thức thơ hậu hiện đại mới thực sự nở rộ: Nguyễn Quang Thiều, Thanh Thảo, Nguyễn Đình Chính, Lê Vĩnh Tài, Mai Văn Phấn, Inrasara, Trần Quang Quý, Hoàng Vũ Thuật, Lê Xuân Đố, Trần Quang Đạo, Văn Cầm Hải, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Đinh Thị Như Thúy, Ly Hoàng Ly, Trần Tuấn,... nhóm Mở Miệng, nhóm Ngựa Trời,... Sự góp mặt đông đảo của đội ngũ này đã mở rộng lãnh thổ thơ ca và đưa đến những cách nhìn mới, suy nghĩ mới, đánh giá mới trong tiến trình phát triển.

Va chạm thơ hậu hiện đại phương Tây, Nguyễn Quang Thiều đưa vào thơ muôn mặt rệu rã của cuộc sống qua tâm trạng vừa bất lực vừa khát khao của “gã” - một cái “tôi” khác của nhà thơ vào khoảnh khắc “Những chữ buổi trưa ngày 29/08”:

Gã chống lại những con chó đái ở góc phố

Gã chống lại những đồng tiền

Gã chống lại những chính trị gia

Gã chống lại một văn bản khác văn bản gã viết

Gã chống lại khu phố gã ở và uống bia suốt trưa

 ... 

Gã chống lại những cô gái bán dâm mà gã viết thơ tặng

Gã chống lại những người nhiều tiền mà gã bắt tay

Gã chống lại một chiếc xe hơi đi qua mà gã không sở hữu được

 

Nhưng gã lại không bao giờ chống được

Cái lưỡi thô tục và tham lam của gã

Đang cuống cuồng bò trong vòm miệng nhớp nháp của gã

 Nghệ sĩ, cái thiết yếu là phải sống với ngôn từ của mình. Ngôn từ biểu hiện cá tính sáng tạo của mỗi người. Nếu chống được sự “thô tục”, “tham lam”, chống lại được những rào cản thì lúc đó nhà thơ mới nói đúng giọng mình, đúng ngôn từ của mình. Khoảnh khắc ấy là bản lĩnh của nhà thơ. Nhưng cũng mở ra một con người khác của nhà thơ trước ngày 29/08: cạn kiệt, trống rỗng.

 Thanh Thảo là nhà thơ liên tục đổi mới bút lực của mình. Với quan niệm, làm thơ phải tìm kiếm trong cái đơn giản để hướng thơ mình đi vào cội rễ của bản chất đời sống: tôi tiêu những ngày của mình như mưa xuống cát...// bây giờ tôi dè sẻn từng chiếc lá/ trên cành/ cái hộp diêm nhốt dế than tôi nhốt chút hơi ấm/ mùa đông chút gió mát mùa hè/ cái hộp diêm sờn mờ nhãn hiệu/ qua mặt tôi một đứa bé chống nạng tập đi lúc/ năm giờ sáng/ một chiếc xe tải xả khói đen vào thiên niên kỉ mới/ một người đàn bà mất trí nhớ chạy về ánh đèn đường/ phía sau lưng rạng đông/ những con thiêu thân tạm dừng cuộc kiếm tìm” (Khúc chậm 2000). Trước giờ khắc chuyển giao, nhà thơ nhận ra được những mặt trái của cái thế giới đang mở hoang hoác. Thế giới cũ đang qua đi và thế giới mới lại đến, ngỡ là đổi thay, nhưng cũng chỉ là hình thức chuyển giao từ chiếc lồng này sang chiếc lồng khác mà thôi:

bây giờ tôi biết
những thế giới khác
cũng thế thôi

 

như con chim tập yêu chiếc lồng của mình
nhưng không cần tập hót

 Cách nhìn về thế giới, về cuộc sống của Thanh Thảo đã thay đổi tâm thế thơ và hình thức thơ ông. Chính Mai Bá Ấn đã rất tinh tế nhận xét: Tư duy thơ Thanh Thảo “đã nghiêng hẳn về lối sáng tác của chủ nghĩa hậu hiện đại. Chính lối tư duy thơ này đã khiến Thanh Thảo cấu trúc tác phẩm thơ hoàn toàn mở, nhằm “rủ rê” sự tham gia của người tiếp nhận theo quan niệm "cái chết của tác giả" của chủ nghĩa hậu hiện đại” [3].

Bằng cách thể hiện khát vọng của kiểu “sống lùi”, Inrasara nhại chính cái thế giới mà mình đang sống: “Tôi sống trong cộng đồng mà mọi thứ/ đều lùi. Những đám cây mọc lùi nhỏ/ dần vào hạt mầm, tận kiếp trước hạt/ mầm.../ Những ý tưởng nghĩ lùi về// thời tiền sử, bản chép tay mọc thêm/ trang lật lùi như thể hết làm thất/ lạc. Ngôi nhà cô hàng xóm thuở bé/ thơ đổ nát được dựng trở lại...” (Sống lùi). Thế giới đã “băng hoại”, không còn giữ những giá trị xưa. Câu thơ vắt từ dòng này sang dòng khác, khổ này sang khổ khác, nhân lên khao khát sống lùi: sống lùi để những cái “đổ nát được dựng trở lại” và gieo mầm cho sự hồi sinh.

Xoáy vào tâm thức thơ hậu hiện đại, Nguyễn Đình Chính cũng hết sức táo bạo trong cách phát ngôn. Mi (zê) xuất hiện rất nhiều lần trong tập thơ Chẹc chẹc (Tân hình thức publishing club ấn hành, Hà Nội, 2010) của ông. Đó là sự phân thân của nhà thơ. Nhà thơ phân thân cái “mi” (zê) của mình để chất vấn, để bày tỏ một cách trung thực những phức tạp của cuộc sống. Nhờ vậy, cuộc sống hiện thực được phơi bày trần trụi, con người được tự do tuyên bố chính kiến của mình. Trước cái ngột ngạt, bất mãn của cuộc sống, mi (zê) bật lên tiếng chửi. Chửi một cách không thương tiếc khi tất cả mọi thứ trong thế giới đều bị cào bằng: “trí thức cụp tai uống trà chửi đổng/ trí thức cụp tai ngồi bàn nhân sự/ trí thức cụp tai xin phiếu bé ngoan// cục cứt mày cứ ngủ ngon/ sớm mai mới bị khai trừ (tống cổ) khỏi thơ// chẹc chẹc// trong cái thế giới bị là phẳng này hóa ra lại dễ chơi quá” (Giã biệt cứt). Lối viết táo bạo, pha sự giễu nhại, không che giấu, người đọc có thể có cảm giác khó chịu, nhưng cái khó chịu ấy sớm nhường chỗ cho sự bằng lòng với tư duy của nhà thơ. Nhà thơ “trực ngôn” mới nói hết cái oái oăm nhân thế (trí thức cụp tai) đang nhan nhãn trong xã hội.

Nếu Nguyễn Đình Chính “đùa giỡn” với tầng lớp trí thức thì Lê Xuân Đố lại chú tâm đến trò chơi ngôn từ và ngữ nghĩa. Với phong thái “giọng muối”, Lê Xuân Đố tháo rời các con chữ: phố Phái đội giấc mơ rêu tỉnh lại/ râu các bậc thức giả mọc rễ cổ thụ/ các khe hở quá khứ được ánh sáng tòa kính cao ốc mời gọi/ cắt giữa đường biên dự án lửng lơ// các tiến sĩ Quốc Tử Giám ở lại một mình ngẫm lại bia đá/ khoảng lặng cần thiết của lịch sử/ những con rùa đá vuột khỏi chân bia đi làm dịch vụ/ biểu diễn sương khói Tây Hồ. Gặp lại nhé. Những con chữ mở ra các mảnh ghép khác nhau nhờ sự nới lỏng, bỏ ngỏ bằng khoảng lặng ngoài văn bản:

đường lượn quanh Bờ Hồ là giải lụa mềm thiết tha buộc mở

vũ điệu ánh sáng đa sắc màu tiếng nói

đô thị màu nhiều ẩn ý

(Đô thị màu)

Xiếc chữ, tung hứng chữ bằng những câu thơ không vần điệu để nổi bật những gam màu khác nhau của Hà Nội: mơ-tỉnh; quá khứ-hiện tại... Do đó, thơ Lê Xuân Đố luôn có sự đối nghịch giữa hai bè giọng: bè trầm-quá khứ và bè cao-hiện tại. Chúng tạo nên tính đa thanh, tự giễu trong ngôn từ của nhà thơ.

Hoàng Vũ Thuật cũng đưa sự hỗn loạn, vô trật tự vào trong thơ bằng cái nhìn “lập thể”: “sương cài lên ngực màu thiên thanh/ vội vã không từ biệt/ cây cứ xanh ngoài lời/ trinh bạch vạn năm trước/ ngày cứ dài như cây// những buổi chiều lặng lẽ lên men/ bức tranh ảm đạm/ ai hát se se trong gió/ khúc du ca/ thăm thẳm tiếng người như tiếng ve// trong trái ổi thơm tho ửng đỏ/ cánh chim mơ hồ bay ra/ và/ cuốn sách bỏ quên/ đã tan thành tro bụi”. Bài thơ như một bức tranh lập thể. Nhà thơ ráp các chữ, các khổ với nhau một cách ngẫu nhiên. Cái nhìn đa điểm đưa đến sự bất định trong tâm trạng của nhà thơ khi “ngày cứ dài như cây”.

Trước luồng gió thơ hậu hiện đại, Đinh Thị Như Thúy phá ranh giới đường biên giữa các thể loại, nhờ vậy, thơ chị giàu chất văn xuôi: Giấc mơ nối tiếp giấc mơ rồi lại nối tiếp giấc mơ trong ngôi nhà màu bóng tối. Nơi ta buộc phải diễn vai và không thể tự kết thúc vai diễn của mình. Ta chờ đợi hay bị buộc phải chờ đợi phép màu giải thoát lóe lên không từ chiếc đũa thủy tinh mà từ tiếng chuông điện thoại hẹn giờ báo thức. Sự mệt mỏi ngấm ngầm vào từng rẻ xương vốn đã rã rời từ ngày rạng. Quẫy đạp trong thế giới này thật khó khăn xiết bao!...// Mơ và mơ, bóng tối và bóng tối hơn, đêm và hết đêm, ngày và ngày tàn chỉ là những mắc xích ta nắm rồi thả trong thời khắc diễn vai.// Kìa chuông reng!// ... Cám ơn bạn đã sử dụng dịch vụ này (Thời khắc diễn vai). Chỉ một thời khắc đời thường mà “ta” hội tụ bao dằn vặt, trở trăn. Những cảm giác “thèm nỗi đau rách toác thịt da, sợ trạng thái không nhức không tê không buồn không vui của một ngày đã quen như muôn ngày đã quen của cuộc sống mà như không sống” này đã xáo trộn thời gian, khiến “ta” vùi dập trong sự đứt đoạn của kí ức.

Các nhà thơ kể trên đều có ảnh hưởng cảm thức thơ hậu hiện đại phương Tây. Không phải tất cả sáng tác của họ đều là hậu hiện đại. Mỗi bài, mỗi tập thơ có những tiếp thu riêng. Yếu tố hậu hiện đại có khi rõ đường nét, có khi mờ ảo. Nhưng tựu trung, thơ của họ khác những mạch thơ mà nhiều người đã sa vào quá lâu, trở nên không thích ứng. Bên cạnh đó, việc tự do “đi về” giữa Tây và Đông, đoạn tuyệt với tư duy truyền thống, các nhà thơ tha hồ cày xới thoải mái trên các thửa ruộng mà không cần phải xuất trình giấy tờ để kiểm duyệt. Cuộc sống có thứ gì, trong thơ chưng lên thứ đó. Quan niệm “phi tâm hóa” cũng lẩy ra những giọng điệu mới lạ, sốc với người tiếp nhận: vấn đề sex nhất, tục nhất cũng “tuồn” vào thơ. Đọc thơ hôm nay, người đọc phải tỉnh táo, tỉnh táo để biết phân loại thơ, nhận định thơ, nếu không sẽ bị “lọt thỏm” vào những vòng xoáy trống mà cứ ngỡ kiến thức của mình quá “ít ỏi” nên không nhập vào được. Một số nhà thơ chú trọng đắp đổi con chữ, gián đoạn các con chữ để dấu đi sự rỗng triết lý cần và nên có trong thơ. Ma trận nhưng ngõ vào tuốt luột. Phương Lan (nhóm Ngựa trời) mang tâm thế nổi loạn để viết “Mùa căng”, thặng dư thơ ngầm, “căng” rồi “viên mãn” bằng sex:

Như con ngựa bất kham bị giam giữ suốt mùa đông

Tôi băng mình ra mông mênh thảo nguyên ngợp ngời cỏ non và ánh sáng

Mùa xuân nheo mắt vẫy gọi tôi

Hoang dại cuồng loạn réo gọi tôi

Như mũi tên đã bật cong trên dây cung

Tôi vút đi hân hoan đầy phấn khích…

Trong số các nhà thơ trẻ Việt, thơ Vi Thùy Linh thể hiện khá rõ sự bạo liệt với những vần thơ thấm chất sex. Sex đan cài trong trò chơi lắp ghép ngôn ngữ: “Thời gian ngưng lại/ Bỏ quên mọi u phiền đớn đau ngoài vũ trụ/ Buổi chiều sữa trào qua rèm cửa/ Trên ngực Anh, em thở/ Thu đầy thu nghìn trùng rút gọn/ Ngực áp ngực trái tim lên xuống/ Mũi tên thiêng ký tên giá thú/ Hơi thở dồn như muôn cơn gió/ Anh thấy như Anh nắng oi gọi bão/ Anh thấy như Anh chưa yêu lần nao/ Như đã yêu em suốt đêm ngọt ngào/ Suốt trong mảnh đời chạy theo tình yêu/ Yêu thật liều yêu hiểm nghèo yêu không tỉnh dậy/ Tai em áp chặt tim Anh, ngàn nhịp ân hoan từ thế giới tượng thanh Anh khởi tạo” (Trên ngực anh). Vi Thùy Linh cũng không ít lần chịu những đòn roi của dư luận về vấn đề sex. Thơ Linh sống động. Tuy nhiên, sex của Linh thuần bản năng, thiếu sự tiết chế của ý thức, cái đòi hỏi sống còn của nghệ thuật. Chính vì thế, nó thiếu đi tính triết lý.

Ở góc nhìn hậu hiện đại, các nhà thơ từ bỏ cái thế giới đóng khung, hướng đến cái thế giới rã rệu, lắp ghép, phân mảnh, đứt đoạn... bằng kĩ thuật xốc ngửa, lắp ráp từ, sử dụng chất humour, pha tạp thể loại... để chạm vào những vấn đề tinh tế và nhạy cảm mà hầu như thơ ca trước đây còn ngại ngùng. Họ đưa vào thơ những ngôn từ tục tĩu để giễu nhại chính vấn đề mà mình đề cập đến. Tuy nhiên, cái gì thái quá cũng có mặt hạn chế của nó. Ngôn ngữ gần với đời sống dễ làm cho thơ mất đi chất thơ của nó. Quá nhấn mạnh tính suồng sã, thơ sẽ đông cứng ngay khi mới chào đời. Đọc một số bài thơ của nhóm Mở Miệng như: Cái l... què, Vẫn làm chồng tốt, Vô địch... tôi tự hỏi liệu đây có phải là thơ thời thị trường? Viết như thế, chất thơ của thơ sẽ đi về đâu? Nếu câu chữ xoàng, tối, hỗn độn thì thơ, dưới hình thức nào, không thể sinh sản để duy trì nòi giống. Hậu hiện đại chấp nhận sự phỏng nhại, cắt dán nên một số người tuyên ngôn “đạo thơ” công khai để sinh hạ những nàng thơ “quảng cáo”: “Lactacyd FH, với công thức đặc biệt gồm hai thành phần tự nhiên là Acid lactic và Lactoserum (chiết suất từ sữa), không chỉ giúp rửa sạch, giảm ngứa, loại trừ vì khuẩn gây viêm nhiễm và mùi hôi, mà còn củng cố cơ chế bảo vệ tự nhiên của âm [dương] đạo [tặc]” (Lý do thích hạp cho mọi người trong việc tiêu [chảy] tiền [bạc] hay còn gọi là bài thơ có tên: "CHĂM SÓC BẠN GÁI HÀNG NGÀY" – Bùi Chát). Đọc những bài kiểu này, người đọc khó có thể chấp thuận.

Đổi mới thơ theo xu hướng phát triển của văn học là tất yếu, là cần thiết. Dù tiếp nhận muộn mằn nhưng tính lan tỏa của thơ hậu hiện đại đưa đến cho nền thơ ca Việt Nam những năm gần đây đầy sự táo bạo, tươi rói, khuấy đảo âm hưởng trầm lắng của thơ hiện đại. Nếu xem con đường sáng tác của thơ hậu hiện đại thể hiện sự bế tắc của thơ ca là không hoàn toàn đúng. Chúng ta có một Chẹc chẹc (Nguyễn Đình Chính) vứt bỏ vần điệu, nhạc tính để những sinh lực của thơ tự trào dâng; một Cây ánh sáng (Nguyễn Quang Thiều) “đứng riêng một cõi” (theo cách nói của Trần Sáng) bởi tính “ma quái” trên mọi phương diện: từ ngữ, cấu trúc, hình ảnh...; một Màu Ngôi nhà cỏ (Hoàng Vũ Thuật) “trở thành thông điệp da diết về cõi người, kiếp đời vẫy gọi liên chủ thể tiếp nhận” [4]; một Và đột nhiên gió thổi (Mai Văn Phấn) đan xen giữa tính triết lí và tính trụi trần của cuộc sống; một Liên tưởng (Lê Vĩnh Tài) giản dị chất sống như phố núi Buôn Ma Thuột... Những tác phẩm ấy phần nào đã đánh dấu hướng đi cần thiết cho thơ Việt hôm nay. Tuy nhiên, bên cạnh những bài thơ, tập thơ gây ấn tượng, thể hiện những phong thái mới và mạnh, vẫn còn có một số tác phẩm thơ có phần quá đà, khiến thơ của họ chưa được đón nhận như một sản phẩm quý và lạ, làm nên sự đột biến. Tập thơ Dự báo phi thời tiết của nhóm Ngựa Trời là một ví dụ. Những tập thơ khác của nhóm Mở Miệng cũng đang xôn xao hai mặt trên thi đàn.

Thơ khuân vác mọi vấn đề của đời sống nên các nhà thơ mang cảm quan hậu hiện đại luôn rủng rẻng với các đề tài thơ của mình. Chính họ làm cho thơ ca phát triển, sinh nở. Nhưng nếu phóng ngôn từ một cách bừa bãi, không tự kiềm chế, không chọn lọc thơ sẽ đường cùng, tắc tị. Cần có cách tiếp nhận phù hợp xu thế thơ hậu hiện đại phương Tây. Tiếp nhận nhưng vẫn giữ được cốt lõi của thơ: tính thơ và chất triết lí. Và quan trọng, làm thơ chính là cách thể hiện tính văn hóa của mình. Vì thế, văn hóa sáng tạo trước hành trình thơ là thước đo tất yếu mọi giá trị.

Hậu hiện đại đang trên đà đi của nó. Dù manh nha rất sớm, nhưng hậu hiện đại đến nay vẫn còn mới mẻ và lạ lẫm, chưa được trình bày dưới một hệ thống lý thuyết đầy đủ và tin cậy. Tuy vậy, những rào cản nào trước sự phát triển của thơ hậu hiện đại đều có thể dẫn đến sai lầm. Thiết nghĩ, hãy để nó phát triển như bản chất tự nhiên chính nó. Bởi lẽ, chưa bao giờ cái thế giới thực tại bị dày xéo, lật tẩy đúng thực trạng như trong thơ hôm nay. Mặt khác, một tinh thần mới, ý nghĩ mới bao giờ cũng có không ít hạn chế. Chỉ cần ở mỗi nhà thơ sự tự ý thức không bị mất đi thì cánh cửa thơ Việt ngày một mở rộng, đa trị đa chiều.

 

Đồng Hới, ngày 19/12/2010

H.T.A


------------------------

[1]. Lại Nguyên Ân, Đoàn Tử Huyến (biên soạn), Văn học hậu hiện đại thế giới - Những vấn đề lí thuyết, NXB Hội nhà văn & Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2003, tr 146.

[2]. Lại Nguyên Ân, Đoàn Tử Huyến (biên soạn), Sđd, tr 378.

[3]. Mai Bá Ấn, 1 2 3 của Thanh Thảo và ba bậc tư duy thơ trong quá trình hiện đại hóa thơ ca”, http://thinhanquangngai.wordpress.com.

[4]. Hồ Thế Hà, “Thế giới tương hợp trong thơ Hoàng Vũ Thuật”, Thơ Hoàng Vũ Thuật-nhìn từ thi pháp học của Roman Jakobson, Hoàng Thụy Anh, NXB Thuận Hóa, 2010, tr 327.


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Mười 201312:00 SA(Xem: 68905)
“Ai cầm gươm sẽ chết vì gươm, ai cầm bút sẽ chết vì bút. Tôi viết kinh sẽ chết vì kinh”. Đặng Thơ Thơ đã viết như vậy trong truyện ngắn “ Đi tìm bản kinh thánh cuối” như một trải nghiệm cần thiết của nhân loại và dân tộc mình.
09 Tháng Mười 201312:00 SA(Xem: 80379)
Dòng người cúi đầu lặng lẽ đi Về phía ngôi nhà Đại tướng Thắp cho ông một nén hương trầm Không cần tượng đài tạc bằng đá
06 Tháng Chín 201312:00 SA(Xem: 80933)
theo tôi đi mây kín trời tháng tám cỏ đồng hoang đang cháy ngọn khô vàng chiều cất bước gió thơm từ cửa biển mưa đêm rồi xô giã biệt ăn năn
01 Tháng Chín 201312:00 SA(Xem: 77416)
Lần đầu tiên đọc truyện của Trần Vũ, tôi sốc...Thật vậy, nếu ai đã từng đọc truyện của ông sẽ có cảm giác choáng váng trong ma trận chữ nghĩa của nhà văn. Truyện của Trần Vũ luôn tạo ấn tượng đặc biệt nơi người đọc, đồng thời cũng gây nhiều tranh cãi trong làng văn.
08 Tháng Tám 201312:00 SA(Xem: 79613)
“Kính gửi chị…..Tạp chí Văn đã đình chỉ đã vài tháng rồi nhưng chúng tôi chưa thông báo cho độc giả kịp. Thành thật xin lỗi chị”. Một cảm giác hụt hẩng và bàng hoàng xâm chiếm hồn tôi. Một mất mác vô cùng lớn bỗng làm tôi xốn xang như tôi vừa đánh mất một điều gì quí giá trong cuộc đời mình...
27 Tháng Sáu 201312:00 SA(Xem: 73935)
T háng 3 năm 75, cái hiền hòa thơ mộng của thành phố Nha Trang đã biến mất. Đà Nẵng đã thất thủ, dân và lính từ Kontum, Pleiku đang ào ạt đổ về thành phố biển. Thành phố bụi bặm và đông nghẹt người di tản với khuôn mặt ngơ ngác lo âu, những chiếc xe M-113 phủ lá cây ngụy trang từ Tây Nguyên ầm ì chạy vào thành phố và ngồi sau những khẩu đại liên là những người lính mệt mỏi đăm chiêu.
15 Tháng Sáu 201312:00 SA(Xem: 77365)
H ọ đang chơi trò “con thỏ” trên chiếc giường rộng 4x4m khi cơn bão Magic vượt qua cửa biển tràn vào thành phố. Thực ra Marilyn không thích mấy tư thế này, nàng thích trò “cưỡi ngựa” hơn...
14 Tháng Sáu 201312:00 SA(Xem: 86669)
M i không bầy đàn, mi cũng không phe cánh hẩu Những kẻ khôn ngoan hơn mi đã chết hay gãy cánh từ lâu Những tên áp-phe, mặt rô Những tên lại cái, xăng pha nhớt... tàng ẩn điên loạn chụp giựt từng cơ hội
14 Tháng Sáu 201312:00 SA(Xem: 75505)
T ừ trước tới giờ tôi vẫn tuân thủ theo Wallace Stevens “ Người đọc thơ là người hành hương, xuất phát lên đường, giãi bày” (The reader of poetry is a kind of pelgrim setting out, setting forth). Thế nhưng đối với tập thơ “Có Thể” chỉ có 31 bài với số lượng mỏng manh 40 trang khổ 13 x 20, mà tôi phải nghiền ngẫm khá lâu khổ sở hơn cả người hành hương.
14 Tháng Sáu 201312:00 SA(Xem: 79626)
C húng ta chưa bao giờ ngừng dối lừa nhau. Nhưng sự dối lừa ấy giúp ta an phận với cuộc đời này. Nàng nói với Lam như vậy. Anh im lặng, choàng tay ôm lấy nàng. Nàng nép sâu hơn vào ngực anh, quấn siết lấy anh bằng những nụ hôn ướt át, lơi lả.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9802)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16661)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15653)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16086)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1075)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3062)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 2911)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2838)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 918)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5091)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 7025)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6256)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 355)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 217)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1029)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2421)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2297)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2124)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2279)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2316)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 821)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13369)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29461)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35609)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10582)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12521)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1965)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 2911)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3121)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3169)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 3929)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7609)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 6977)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9596)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.