- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Cơn điên của Vệ Tuệ và miếng mồi thơm nguy hiểm

08 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 93357)

 

 

cuccung_vetue-content

Ảnh bìa sách Cục Cưng Thượng Hải của Vệ Tuệ

 

Cách đây nửa năm, tôi đọc được một bài viết của Phan Nhiên Hạo từ bên ngoài, với nhan đề “Nhà văn thế hệ sau chiến tranh và ông vua cởi truồng”. Phan Nhiên Hạo viết:

Người ta đang đề cập đến một thế hệ văn nghệ trẻ, những người sinh ra hoặc trưởng thành sau 1975: kỳ vọng vào họ nhiều mà thất vọng cũng lắm, xoa đầu vỗ vai thường xuyên mà chê bai cũng không hiếm. Bản thân cái gọi là “nhà văn thế hệ sau chiến tranh” vì sao chưa làm nên chuyện, dĩ nhiên có nhiều nguyên nhân, nhưng theo tôi, lý do quan trọng nhất là vì phần lớn họ đang sáng tác với một quan điểm “phi chính trị” rất thỏa hiệp. Sự thỏa hiệp này triệt tiêu khả năng đẩy các thử nghiệm nghệ thuật đến cùng, và đặc biệt khiến việc lý giải các vấn đề xã hội trong văn chương thường rơi vào chỗ giả tạo.

(…) Điều đáng chán của các nhà văn trẻ trong nước hiện nay không nằm ở thái độ thiếu dấn thân của họ, mà ở cái cung cách tự phủ dụ, tự hài lòng trước cái giới hạn sáng tạo ngầm được đề ra bởi chính quyền: viết gì thì viết, nhưng không được đụng đến chính trị. Một số nhà văn trẻ trong nước phát biểu trên báo chí như thể họ có thể viết về mọi đề tài, tự do thể hiện mọi tư tưởng, vấn đề chỉ ở chỗ tài năng, kiến thức. Họ bàn về thơ “siêu hình” như thể điều này sẽ mang lại tự do đích thực, giải thoát họ khỏi hiện thực nhếch nhác. Họ nói về “concept art” như thể đang sống ở Paris hay New York, trong khi về thực chất, các cách tân của họ chỉ là những bắt chước lụn vụn về mặt nghệ thuật do thiếu điều kiện tìm hiểu cặn kẽ, kết quả của việc hạn chế thông tin, và đầy thỏa hiệp về nội dung do cố lèn lách qua cánh cửa he hé của bộ máy kiểm duyệt. Họ không nhận ra rằng, chẳng có sự cách tân nghệ thuật nào có thể đi đến cùng mà lại vắng mặt quyền tự do ngôn luận. Họ nói về chuyện dịch sách như thể chỉ cần có kiến thức văn chương, người ta sẽ trở thành những người có văn hóa. Họ không thấy một người rất có kiến thức như Chế Lan Viên, khi không có tự do sáng tạo, cũng có thể biến thành một nhà văn minh họa cuồng nhiệt nhất, và vì thế, phản văn hóa nhất. Họ có vẻ hài lòng với sự nới lỏng của nhà cầm quyền hiện nay, quêøn rằng đó là vì trước đây họ đãù sống trong một xã hội hoàn toàn không có tự do dân chủ. Sự nới lỏng của xãù hội Việt Nam hiện nay thực chất chỉ là những củ khoai mỡ dọn ra cho các nghệ sĩ, những người từ trước đến nay chỉ được phép sống thoi thóp bằng nước lãù. Một vài người có đầu óc làm ăn, bằng sự khéo léo ứng xử trong ngoài, đang tìm cách chế biến những củ khoai mỡ này thành đặc sản, đổi chác được cả vé đi nước ngoài miễn phí lẫn danh tiếng của một ca sĩ hạng B. Cần nhận rõ việc được phép xuất bản những bài thơ đượm mùi tình dục hay những truyện ngắn phê phán xã hội lặt vặt mà không được phép chỉ ra nguyên nhân chính trị sâu xa của chúng, đều chỉ là những trò văn chương nửa vời. Vấn đề khó khăn của giới trẻ hiện nay, nhất là những người sinh ra sau 1975 hoặc những người lớn lên ở miền Bắc, là họ hầu như chưa từng biết đến một thể chế chính trị nào khác ngoài chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa. Và vì chưa từng nếm trải một kinh nghiệm tự do dân chủ thực sự, họ không có nhu cầu mãnh liệt về điều này, giống như người chỉ nhìn thấy ảnh chụp một loại trái cây ngon, có thể cũng muốn thử, nhưng sẽ không thấy thèm bằng một người đã từng ăn qua, biết rõ mùi vị ngon ngọt của trái cây này. Nhà văn trẻ trong nước hiện nay có vẻ hài lòng với việc trang trí ngôi nhà văn chương của mình bằng những bức ảnh chụp các loại cây trái như vậy, thường là những bức ảnh ngoại nhập sặc sỡ, trong khi vẫn tiếp tục hài lòng với một thứ tự do khoai mỡ.

(…) Về phần các nhà văn trẻ, nếu không thể lên tiếng cho quyền tự do sáng tạo, chí ít cũng nên chấm dứt những trò ca ngợi dối trá kiểu “có thể viết về mọi đề tài”. Cần nhận rõ rằng “thế hệ sau chiến tranh” vẫn chưa thoát khỏi sự khống chế của bộ máy chính trị đang vận hành bởi “thế hệ chiến tranh”, rằng mặc dù bề ngoài có vẻ cởi mở hơn, chính trị Việt Nam vẫn luôn canh chừng văn chương bằng cây gậy sắt. Chiếc gậy lơ lửng trên đầu này, trong môi trường kinh tế thị trường nhiều cám dỗ, chỉ càng khiến các nhà văn có lý do đua nhau chạy nhanh hơn về phía củ cà-rốt, để rồi khi đó ngậm củ cà-rốt, họ chẳng còn có thể phát ra ngôn ngữ đẹp đẽ của con người, chỉ toàn tiếng ú ớ. Nhà văn, nhất là những nhà văn tài năng, nên cố gắng chỉ ra cho người đọc cái thực trạng tinh thần xã hội mà thế hệ mình đang sống, hơn là tìm cách làm vừa lòng tất cả mọi người bằng thứ văn chương thái giám vô vị. Tôi tin rằng chỉ cần từ chối thỏa hiệp, chứ chưa cần phải dấn thân chính trị gì cả, các nhà văn đó cóù thể viết những tác phẩm rất thuyết phục trêøn cái nền hiện thực có một không hai của Việt Nam (…)

Tôi chưa có diễm phúc được nghe những nhà văn trẻ phát biểu trên báo chí việc họ “có thể viết về mọi đề tài, tự do thể hiện mọi tư tưởng”. Nhưng cũng thật may là những lời dối trá, đẩy đưa kia không đến tai, nếu có, chắc tôi phải quỳ xuống khấu đầu làm lễ xin chữ ký diễn viên “dân chủ kịch” đại tài ấy! Hoặc rất có thể sẽ phải vò đầu bứt tai, dằn vặt tự vào nhà thương điên. Vì theo họ, hoá ra hơn 81 triệu dân Việt được tự do khóc, tự do cười, tự do hắt hơi, tự do nói những gì mình thích! Còn tôi, công dân 28 tuổi đời ương ương ngạnh ngạnh, chưa nếm mùi chiến tranh, cũng chưa từng thưởng thức an bình theo đúng nghĩa, lại đang làm con lươn bùng nhùng dấm dứt trong chiếc ống tối tăm. Hoá ra tôi bị trống câm.

Người mù, người câm, người điếc, ai cũng thấy hiện trạng xã hội Việt Nam đương đại đang xoay thế nào. Một xã hội bất bình đẳng kinh khủng với ngàn tệ nạn lớn-nhỏ, trẻ-già, sang-hèn. Đúng như Phan Nhiên Hạo viết, bản thân xã hội Việt Nam đã là một tác phẩm tuyệt diệu. Một nguyên liệu khổng lồ, mặc sức các nhà văn khai thác, tung bút. Nhưng chúng ta đã nhìn thấy gì, đã viết được dòng nào từ nguyên liệu khổng lồ ấy? Hay rời rạc dăm câu thơ không rõ nghĩa, vài ba truyện ngăn ngắn kháy khía tủn mủn chưa làm gãy nổi cái càng kiến. Và chúng ta ngồi nhìn bầu trời xám xịt ô nhiễm, gác chân cho những đứa trẻ tội nghiệp lau giầy, rên ư ử trong nhà hàng bia ôm máy lạnh mà làm thơ móc máy lẫn nhau. Thảng hoặc ai đó chấm được một nét vào bức tranh, chúng ta lại khịt mũi, phẩy tay: “Thằng đấy, con đấy thì làm nên cơm cháo gì!” Rồi chúng ta ra sức khích bác ngáng đường thằng ấy, con ấy. Cái này thì dân Việt lại cực giỏi! Và tất nhiên, cái nền hiện thực ngay cả người mù cũng trông thấy được qua mùi bẩn thỉu hôi hám bốc lên chẳng liên quan gì đến chén rượu đượm đặc, đến cô gái điếm mũm mĩm của chúng ta, sẽ vĩnh viễn không bao giờ xuất hiện trong tác phẩm. Mở miệng không được thì ngậm miệng nuốt rượu, ta là ta, người khác mặc người khác, chỉ mình ta là nhà văn đích thực. Dùng ngòi bút kiếm cơm, kiếm chức, kiếm quyền, kiếm luôn sự phỉ nhục mà lịch sử sắp để lại.

Phan Nhiên Hạo chưa muốn hiểu, các nhà văn trong nước sống được rồi mới viết được, còn cái đầu trên cổ thì nó mới điều khiển được trí não để phun chữ ra ngón tay. Nhiều người muốn vẽ bức tranh của xã hội thối nát bây giờ, muốn được nói sự thật về cuộc chiến đã qua, muốn được rốt ráo chỉ ra nguyên nhân tình trạng mục ruỗng, muốn được reo hát bản năng trung thực của con người. Nhưng chỉ cần đặt bàn chân, hé môi ra chuẩn bị nói: “vua không mặc quần áo”, bàn chân đã bị chặt, cái lưỡi đã bị cắt. Một vài người lọt được bàn chân, nhếch được môi, thì phải trả giá quá đắt. Mà cái giá này cũng không dấy lên một phong trào cách mạng nào để thay đổi tình hình. Vậy thì ngồi im, thoả hiệp, chờ sung rụng. Mà hoa gạo thì làm sao đậu thành trái sung!

Cái vòng luẩn quẩn gỡ làm sao đây?

Chúng tôi như lũ lươn bị nhốt trong ống, con quằn quại tìm lối thoát, con nằm im chịu giày xéo. Người bên ngoài nhìn vào thấy thương thay, nhưng ai dám đập bể cái ống để chúng tôi được chui ra ngoài? Phan Nhiên Hạo không đập bể ống và chúng tôi không tìm ra lối thoát. Vẫn lại cái vòng Kim Cô luẩn quẩn.

Trở lại vấn đề ai đó phát biểu chúng ta có thể “viết về mọi đề tài, tự do thể hiện mọi tư tưởng”, một trò lộng ngôn mà tôi nghĩ chỉ có trong giấc mơ của chúng tôi. Giấc mơ trong một giấc mơ. Quá xa vời. Quá ảo tưởng trong tình trạng đâu đâu cũng là lửa, là dao, là búa hiện thời. Lửa bao các nhà văn trong những bức tường ám khói, bầu trời chỉ là những ánh lửa “vừa hồng vừa chuyên màu cờ tổ quốc”. Chúng tôi chỉ được phép nhìn thấy, lên tiếng trong giới hạn của đường phấn đã có kẻ vạch sẵn. Khác gì chúng tôi phải tự chọc mù mắt mình, tự ngoáy vòng cho tai điếc để không nghe thấy, không trông thấy thế giới bên ngoài lửa khét.

Đôi khi tôi lại nghĩ nhà văn thường là người lãng mạn, mây gió tuyết trăng, viết truyện tình, truyện buồn, truyện hoang đường, đâu cần rốt ráo đi tìm câu trả lời trong mớ chính trị lạnh lùng ác độc. Vả lại, rốt ráo đi tìm nguyên nhân cho những tiêu cực xấu xa mà mình nêu ra, thì chưa hẳn là văn học đâu, một thứ phóng sự điều tra, thể loại của báo chí mà ai chẳng biết. Độc giả sẽ không đến nỗi ngu ngơ để không hiểu nhà văn ẩn dụ điều gì, khi nhà văn viết về những thối nát đang mục ruỗng đất nước này. Chỉ cần nhà văn đừng chết dí trong bức tường ám khói, nhà văn cố giữ lấy sự trong sạch cho đôi mắt, đôi tai, trí não, hai bàn tay đừng bị cám dỗ bởi củ cà rốt lửng lơ trên cao để rồi ú ớ phát ngôn “có thể viết mọi đề tài”, nhà văn đã có thể vẽ nên bức tranh “tuyệt vời khủng khiếp” dân tộc đang sống. Phải chăng đây chính là sự dấn thân mà Phan Nhiên Hạo đòi hỏi? Nói gì thì nói, sợ lắm! Chớ có liều mình lao qua rào kẽm gai, phóng qua bức tường lửa, thân thể sẽ rách bươm và chết cháy mà chẳng ai bên ngoài cứu giúp, kể cả Phan Nhiên Hạo.

Nhưng mà suy cho cùng, thế hệ sinh sau 1975, “thế hệ sau chiến tranh” chúng tôi dù có nhức nhối đến mấy cũng chỉ là vết trợt qua da, không phải ung nhọt tiêu xương tiêu tủy khoét sâu thể xác, tâm hồn như lớp đàn anh đi trước phải hứng chịu. Tôi lại là thiếu nữ có phần may mắn hơn nữa. Tôi không có bố hay anh cầm súng bên kia vĩ tuyến 17, tôi cũng không có người mẹ là Nghệ sĩ nhân dân chuyên hát nhạc đỏ hừng hực khí thế tiến quân, mang về cho tôi con búp bê bằng nhựa sau bao năm hành quân qua dẫy Trường Sơn tiến về Sàigòn. Tôi cho đây là sự may mắn của số phận mình chứ tôi không tự hào. Bố tôi luôn dạy: “Trong xã hội này con nên im lặng con mới sống được”. Đôi lúc tôi không nghe lời bố, tôi đã muốn thoát ra khỏi bức tường, và đâu đó tai hoạ, dao búa vẫn đang rình rập quanh tôi. Dù bây giờ, đôi khi tôi không dám viết những gì mình muốn, dù đôi khi tôi tự hỏi tôi đang sống hay đang nuôi cơ thể sống, tôi vẫn nghĩ mình là người may mắn. Vì tôi quá sợ chiến tranh và thù hận. Tôi biết, những gì đang diễn ra ngoài kia có nguồn gốc sâu xa từ quá khứ, từ những cuộc chiến tranh, nhưng chúng tôi chẳng đủ sức để làm thay đổi điều gì. Chúng tôi sống được thì mới viết được. Mà chúng tôi chỉ tồn tại sinh vật, chúng tôi chưa được phép sống.

Dẹp qua một bên những di sản tối tăm của cả một dân tộc, tôi muốn nói về cơn mê được làm Người của mình. Cơn mê được sống bằng bản năng thật, bản năng nguyên thủy, bản năng con người. Không màu cờ nào, không ban tư tưởng nào có thể khoá được bản năng thật của con người. Có thể đất nước tôi đang sống chưa có nền Cộng Hoà, chưa có tổng thống cử tri bầu phiếu, nhưng dân chúng vẫn là con người. Tôi biết yêu, biết ghét, và có tính dục như bất kỳ một công dân Âu hay Mỹ nào khoẻ mạnh, không mắc chứng liệt dương, liệt âm. Chính trị có thể bóp chết tư tưởng nhưng làm sao chặt đứt xúc cảm luyến ái, chặt đứt bản năng dữ dội con người? Không một thế lực, không một chính quyền, không một đảng phái nào có thể dập tắt, cấm vận bản năng sinh tồn nguyên thủy bên trong con người. Càng cấm, nó càng tích tụ thành những con sông ngầm chảy sâu và đúng lúc sẽ oà vỡ, cuộn trào cuốn phăng tất cả. Khi ấy, mỗi một con người trên đất nước này sẽ mang trong mình một trận hồng thủy.

Có thể Phan Nhiên Hạo và nhiều người khác sẽ nói tôi muốn bàn đến chuyện tủn mủn, vụn vặt, không giúp ích gì cho văn đàn ảm đạm ám khói hiện thời, và đấu tranh cho tự do tình dục, các nhà văn nữ Phương Tây đã làm cách đây hàng thế kỷ. Nhưng tôi đang đòi quyền được sống, được tự do bộc lộ mình từ việc nhỏ nhặt này. Người ta đã làm cách đây cả thế kỷ là chuyện của người ta, còn tôi chưa được thì tôi vẫn phải làm. Thời buổi nào con người không yêu đương, không luyến ái? nhưng ngay cả tự do được nói về chuyện hiển nhiên, cũng không được viết, liệu chúng tôi còn được nói gì, viết gì lúc này? Giải quyết được cái nhỏ đi rồi hãy nghĩ đến những chuyện lớn. Không phải nhà văn, nhà thơ nào cũng liệt dương, liệt âm trên giường rồi mới bạo dâm trong truyện ngắn, thơ ca. Không phải là mốt, không phải là thời trang. Hãy cho chúng tôi được sống thật với chính mình, với thân xác mình, bộc bạch những điều mình nghĩ, được kể lại cuộc sống của chúng tôi và bạn bè chúng tôi, được mơ những giấc mơ của chúng tôi qua văn học, những giấc mơ mang thân thể chúng tôi mà không sợ bị đánh, bị cấm xuất bản, bị quy chụp là vô đạo đức. Hãy cho tuổi trẻ Việt Nam được quyền gọi tên đúng sự vật, hiện tượng. Bây giờ chúng tôi đang phải uốn bút mà viết “việc ấy, cái ấy”, ấy là cái gì? Nhà thơ Đỗ Kh. thể nào cũng lại cười tôi! Anh đã viết phăng ra “cái ấy” là “cái ấy”, còn chúng tôi ở đây chẳng dám viết thế, chẳng ai in, và mọi người nhìn chúng tôi như nhìn quái vật. Nhiều truyện ngắn của tôi gửi đến toà soạn các báo “văn nghệ”, đến các nhà xuất bản “văn học”, đều được buông một câu: “Viết gì mà ghê gớm thế, xã hội Việt Nam không chấp nhận cách nghĩ, cách viết như vậy!”. Ô hay, xã hội Việt Nam là ai? Là hơn 80 triệu dân hay là ông? Người đại diện cho thế lực “sống và làm việc theo gương Bác Hồ vĩ đại”? Mà Bác Hồ sống thế nào? Các ông nói Bác Hồ trong sạch, Bác không lấy vợ, không bồ bịch, cũng chẳng hề sinh con đẻ cái. Hoá ra các ông bắt chúng tôi tự “triệt sản”, tự “thiến” mình? Các ông cứ sống như vậy đi, rồi trưa trưa, đêm đêm cùng bồ nhí oằn ẹo khách sạn này, nhà hàng nọ với một đống comdom Pháp, Mỹ. Còn chúng tôi, hãy để cho chúng tôi được chính là mình, được viết cái mình có, mình khát khao giải bầy, dù dưới hình thức nào, cái chính là thật lòng, không “dối trá”.

Tôi cứ mãi băn khoăn một chuyện, không tìm được câu trả lời đích đáng.

Trung Quốc, một đất nước rộng lớn có thể chế chính trị na ná Việt Nam. Họ có một nền văn minh lâu đời, một nền văn hoá lớn mang bản sắc riêng biệt trên thế giới. Nếu đem so nền văn hoá nhỏ bé và phần nào lai Tàu, lai Tây của chúng ta với họ, e rằng hơi ngượng. Lễ giáo Trung Hoa cũng có tiếng hà khắc, nghiêm ngặt. Nền văn học của họ khá đặc sắc và đồ sộ không lẫn với bất kỳ quốc gia nào khác. Nhưng mấy năm gần đây, họ đã hoà nhập vào dòng chảy văn học thế giới một cách ngoạn mục với nhiều tên tuổi không kém lẫy lừng: Cao Hành Kiện, Giả Bình Ao, Mạc Ngôn… Các nhà văn phương Bắc không đánh mất mình, không đánh mất bản sắc Trung Hoa, nhưng họ đã được tự do hoà nhập vào thế giới. Tôi muốn nhấn mạnh đến những nhà văn trẻ của đất nước rộng lớn này. Những Từ Khôn, Cửu Đan, Vệ Tuệ, Miên Miên, Chun Su, Han Han… với lối viết bộc bạch, táo bạo, mạnh mẽ kể những câu chuyện của chính họ, thế hệ trẻ Trung Hoa trong xã hội đương thời với nhiều uẩn ức sâu kín mà từ xưa, người Tàu theo truyền thống ít bộc lộ.

Một Cửu Đan ma quái, đối mặt xã hội trên cái nền hiện thực hôi hám trong Quạ Đen thẳng thừng tuyên bố: “Nếu xem viết văn là cởi bỏ áo quần thì sau khi đã cởi bỏ hết áo quần, tôi sẽ không ngợi ca bầu vú của tôi đẹp như thế nào, mà muốn chỉ cho mọi người thấy vết thương của tôi, đồng thời sẽ nói rằng, vết thương này trước tiên là bởi tội ác của tôi, sau đó mới là tội ác của người khác (…) Thế nào gọi là viết văn bằng thân xác? Phải chăng là sau khi ngủ với đàn ông rồi viết ra những chuyện ngủ với đàn ông, rồi thông qua phương thức ngủ với những người đàn ông khác được gọi là ‘biên tập viên’ để được xuất bản? Có phải như thế gọi là viết văn bằng thân xác? Nếu đó là điều mà mọi người gọi là viết văn bằng thân xác, vậy thì, tôi xin nói, không, tôi tuyệt đối không. Nếu nói viết văn bằng thân xác là dùng thân xác của mình, sinh mệnh của mình để trải nghiệm, để thể nghiệm, rồi lấy cái bản chất nhất, thực chất nhất, dùng thủ pháp chữ nghĩa để biểu hiện, thì tôi đã làm như thế “.

Một Vệ Tuệ bạo liệt, nhạy cảm quá đỗi trong Điên Cuồng Như Vệ Tuệ mà Vương Trí Nhàn thay mặt nhà xuất bản Hội Nhà Văn phải rào đón: “Dù có nhiều trang tả cảnh làm tình, song không thể nói những trang truyện ở đây mang tính cách khiêu dâm. Trong con mắt của lớp trẻ, cái sự gọi là ngoan ngoãn hay hư hỏng (theo tiêu chuẩn cũ) thực ra không có gì quan trọng. Điều khiến họ bận tâm là được sống theo ý mình…“; một Vệ Tuệ tự thú: “Khát vọng của tôi gần như lý do tồn tại của tôi là làm cho thành phố nổ tung như một trận pháo hoa“; một Vệ Tuệ thác loạn trong Cục Cưng Thượng Hải đã tát tai chủ tịch Mao và Khổng Phu Tử khi bình tĩnh miêu tả cảnh giao hoan trong cầu xí với một ngoại kiều da trắng…; không hẳn chỉ thuần là tiếng nói riêng biệt, thể hiện cái Tôi của một nhà văn nữ, nhưng chính là đời sống thật của lớp thanh niên Trung Quốc hiện thời. Đọc Vệ Tuệ không ai không nghĩ đến thanh niên Việt Nam. Gần như chung một tâm trạng, chỉ khác biệt một bên sống và một bên thèm sống. Không ai nói ra, không ai dám viết thì những cánh hồng Trung Quốc viết. Và họ, những nữ văn sĩ còn bị xem là vị thành niên, được nồng nhiệt đón nhận ở khắp thế giới, ở Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Nhật, Hàn, Malaysia, Singapore, Đài Loan, Hồng Kông… Tác phẩm của họ bán được hàng triệu bản, một con số mà các nhà văn Việt Nam nằm mơ suốt cuộc đời. Trong “đời sống điên cuồng” của Vệ Tuệ, có sex – ma tuý – Rock n’ Roll và có cả văn hoá tổ tiên Trung Hoa lẫn Âu Mỹ. Họ đã được phép nói: “vua không mặc quần áo, vua cởi truồng”.

Khi Phan Nhiên Hạo nói về củ cà rốt, những cám dỗ của nền kinh tế thị trường trước các nhà văn trẻ Việt Nam, tôi đã nghĩ đến miếng mồi Vệ Tuệ đang lơ lửng trên đầu họ và những hiểm nguy của nó. Lạ một điều, người ta không cho in, người ta cấm xuất bản nhiều tác phẩm với lý do “không phù hợp với văn hoá Á Đông, không phù hợp với suy nghĩ người Việt, quá mạnh bạo và nhiều sex..”, nhưng người ta lại cho dịch và in ấn, phát hành tràn lan tiểu thuyết đầy nhục cảm, rượu và ma túy của Vệ Tuệ cũng như phơi bầy trong hiệu sách máy lạnh hay trên lề đường phố Nguyễn Xí những Vú To Mông Nở của Mạc Ngôn. Dù có kín đáo dịch sang Báu Vật Của Đời thì vú vẫn to và mông vẫn nở và nhân vật Kim Đồng vẫn cuồng nhiệt si mê những cặp vú, chẳng vì cái kín đáo “hớ hênh” ấy mà ngực lép mông dẹt cho đúng với thuần phong mỹ tục nước ta. Nó đâu “phù hợp với suy nghĩ của người Việt” mà đem bày bán nhiều thế? Để rồi độc giả đọc xong, quay sang chửi đổng: “Trung Quốc họ viết hay như vậy, nhà văn Việt Nam không biết học tập à?” Vô hình dung, nhiều nhà văn trẻ Việt Nam nhìn thấy miếng mồi thơm nguy hiểm Vệ Tuệ bày ra trước mặt mà thèm thuồng. Tôi nói nguy hiểm bởi vì thấy nó quá đẹp nên thèm thuồng. Ai đó ở Việt Nam nếu bạo dạn sáng tạo ra những cái đẹp tương tự như thế, nếu không bị gậy sắt phang vào đầu thì cũng chết yểu bởi thị phi, dè bỉu. Cho dù xã hội thực trạng đương thời Việt Nam đang phơi bầy trước mắt trăm ngàn vạn triệu mảng màu đen xám lầy lội chẳng kém cạnh gì xứ Trung Hoa, các nhà văn đang không sống mà tồn tại sinh vật vẫn không thể làm nên tác phẩm. Có người bảo:”Cứ viết đi, không in được thì cất, chờ thời, thể nào chẳng đến lúc”. Hỡi ôi, biết đến ngày nào con lươn chui ra được khỏi ống mà chờ đợi! Quẫy đạp mãi rồi tàn hơi mà chết sớm. Nằm yên thì lại bảo là lười biếng, chờ sung rụng. Ông đi qua, bà đi lại coi như trò mua vui. Gậy sắt thì lơ lửng. Mồi thơm thì ngầy ngậy. Củ cà rốt hồng tươi. Cuống họng lúc này chỉ biết ú ớ lên rằng: “trong giấc mơ, tôi là một nhà văn thèm được điên cuồng như Vệ Tuệ mà không bị móc mắt, chặt tay.”

Bi kịch khôi hài “Nhà văn và ông vua cởi truồng” diễn ở đâu? Thưa, đang trình diễn trong những rạp hát của “Người di tản buồn”. Bi kịch khôi hài “Nhà văn và ông vua cởi truồng” với cá nhân tôi, sắm vai phụ, đang phải diễn trong chính bút hiệu ám dấu này.

CÁT VY

Hà Nội, 8-2004

 (In trong Hợp Lưu 79, số tháng 10-2004)

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
21 Tháng Hai 201212:00 SA(Xem: 126305)
“Xin đừng gọi tôi là nhiếp ảnh gia chiến trường, tôi chỉ là một nhiếp ảnh gia mà thôi." Đó là lời của Don McCullin, một nhiếp ảnh gia người Anh được coi là cây đại thụ trong làng nhiếp ảnh Anh quốc, với hơn 50 kinh nghiệm chụp ảnh các cuộc chiến từ Berlin, Việt Nam, Campuchia, đến Bangladesh và Trung Đông.
11 Tháng Hai 201212:00 SA(Xem: 114562)
T rong văn học sử Hoa Kỳ có hai hiện tượng nổi bật với nhiều điểm giống nhau, đó là nữ văn sĩ Margaret Michell với cuốn Gone With The Wind (1936) và nữ văn sĩ Harper Lee với cuốn To Kill A Mockingbird (1960). Cà hai cuốn tiểu thuyết cùng có bối cảnh là miền Nam Hoa Kỳ, cùng khai thác đề tài xung đột chủng tộc (da trắng và da đen), cùng bán được mỗi cuốn trên 30 triệu ấn bản (tính tới năm 2008). Cả hai tác phẩm lại cùng được giải Pulitzer danh giá, đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, và dựng thành phim rất thành công, chiếm được nhiều giải Oscar.
10 Tháng Hai 201212:00 SA(Xem: 122137)
Đ ược biết, trước Ngô Bảo Châu cũng đã có nhiều người Việt được trao huân chương Bắc Đẩu Bội Tinh. Một trong những người nầy trong quá khứ là Petrus Key (Trương Vĩnh Ký) (1837-1898) .
03 Tháng Hai 201212:00 SA(Xem: 123021)
“ Sông Mekong đang bị đe dọa nghiêm trọng vì sự lạm dụng nguồn nước và hậu quả của biến đổi khí hậu. Nếu không có một chính sách khai thác thận trọng và hợp lý các nguồn tài nguyên sông Mekong, con sông hùng vĩ này không thể nào sống còn”. Abhisit Vejjajiva, Hua Hin MRC Summit 2010
31 Tháng Giêng 201212:00 SA(Xem: 131162)
T huyên nói nàng ở một mình trong một ngôi nhà nhỏ trên đồi rồi mời tôi lên chơi. Tôi đáp để chiều tôi sẽ lên sau khi nàng cho địa chỉ. Thuyên cười, bảo tôi sẽ đi lạc nếu không được dẫn đường. Nhìn đôi môi nàng con cớn, tôi tự ái đàn ông nói không cần, sẽ tự tìm ra nhà. [...] Ra đến cửa Thuyên quay lại, chỉ vào giỏ xách tay ny lông đen có lòi ra mấy bó rau. - Chiều ông tìm được nhà tôi thì mời ông ăn một bữa cơm tối ... Nhà có cổng gỗ với giàn hoa leo đấy.
31 Tháng Giêng 201212:00 SA(Xem: 132431)
T ôi chui vào ô tô. Chiếc xe mới coóng. Nội thất vẫn còn nguyên mùi hăng hắc, ngai ngái. Bóng lộn. Tôi khen chủ tịch phường mà sang trọng thế này thì dân được nhờ. Nói xong, chột dạ, sợ hắn nghĩ mình cạnh khóe, tôi vội ự…hừm, ý tôi là ông chủ tịch phường mà ăn nên làm ra thì dân cũng phất theo, chứ làm cán bộ địa phương thời nay mà nghèo quá, lúi xúi quá, thì cũng không có uy tín với dân. Anh nghèo mà làm lãnh đạo thể nào cũng sinh ra tính xà xẻo. Nếu anh giầu có rồi thì anh không tham nữa. Thế là dân được nhờ…Nói xong, tôi tự thấy cái lý luận của mình là loại lý luận ma cô. Lại chột dạ.[...] Rồi lại im không nói gì. Ngoài trời mưa như trút nước. Càng ngày càng to...
31 Tháng Giêng 201212:00 SA(Xem: 122606)
L oan cởi nhẫn cưới đeo vào cho Hoàng. “Anh cố giữ làm bùa hộ mệnh, lúc nào cũng có em bên cạnh”. Hoàng thấy vậy mà thương vợ thêm. Có người vợ biết chăm sóc từng li từng tí. Hoàng rưng rưng nước mắt bước ra khỏi nhà…
30 Tháng Giêng 201212:00 SA(Xem: 127317)
N gày 30 tháng Giêng năm 1948, một tên sát thủ theo chủ nghĩa dân tộc Hindu đã sát hại nhà lãnh đạo chính trị và tinh thần Ấn Độ là ông Mohandas Karamchand Gandhi. Ông bị bắn ba phát đạn vào ngực và bụng trong khi đang trên đường đến nhà thờ để đọc lời cầu nguyện hàng ngày.
30 Tháng Giêng 201212:00 SA(Xem: 122535)
... C ó điều người ta cần phải ghi nhớ là người Tàu luôn luôn kiêu căng, tự coi nước mình là một nước lớn là duy nhất văn minh, chung quanh họ đều là man di mọi rợ, Việt Nam hay Đại Việt đi chăng nữa cũng chỉ là man, Nam Man, nằm ngoài rìa của Hoa Hạ, của Trung Hoa thời Dân Quốc, của Trung Quốc thời Cộng Sản hiện tại...Những chiến thắng của người Việt trong các thời Lý Trần, đặc biệt là chiến thắng chống quân Mông Cổ trong khi người Tàu thực hiện không nổi là những gì họ không chấp nhận được.
26 Tháng Giêng 201212:00 SA(Xem: 123581)
H ơi cay của rượu lan dần cổ họng chạy dọc thân thể. Cảm giác đầu lưỡi ngọt dư vị rượu trắng không pha như hôn nhân không giá thú, biết nguy hiểm nhưng vẫn dấn thân. Lâu dần cô ghiền cái hơi của gã, không thể sống thiếu gã. Cô thấy mình bị một sợi dây vô hình thít chặt ngang cổ, càng quẫy đạp càng riết chặt hơn, cô kêu cứu nhưng chẳng ai nghe được bởi gã đã ăn mất lưỡi của cô sau từng muỗng hôn ngọt ngào, gằn xé lẫn khinh bỉ.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9846)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16691)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15691)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16123)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1257)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3190)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3025)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2961)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 1104)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5168)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 7153)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6465)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 586)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 451)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1222)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2530)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2355)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2190)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2363)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2391)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 975)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13476)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29572)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35671)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10655)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12614)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2036)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 3025)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3193)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3350)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 4040)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7718)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7064)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9780)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.