- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Đêm và mặt trời

31 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 127618)


sam_1355-content
 Phạm Phương_Hà Nội 2011

LTS: Lần đầu cộng tác cùng Tạp Chí Hợp Lưu, Phạm Phương là bút danh, sinh năm 1987 ở Thái Bình.
Đã tốt nghiệp trường Đại học khoa học tự nhiên – Đại học quốc gia năm 2009. Từng tham gia các trại sáng tác của hội nghệ sĩ sân khấu Việt Nam (2009, 2010). Hiện tại đang sống và làm việc tại Hà Nội.
Các tác phẩm đã có gồm tự truyện dài, truyện ngắn và thơ và kịch bản sân khấu.

TCHL


 


Tôi sinh năm 1991 — năm Liên Xô tan rã, người bố quân nhân oai hùng của tôi phải rời quân ngũ vì có người thân vượt biên, hoen ố lí lịch trong sạch mấy đời bần nông của gia đình.

Tôi bị đẻ rơi giữa đồng trong đêm. Mẹ dứt khoát đặt tên là Minh Phương. Minh nghĩa là sáng còn Phương là phương hướng. Hi vọng tôi không bao giờ chọn nhầm đường.

Năm nay, tôi vừa tròn hai mươi tuổi.

 

Chuyến tàu thuỷ dọc sông Hồng. Con sông nước đỏ, lịch sử hoà lẫn trong sự nhạt nhoà của dòng thời gian lưu chuyển. Màu đỏ cứ nhạt dần, hết năm cùng tháng tận. Chắc ngàn xưa, nước sông Hồng vốn là máu của các chiến binh. Khi người ta chết, máu vắt thành dòng để ghi nhớ. Ai bảo vô lý, bởi những con sông luôn là điều rất đặc biệt. Những điều đặc biệt phải được sinh ra một cách đặc biệt. Năm tháng, nước hoà nước, người vùng vẫy, sông chỉ còn màu đỏ nhờ nhờ. Dòng máu chiến binh đã trôi ra biển. Con người hình như cũng ươn hèn hơn.

Sông Hồng trong tâm thức của những người sinh ra ở đồng bằng Bắc bộ luôn là con sông giàu có, là người mẹ hiền lương, độ lượng, là những đồng lúa bát ngát vàng ươm, là ruộng cải ngồng với áo mớ ba mớ bẩy bay rợp kí ức, là người tình ấu thơ lén lút bên bờ dập dềnh sóng nước đêm trăng.

Chỉ là những kỉ niệm êm ái. Sao không biết rằng, có những buổi bình minh rực rỡ và cũng có những đêm đen kịt? Sao chỉ ghi nhớ quãng thời gian lững thững trôi đi ban ngày, kỉ niệm về tình yêu, về dòng vui ngọt ngào như chiếc kẹo lạc?

Sông Hồng ơi, sao không gầm thét lên đi. Sao không kéo lên những vĩ khúc của thuở khai thiên lập địa, rừng và nước, hồn thiêng sông núi nằm đây. Kéo về những con người biết đau đớn, biết xót xa trước hiện tại và viễn cảnh đầy đêm dài. Để sông đừng chảy êm êm mãi, hoài cảm về những tháng ngày xa xưa, hoảng sợ bên những cơn lũ lụt không bờ không bến. Thà cứ như thế, sông ơi!

Con tàu đi dọc sông Hồng. Sông êm ả nhưng người thuyền trưởng luôn miệng nhắc những đứa trẻ không được đứng quá sát lan can, đề phòng sóng ngầm.

Con tàu đã cũ, tiếng lạch cạch của nước vỗ vào mạn tàu luôn làm những kẻ yếu bóng vía, lần đầu đi tàu như tôi phải nổi gai ốc. Vị thuyền trưởng trẻ tuổi, ăn mặc chỉn chu, trắng toát như những chàng trai Pháp trong các bộ phim của Holywood trước thế chiến thứ hai, có vẻ quen nhìn thấy nỗi sợ hãi này trong mắt các vị khách của mình. Anh ta cầm một thùng nước khoáng, luôn miệng hỏi xem có ai cần nước uống không? Vài thuỷ thủ đi lại, nhìn anh với ánh mắt thân thiết.

“Sắp đến Đền tình yêu đấy các bác nhé.”Người thuyền trưởng nói.

Thứ âm sắc vừa to vừa nhẹ nhàng ấy chỉ có thể là người ở phía mạn Nam Định, Thái Bình. Cầm chai nước Lavie từ tay anh, tôi hỏi:

“Anh là người Thái Bình phải không?”

“Sao cô biết?” Anh ta ngạc nhiên.

“Tôi là người Thái Bình mà.” Tôi trả lời.

“Ô! Tôi thấy cô không nói giọng quê.”

“Tôi nói chuyện với người nơi khác nhiều nên bị lẫn giọng, tiếc thật.”

“Cô may mắn đấy chứ. Giọng cô rất hay.”

Tôi cười rồi quay lại phía bờ sông. Hai bên bờ, những ngôi nhà san sát nhau, có chỗ còn lấn ra cả lòng sông bằng những cái kè bê-tông. Đang mùa cạn nước, những chỗ rêu xanh phủ dập dềnh theo từng đợt sóng lên. Bèo hoa dâu trôi nổi. Lục bình tan tác như đã bị vùi dập qua bao dòng chảy. Sự êm ả vĩnh hằng bao giờ cũng ẩn giấu trong lòng quy luật muôn đời. Nước chảy thì đá cũng mòn huống chi cây lục bình yếu mềm ấy.

 

Ông ta đứng đó với hai đứa trẻ, một trai một gái. Đứa lớn là một cậu bé có đôi mắt thật buồn. Cô bé kia khoảng 3, 4 tuổi, rất xinh và hiếu động. Người đàn ông ấy cũng đã bước vào tuổi trung niên. Làn da trắng nhũn nhẽo với những lỗ chân lông có thể nhìn thấy được qua từng nếp nhăn. Đó là một người đàn ông tầm thước, mái tóc xanh rì và cái đầu hơi rụt xuống so với thân. Ngay khi bước lên tàu, ông đứng ngay trước tôi. Tôi nhìn thấy một nốt ruồi nhỏ sau gáy của ông, nơi đứa con gái nhỏ mà ông bế đang mân mê mấy sợ tóc đen của bố nó. Người tình đầu tiên của tôi cũng có một nốt ruồi đỏ sau gáy. Tôi yêu năm 17 tuổi, đã chia tay.

Tôi cảm thấy một sự thu hút kì lạ, nó gợi cho tôi một cái gì đó mà từ lâu, trong sâu thẳm trái tim mình, tôi đã cố gắng bỏ qua, nó nhắc cho tôi nhớ đến những kỉ niệm không vui thuở trước. Những người trẻ tuổi thường cứng rắn với hiện thực nhưng lại tìm cách trốn tránh cảm giác. Nếu họ đối mặt, hẳn là họ đang bất cần. Tôi không biết mình thuộc kiểu người gì nhưng vẫn trốn tránh. Tôi muốn quan sát họ mãi để tìm ra điểm thu hút ấy, nhưng không muốn nhìn trực diện vì ngại ngùng. Đôi mắt người đàn ông rất khô. Ánh nhìn ấy nếu quét qua tôi, có lẽ nó sẽ đốt cháy hết cảm xúc của tôi mất. Tôi nhìn vào tấm kính treo một cách vô lý trên cây cột buồm. Hơi sương buổi sớm làm nó mờ dần, những hình ảnh cứ méo mó, nhưng tôi vẫn cảm thấy thứ mùi Hugo Boss từ người đàn ông đang chăm chú nhìn vào khoảnh nước xanh lặng trước mặt. Trong trăm ngàn mơ tưởng và những nhớ thương vô biên về một tình yêu ráo hoảnh những tính người, tôi đã đi và bỏ lại, đã dừng lại và lại tiếp tục đi. Khi nào cảm thấy cái mùi không thể ngửi bằng mũi mà phải được ngửi bằng cảm giác này, tôi sẽ dừng lại.

Tôi cố gắng để họ không biết tôi đang quan sát họ, nhưng đôi mắt của cậu bé rất sắc, nó chậm rãi mà đờ đẫn, nó sâu như nước mà nhẹ như mây. Đôi mắt ấy từ từ tiến về phía tôi, một đôi tay nhỏ nhẹ nhàng quệt một đường trên tấm kính mờ hơi nước. Một dấu X. Tôi quay lại. Tôi tưởng sẽ bắt gặp một cái nhìn giễu cợt từ cậu bé. Nhưng không, cậu bé cười rất hiền.

“Chị sang đây chơi với bọn em không?”

“Chị á?” Tôi chỉ vào mình.

“Vâng, bé Bông nói chị rất xinh...”

Tôi mỉm cười rồi đi theo cậu bé. Tôi thấy người đàn ông vẫn không tỏ thái độ gì, ông ta có ý tránh ra phía sau để hai đứa con được chơi đùa. Nhìn vẻ căng cứng ở đôi vai, tôi có cảm giác như đó cũng là sự căng cứng của trái tim đang thì thầm đau khổ. Và đôi mắt ấy, có hàng mi lặng lẽ mang đầy nét xưa cũ, hoài vọng nặng ưu phiền. Tôi hơi ngại ngần, cái cách biểu đạt lạnh lùng ấy làm lòng tôi chùng xuống, suy nghĩ đầy mộng cảm.

Người đàn ông nhoẻn miệng cười như để khích lệ tôi. Từ đó, tôi không nhìn về phía ông ta nữa mà chỉ chăm chú chơi cùng hai đứa trẻ.

 

Con tàu ì ạch tiến lên phía sát mép nước. Sóng xoàm xoạp như có hàng ngàn mũi kim nhỏ đang vội vã may vá lại làn nước đang bị thứ sắt thép này xé rách. Dòng nước đỏ đục len lỏi vào những kí ức thần thoại về ngôi đền tình yêu – đền Chử Đồng Tử, Tiên Dung.

Ngôi đền linh thiêng này như thể nằm trong khoảng giữa của không gian và thời gian. Đâu đó tím tái lịch sử đang oằn mình, đền đài cũ nguy nga, người xưa chống gậy úp nón, nay chỉ còn là rêu phong cổ tích. Một mối lương duyên hữu hạn mà trở thành vô hạn. Đời người chẳng thể an hưởng vật chất, sung sướng được mấy ngàn năm? Chỉ có tình yêu là ở lại trong thần thoại. Bia đá trơ trơ cùng tuế nguyệt. Thu thuỷ hồng hoang cũng sững lại dưới chân đền. Người đàn ông đứng đó, dưới những bậc đá, bóng cây đa đổ dài. Tôi thấy ông ta nhìn tôi rất lâu, cơ hồ như một khắc thời gian ánh mắt ấy đã lướt qua trăm nghìn lần ướt đẫm ảo vọng mơ hồ. Tôi chạy lại gần hơn phía họ, tôi nắm lấy tay bé gái và bế nó lên. Cảm giác tốt lành hơn, bởi ba người bọn họ không chỉ là ảo giác của mình, tôi thấy phấn chấn hẳn. Tấm lưng người đàn ông đi phía trước tôi vẫn trong suốt.

Chuyện kể rằng, có chàng trai họ Chử, nhà nghèo đến nỗi hai bố con chỉ có một cái khố. Cha chết, nhường khố cho cha, để thân mình bơ vơ giữa chốn hoang liêu không một mảnh vải che thân. Một lần, gặp nàng công chúa đi ngao du sơn thuỷ bèn vùi mình xuống cát để giấu đi tấm thân trần truồng. Trong khung cảnh chỉ có trời, đất và nước ấy, công chúa quây màn tắm, đúng chỗ chàng trai đang vùi mình. Hai người nên mối lương duyên. Người đời nay vẫn gọi là truyền thuyết Chử Đồng Tử - Tiên Dung.

Hạnh phúc là định nghĩa chưa bao giờ tồn tại hoặc thật sự lâu dài, chỉ có trạng thái hạnh phúc mới là thứ hiện hữu và là sự thật. Hạnh phúc trường tồn chỉ là mớ lý thuyết mà các triết gia và nhà văn tạo ra để vỗ về thế giới trong cơn vật vã của sự tồn tại hay không tồn tại. Tồn tại để lòng quặn đau vì những ràng buộc, truyền thống hay vọng tưởng về sự quá hoàn hảo của một luận thuyết. Không tồn tại để trở về với cát bụi hay là vô nghĩa. Vì là một con vật tiến hoá thành nên người ta không muốn chết. Vì do Chúa, Phật, Allah sinh ra, nên họ muốn thoát xác.

Nghịch lý quá đỗi!

 

“Bàn tay này vẫn giữ những kỉ niệm đẹp nhất về em.” Người đàn ông nói với tôi.

Tôi giật mình quay lại. Tại sao lại là một câu của Kawabata? Đôi mắt long lanh của người đàn ông ấy vẫn nhìn tôi. Hai đứa bé chạy nhảy trên thềm đá. Bóng của chúng nhoè dần như những cánh bướm.

“Thật ư?”

Tôi muốn siết chặt đôi bàn tay thô ráp của ông như cái cách mà người vũ nữ trong truyện của Kawabata đã làm. Nhưng tôi sợ đây chỉ là một câu chuyện.

“Đây không phải là một câu chuyện.” Ông nói.

“Em đã giữ lời hứa.”

“Em chưa từng đi tìm anh. Anh đã tìm em.”

“Em chỉ hứa là sẽ trở lại... Bây giờ em đã trở lại rồi.”

“Ừ.”

Không khí quanh tôi lạnh hơn bình thường. Cái giá rét của những tấm thân đơn độc, giữa trời, nước và huyền thoại. Tôi chưa bao giờ hiểu, tại sao những sự việc đơn giản, diễn biến rất đơn giản và kết cục cũng đơn giản, lại chỉ có thể có trong truyện cổ tích hay thần thoại. Tôi đã không cố gắng tìm đến nơi mà tôi có thể được thoả mãn những ước muốn phù du của tôi về thế giới hạnh phúc hơn thế. Tôi đã đánh mất ông ấy trong khi còn quá mù quáng vì những câu hỏi tại sao. Khi còn trẻ, người ta thường như vậy.

Năm ấy, tôi mới 17 tuổi...

“Đừng nhớ lại quá khứ nữa.”

“Đúng rồi.” Tôi khẽ cười.

Ông ấy đứng cạnh tôi, mùi Hugo Boss vẫn nồng, như ngày hôm qua chưa từng biến mất.

“Con anh, chúng rất đẹp.”

“Con của chúng ta, nó...”

Tôi không muốn nói nữa. Quay mặt nhìn về phía mặt nước mênh mang.

 

Nhớ có một buổi đêm, cùng với người tôi yêu. Từng con phố Hà Nội cứ dài ra, đen kìn kịt những bóng người. Trong cơn say lung linh, đứa con bé bỏng của tôi đã sinh ra và chết đi như quyết định của người mẹ mới 17 tuổi của nó muốn vậy. Đứa con của tôi chưa từng nhìn thấy ánh mặt trời. Đến khi nước mắt lưng tròng, thời gian xoá hết mọi thứ. Tôi chỉ còn nhớ đến khoái cảm khi ân ái với người đàn ông này và nỗi đau khi bà bác sĩ có đôi mắt trắng dã nhìn tôi, đưa nó ra khỏi cơ thể tôi.

Tôi chưa từng hoảng sợ trước bất cứ điều gì. Ngược lại, càng ngày tôi càng trơ lì đến vô cảm. Tôi cũng không sợ điều đó, còn có phần vui mừng.

Người đàn ông nào cũng có một bộ mặt xã hội, một danh dự cần phải giữ. Tôi thì là một con ngựa hoang. Người này thuộc về bên kia chiến tuyến so với hệ tư tưởng vốn có của tôi. Tôi là người tự do đến mức phóng túng. Sẵn sàng bất chấp mọi thứ để đạt được tự do tuyệt đối, còn ông ta là người thuộc về thực tế. Sống trong một mảnh trời đầy cám dỗ nhỏ mọn, ông ta phải nương theo. Tôi trở thành kẻ man rợ hấp dẫn. Tôi thuộc về một thế hệ mới muốn vứt bỏ hết hào quang cũ để vươn đến đỉnh cao mới. Còn ông ta, cách tôi mấy thập kỉ tuổi tác, nhận thức đã đi về chỗ chỉ muốn có duy nhất bản thân mình.

 

“Công việc của anh dạo này sao rồi?”

“An ổn cả.”

“Không vướng vào vòng xoáy quyền lực và tiền bạc nữa chứ?”

“Vướng nhiều hơn. Anh thấy mình cần như vậy?”

“Nhìn anh già đi rất nhiều.”

“Anh đã 50 tuổi rồi.”

“...”

“Đã ly thân. Đợi nghỉ hưu rồi ly hôn.”

“Anh vẫn sợ sệt cho bộ mặt của mình nhỉ?”

“Anh không sợ. Anh thương con anh.”

“Em biết. Nếu có thể, chắc đã muốn làm tình với từ ‘thương’ của anh.”

“Lâu nay, anh vẫn tìm em...”

“Anh tỉnh ra đi, em mới chỉ 20 tuổi. Em vẫn chỉ là một đứa trẻ con.”

“Nếu em vất bớt cái tôi của em đi, nếu em biết thương người khác thì con chúng ta đã không phải chết, thì chúng ta đã có kết thúc...”

Tôi thở dài. Trên đời làm gì có từ “nếu”.

“Em vẫn đi theo đám người đó à?”

Tôi không trả lời nữa, tiến về phía hai đứa trẻ. Ráng chiều đỏ ửng phía xa. “Đám người” được nhắc đến là một nhóm nhà văn. Tôi là người trẻ nhất, viết mạnh bạo nhất và dứt khoát nhất.

Tất cả những người như ông ta đều coi đó là mầm hoạ. Còn tôi lại yêu ông ta cũng từ cái mầm hoạ đó mà ra.

“Thôi đừng nhớ về quá khứ nữa.”

Ông đưa tay xoa lên vai tôi. Đôi mắt đứa con trai lớn nhìn chằm chằm vào vai tôi rồi lảng đi chỗ khác. Tiếng còi tàu hú lên những hồi dài.

“Bố ơi, chúng ta về tàu đi.” Bé gái thỏ thẻ.

Người đàn ông quay qua nhìn tôi, ánh mắt ngập ngừng.

 

Sông Hồng gào lên bản hùng ca lúc triều xuống. Rào rào. Gầm gừ.

Sau hoàng hôn sẽ là đêm. Sau đêm, là mặt trời.

Ngày mai, chúng ta đã ở biển ...

Phạm Phương


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
24 Tháng Ba 202510:05 CH(Xem: 23738)
Tôi tìm trên khóm cỏ / Tôi tìm trong tán cây / Trên tường vôi , bảng hiệu / Trên áo người qua đây
22 Tháng Ba 202512:40 SA(Xem: 26418)
Tôi có người Anh / Lâu rồi không thả hồn viết về đồng đội, những người lính trẻ / Chắc hẳn cũng quên, thời vẫy vùng ngang dọc / Thời nắm đấm vung / Khi không vui, khi giận dữ, cuộc đời! Tôi có người Anh / Từng thương tích đầy người qua chiến trận / Từng say khướt đêm dài, ngày phép ngắn, để quên đau…
20 Tháng Ba 202511:54 SA(Xem: 16841)
Giới thiệu của người dịch: "Cuốn sách này là bản dịch của một tập hợp bài viết về các nhân vật, văn học và báo chí của các cá nhân người Việt đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn thông tin phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của Miền Nam Việt Nam, cũng như sự nghiệp cá nhân trong lãnh vực nhân văn. / Những nhân vật được mô tả phần lớn đã nổi tiếng trong thời kỳ 1954 - 1975. Sau khi Miền Nam sụp đổ vào tay Bắc quân năm 1975, hầu hết trong số họ đã bị giam cầm một số năm trong các trại cải tạo cộng sản. Sau đó, vào những năm 1980, một số đã đến Hoa Kỳ và hầu hết vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo."(ERIC HENRY / Đồi Chapel, Bắc Carolina. / Viết cho Ngày 30 tháng 4 năm 2025).
18 Tháng Ba 20253:30 CH(Xem: 23603)
Hột nổ / Trong con mắt / Đồng bạc cắc / Túi lủng Cúi / Lượm / Một duyên tình / Hát vui đời / Túng quẫn /
17 Tháng Ba 20251:13 SA(Xem: 27020)
Anh muốn cầm bàn tay em / Ngồi bên chiều vừa xuống / Đợi hoàng hôn rơi trên biển xa / Ở một nơi trăng sao mềm vai nhớ
17 Tháng Ba 202512:46 SA(Xem: 26018)
Rưng rưng lệ vương khóe mắt / Tìm đâu hình bóng Mẹ xưa / Lời ru khi còn thơ trẻ / Ơi…à thương mấy cho vừa
16 Tháng Ba 202511:28 CH(Xem: 33713)
hai mươi mấy năm trước, / anh với em cứ nhìn nhau / anh kể chuyện vô duyên, / em cười / em không thích trời mưa / anh lại ưa ướt át
14 Tháng Ba 202510:12 CH(Xem: 22390)
Người ta thường ví Mèo như một người phụ nữ, bởi Mèo có vẻ nhẹ nhàng nhỏ nhẻ từ cách ăn, cách ngủ cả đến lúc Mèo gần gũi, nũng nịu bên chủ để được che chở vuốt ve. / Tôi không thích Mèo và không bao giờ có ý nghĩ là mình sẽ nuôi Mèo. Tôi cho rằng cái cách dịu dàng của Mèo như một sự dối trá ẩn sau cái ác. Bởi lẽ lúc nhỏ, tôi đã từng chứng kiến và xót đau khi cái lũ mèo nhà hàng xóm xé tan xác ăn thịt mấy con chim bồ câu nhà mình nuôi. Nửa đêm khuya khắc tôi hay bị thức giấc vì tiếng kêu, tiếng chạy đuổi nhau trên mái tôn nhà ông Lý sát cạnh nhà mình, nghe bắt rợn người. Và có lẽ vì Mèo nó có cái vẻ yểu điệu, dịu dàng tương phản với cái vẻ thô thô, cứng ngắt của tôi nên tôi ghét nó...
14 Tháng Ba 20259:07 CH(Xem: 25356)
nghiêng vai chiều lại xuống rồi / em về tả ngạn kịp trời mưa dông / đò đưa qua đó cũng gần / để anh đợi mấy trăm lần mới quen
14 Tháng Ba 20258:55 CH(Xem: 19714)
Sáng sớm hôm nay, khi mở hộp thư, nhận được tin, tôi liền điện thoại cho anh Phạm Văn Nhàn, người bạn thân với anh chị Thương – Quy. Hỏi, “Anh Nhàn ơi, anh hay tin gì chưa? Anh Lê Ký Thương đã ra đi lúc 9 giờ 50 phút sáng hôm nay 14/2/2025. Cả hai anh em đều buồn. Im lặng một lúc, anh kể mới gọi thăm anh LKT cách nay mấy tuần. Chị Quy nói chuyện rồi đưa phone qua cho anh Thương, nhưng khi đó miệng anh Thương đã cứng, không nói được gì...
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3827)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13288)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19661)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18630)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1630)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1788)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2304)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2409)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1458)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2210)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1950)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1995)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1369)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2411)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2623)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2370)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 246)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 807)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1007)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1111)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6408)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15897)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32150)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38862)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1482)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13876)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6902)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10694)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9883)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 10011)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10814)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3457)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11153)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10356)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi