- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Houston, Những Ngày Đáng Nhớ

17 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 99327)

 

Xin cảm ơn nhà văn Trùng Dương Nguyễn Thị Thái đã giới thiệu tôi đến với Hội Bảo Tồn Văn Hoá và Lịch Sử Người Mỹ Gốc Việt (Vietnamese American Heritage Foundation), để được quen và làm việc với chị Triều Giang, người chịu trách nhiệm về chương trình 500 lịch sử phỏng vấn của hội. Bên cạnh đó, tôi còn được quen biết quý anh chị thiện nguyện cho chương trình này tại Houston, như anh chị Đặng Thiệu và Tạ Quỳnh Hoan, chị Tuyết Mai, chị Nguyễn thị Linh, chị Loan Nguyễn, chị Nga, Luật sư Steven Dieu, anh Nguyễn Bá Quyền, anh Trần văn Anh, thuộc T.V.A Photo đến giúp đỡ về kỹ thuật quay hình, và anh Huỳnh Quốc Văn, thuộc VA Media, đã cho mượn máy quay phim cùng các em sinh viên thuộc hội VAHF như Roger Le, Nina Lu, và Jason Wang.

 

Hạnh phúc hơn nữa, tôi đã được chia sẻ những vui buồn, những kỷ niệm rất đáng quý với những vị tôi được hân hạnh phỏng vấn.

 

Hôm nay, công việc đã xong, tôi muốn ghi lại một chút kỷ niệm đã có với Houston trong thời gian chín ngày qua, từ ngày 27 tháng Hai tới ngày 7 tháng Ba, 2011.

 

Từ Sacramento, tôi lấy chuyến bay của hãng US Airway đến Houston, những tưởng rằng, rẻ hơn và thời gian chuyển tiếp tại Pheonix không lâu, nhưng mưu sự tại nhân thành sự tại thiên. Chuyến bay bị trễ vì thời tiết xấu tại Sacramento, thời gian chuyển tiếp kéo dài hơn, và phải trả thêm tiền hành lý. Sau cùng, tôi cũng đến được Houston vào thứ sáu ngày 25 tháng Ba lúc 8 giờ 45 tối giờ địa phương.

 

Trước khi đi, tôi đã liên lạc với hai người chị kết nghĩa là chị Châu Hà và chị Song Kim, nên chúng tôi đã có một buổi tối hội ngộ thật vui và nhiều tiếng cười, sau nhiều năm xa cách.

Chị Hà hỏi tôi đi sang bên này làm gì, thế là bao nhiêu hãnh diện dồn lên mắt, lên môi. Tôi sung sướng trả lời :

 

- Em đi làm việc thiện nguyện cho chương trình 500 lịch sử phỏng vấn của Hội Bảo Tồn Lịch Sử và Văn Hoá Người Mỹ Gốc Việt.

 

- Em sẽ ở đây bao lâu?

 

- Cũng 10 ngày đấy ạ.

 

- Thế ăn ở ra sao?

 

- Dạ em ở chung với mấy chị cùng làm chương trình này. Chị Thục Viên, là bạn của chị Trùng Dương và Triều Giang từ thuở họ làm cho nhật báo Sóng Thần ở Sàigòn trước 1975, có nhã ý cho cả nhóm trú ngụ trong thời gian ở Houston.

 

- Thì cũng có lúc phải về nhà ăn uống chứ?

 

Tôi thoáng nghĩ đến những ngày làm việc thật bận rộn sắp tới, và tự đặt ra hàng rào kỷ luật cho mình:

 

- Chị đừng lo, nếu… xẹt về được là em… xẹt liền!

 

Chiều hôm sau, thứ bảy, tôi đến Nhà Việt trên đường Bellaire -- một loại Bolsa của Little Saigon ở Nam Cali -- để dự buổi họp đầu tiên của nhóm.

 

Người ta nói trước lạ sau quen, nhưng hình như chúng tôi chỉ cần gặp nhau là đã quen và chuyện nổ như pháo rang. Sao mà vui thế. Buổi họp gồm các anh chị thiện nguyện nòng cốt tại Houston như chị Tạ Quỳnh Hoan, anh Đặng Thiệu, chị Loan Nguyễn, anh Steven Dieu, chị Nga Dung, và những thiện nguyện viên ở xa như chị Trùng Dương và tôi. Tôi được chị Trùng Dương giới thiệu với mọi người và với chị Triều Giang, trưởng chương trình. Triều Giang thật xinh xắn, với kiểu tóc ngắn của các tài tử Hollywood thập niên 1960-70 đã khiến Triều Giang có vẻ dễ thương và tinh nghịch. Sau lời phi lộ của người trách nhiệm, chúng tôi phân chia công việc, rồi hẹn ra quân ngay ngày hôm sau, chủ nhật 27 tháng Hai.

 

Sáng sớm chủ nhật, tại bản doanh đài Saigòn-Houston Radio của anh chị Dương Phục và Vũ Thanh Thủy, chị Trùng Dương, chị Triều Giang, chị Quỳnh Hoan, Tiến sĩ Đặng Thiệu, Hoạ sĩ Dương Phước Luyến và Jason Wang đã mỗi người một việc, giúp trưng bày phần triển lãm các hình ảnh từ những lần phỏng vấn trước, và soạn tài liệu cho việc phỏng vấn như tiểu sử, các câu hỏi dự trù, chụp hình và máy quay phim.

 

Đài Saigòn-Houston đã dành cho VAHF một không gian thật ưu đãi và đầy đủ phương tiện: Hội Quán của đài rộng rãi để tiếp khách, và những phòng nhỏ để phỏng vấn thật yên tĩnh và ấm cúng.

Chúng tôi tiếp đón những người khách đầu tiên của chương trình 500 lịch sử phỏng vấn, với niềm hân hoan xen lẫn xúc động. Tưởng rằng sẽ rất bỡ ngỡ và khó khăn khi phỏng vấn một người lạ về những gì rất riêng tư, thế nhưng mọi việc đã trôi qua thật êm đềm, nỗi thương đau cũng như niềm hạnh phúc của từng người đã được chia sớt trong ân cần và thương cảm.

 

Trước khi đến Houston, tôi đã thử mường tượng đến khung cảnh làm việc, đến những người mình sẽ làm việc chung, nhưng không thể nghĩ được một điều là trong chín ngày ngắn ngủi tại Houston, tôi đã được sống với nhiều cuộc đời khác nhau, mà cuộc đời dài nhất đã hơn 80 năm, tôi đã được khóc khi nghe kể về những biến cố bi thương, dồn dập xảy đến cho nhiều người, đôi khi từ thuở ấu thơ.

 

Từng mốc điểm lịch sử của dân tộc đã là những thời khắc đáng nhớ của đời người. Chỉ có ai được sống với đất nước trong những lúc thăng trầm, mới hiểu được vì sao mình yêu nước nồng nàn, vì sao mỗi lần nghe nhắc đến cố hương nước mắt lại trào ra, vì sao không an phận ở xứ người mà cứ ngóng trông về quê cũ.

 

Những mốc thời gian…
Việt Nam những năm 1945, 1946

 

Miền Bắc trong những năm 1945, 1946, người dân sống giữa sự khủng bố của Việt Minh và ruồng bố của Pháp. Sinh mệnh của con người chỉ là một sự tình cờ. Trong muôn vàn khổ cực mà người dân miền Bắc phải hứng chịu, có gia đình của chị Phạm Tuyết Mai đã cùng dân làng chạy trốn vào một hang núi khi bị Tây bố ráp, thế rồi trước ánh mắt thảng thốt của cô bé Mai lúc ấy mới 9 tuổi, người cha bị bắn vào vai, vào ngực, tiếng đạn nổ chát chúa và máu tuôn lênh láng…

 

Miền Trung Việt Nam của năm 1945, 1946… tiêu thổ kháng chiến, làng mạc bị san thành bình địa… Dưới cái nắng khô khốc, ông Nguyễn Cự lúc ấy là một cậu bé khoảng 4, 5 tuổi, lúp xúp đi theo đàn trâu để hốt phân làm phân bón cho luống rau ở nhà, sau khi Cha, người Bác và người Chú đã bị cộng sản chặt đầu, chôn chung một hố.

 

Sau năm 1954, làng xã được chính quyền quốc gia tiếp thu, ông Nguyễn Cự có một cuộc đời mới, với đôi chân bé nhỏ, ông đã vượt đoạn đường 14 cây số đi về mỗi ngày, để có được hạnh phúc thật đơn giản và vô giá: được cắp sách đến trường.

 

Năm 1954 - Hiệp định Geneve - Đôi Bờ Bến Hải

 

Hiệp định Geneve năm 1954 chia đôi đất nước. Hàng triệu gia đình người Bắc đã di cư vào Nam, có nơi đi được cả làng, có gia đình đi đông đủ, nhưng cũng có gia đình bị chia ly.

 

Dạo trước, mỗi lần nghe nhạc phẩm “Hướng Về Hà Nội” của Hoàng Dương, hay “Giấc Mơ Hồi Hương” của Vũ Thành, tôi thường tưởng tượng về Hà Nội, và chìm đắm trong nỗi nhớ nhung thê thiết của tác giả… Lìa xa thành đô yêu dấu, một sớm khi heo may về. Lòng khách tha hương vương sầu thương. Nhìn em mờ trong mây khói, bước đi nhưng chưa nỡ rời, lệ sầu tràn mi, đượm men cay đắng biệt ly…

 

Nhưng chín ngày ở Houston, làm việc với VAHF qua vai trò phỏng vấn viên, tôi đã khóc, đã thực sự cảm nhận được như chính mình bị mất mát, bị chia lìa. Làm sao không dõi hoài hình bóng của người thân bị bỏ lại. Làm sao cầm được nước mắt khi mường tượng đến hình ảnh bốn mẹ con người thiếu phụ đầu quấn khăn tang dắt díu nhau vào Nam.

 

Quê người một sớm heo may đến

Có ai gửi lại cuộn phim buồn

Nửa thế kỷ rồi sao vẫn nhớ

Nhớ ngày tất tả chạy vào Nam

 

Ba đứa con khờ còn ăn bám

Mẹ gánh oằn vai một núi sầu

Cha tôi vừa mất vài hôm trước.

Mộ còn chưa ráo những thương đau

 

Lén lút mẹ con dắt díu nhau

Bỏ nhà bỏ cửa chạy đi đâu?

Ngoái trông chốn cũ sau màn lệ

Vội vã theo nhau bước xuống tàu

(Thơ Nguyên Nhung)

 

Và làm sao không thắt cả ruột gan khi nghe chuyện một thanh niên miền Bắc quyết định vượt tuyến vào Nam năm1957? Chuyến đi muộn màng với bao nhiêu hiểm nguy đang chờ, bao nhiêu bất trắc đang giăng bẫy, thế nhưng hai chữ Tự Do đã khiến người thanh niên gan dạ thực hiện được giấc mơ của một đời người.

 

Lời kể chậm rãi, pha chút vui nhộn, khiến tôi như được đi chung với người ấy trên những đoạn đường gian nan. Phân vân hồi hộp khi phải chọn đoạn đường men theo sườn núi để tránh ánh trăng sáng vằng vặc trên cánh đồng. Nín thở thụp đầu sâu xuống nước để tránh ánh đèn đang quét trên bờ đá, hoặc tránh chiếc xuồng đi câu ban đêm. Và những giọt nước mắt hạnh phúc đã lăn nhanh trên má, khi biết người ấy đã vịn được thành cầu Hiền Lương thuộc miền Nam Tự Do.

 

Miền Nam Tự Do khởi đầu từ năm 1954 với nền đệ nhất Cộng Hoà của Tổng Thống Ngô Đình Diệm, chính phủ đã giúp ổn định đời sống của một triệu người dân miền Bắc di cư, xây dựng ấp chiến lược để chống du kích cộng sản xâm nhập khuấy rối miền Nam. TT Ngô Đình Diệm không muốn có quân đội Hoa Kỳ trên đất nước, và đệ nhất Cộng Hòa chấm dứt năm 1963 với cái chết thê thảm của ông cùng bào đệ là ông Ngô Đình Nhu.

 

Miền Nam Tự Do tiếp tục với nền đệ nhị Cộng Hoà của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu. Quân đội Hoa Kỳ ồ ạt đổ quân vào miền Nam, cộng sản đưa quân vào miền Nam, chiến trận gia tăng. Những thế hệ trẻ của miền Nam đã bỏ học đường ra chiến trường bảo vệ miền Nam Tự Do.

Cuộc chiến đột ngột kết thúc vào cuối tháng Tư năm 1975, cộng sản miền Bắc giành được phần thắng.

 

Những người trong cuộc của miền Nam mà tôi có dịp được phỏng vấn tại Houston, đã bày tỏ những nhận định khác nhau về hai nền đệ nhất và đệ nhị Cộng Hoà, đã có những chua chát, những ngậm ngùi. Nhưng tất cả đều có một đồng thuận là quân dân miền Nam trong 21 năm, 1954-75, đã được sống một cuộc đời đáng sống. Người miền Nam đã không ngại đổ máu đào để bảo vệ Miền Nam Tự Do, bảo vệ tinh thần dân tộc tự quyết và nền độc lập quốc gia.

 

Năm 1975 - Trại Tù - Biển Mở Đường Đi…

 

Biến cố 30 tháng Tư năm 1975, đã khiến mảnh đất tự do duy nhất của đất nước bị mất. Mọi người lâm vào thảm kịch: Bị đi tù cải tạo, bị đánh tư sản mại bản, bị cướp nhà, bị đuổi đi kinh tế mới, bị bắt, bị hãm hiếp, bị chết trên đường vượt biên vượt biển.

 

Tôi đã được nghe nhiều và đã có cơ hội đọc nhiều tài liệu, và ngay chính gia đình mình cũng đã trải qua nhiều kinh nghiệm đau thương của thời kỳ sau năm 1975. Thế nhưng, tôi không thể quên đươc dòng nước mắt của một vị cựu quân nhân Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà, ông Phạm Bá Hoa năm nay đã ngoài 80, khi ông nhắc đến những ngày cuối cùng của miền Nam: “Tôi không di tản năm 75, là cấp chỉ huy tôi không thể bỏ anh em, những ngày cuối cùng chúng tôi gặp nhau, khóc với nhau vì vận nước…”

 

Tôi không thể chia sớt, dù một chút, nỗi buồn của một người em khi nhắc đến người chị, nỗi khổ tâm của một người dì, khi nhớ đến đứa cháu mới lên 7 đã mất tích trên đường vượt biển.

Tôi không thể thấu hiểu nỗi lòng tan nát của người Mẹ phải bỏ lại đứa con tật nguyền mới 6 tuổi cho mẹ già để đi tìm tự do.

 

Tôi không cầm lòng được khi nghe kể chuyện về người con trai trưởng đã chết trong chuyến vượt biển vì anh lo cứu người khác. Và tôi không làm sao chia xẻ được nỗi bi thương khi một người phải gửi Mẹ lại một ngôi chùa để ra đi?

 

Bước Đường Lưu Vong - Về Miền Đất Hứa

 

Người Việt Nam đổ dồn ra biển tìm tự do. Những trại tỵ nan dưới sự tài trợ của Cao Uỷ Tỵ Nạn Liên Hiệp Quốc được nhanh chóng thành lập tại các nước Đông Nam Á.

 

Những người đi sớm vào những ngày cuối tháng Tư 1975, khi cập bến Phillipines, vẫn còn bàng hoàng khi kể lại: “Chúng tôi đến Phillipines, thì được lệnh là phải hạ cờ vàng ba sọc đỏ, phải xóa các dòng chữ Hải Quân Việt Nam trên tàu, và không ai được mặc quân phục của miền Nam Việt Nam… Chúng tôi đã đứng chào cờ lần cuối và hạ cờ trong nước mắt và uất nghẹn. Những người lính hải quân nghẹn ngào cởi bỏ quân phục. Buồn quá!”

 

Những người đi sau đó, đến được các trại tỵ nạn Mã Lai, Hồng Kông, Thái Lan, bình tĩnh hơn, đã nhanh chóng thành lập một cơ cấu cộng đồng để bảo vệ nhau và làm sợi dây liên lạc giữa người tỵ nạn và Cao ủy Tỵ nạn LHQ.

 

Theo lời kể của nhà văn Nguyễn Chí Thiệp, tuy mới chân ướt chân ráo đến trại tỵ nạn sau những ngày gian nan trên biển, nhưng với tinh thần muốn bảo tồn và phát huy văn hoá, người Việt tỵ nạn tại Mã Lai đã thực hiện một cuộc triển lãm, khi có một yếu nhân người Pháp đến thăm trại. Chính nỗ lực này đã đem lại thêm 100 visa khác ngoài quota mà nước Pháp dành cho người Việt tỵ nạn.

 

Từ trại tỵ nạn, người Việt toả đi khắp nơi trên thế giới. Tuy gặp khó khăn về ngôn ngữ và phong tục tập quán, nhưng với không khí tự do dân chủ, sau hơn 35 năm kể từ năm 1975, người Việt ở khắp nơi đã khá ổn định.

 

Riêng tại Hoa Kỳ, cộng đồng người Việt đã có những khu phố mang tên Little Saigòn, cờ Vàng ba sọc đỏ đã được nhiều tiểu bang và nhiều thành phố công nhận.

 

Nhiều người thuộc thế hệ định cư thứ nhất đã trở lại ngành nghề cũ. Hoạ sĩ Dương Phước Tấn tại Houston đã tâm tình rằng, ngày còn ở trong nước, ông đã xếp bút nghiên rời bỏ trường Mỹ thuật Huế để vào lính, nay ra đến hải ngoại, ông trở về nghề vẽ. Ông đã vẽ rất nhiều và đã tham dự nhiều buổi triển lãm. Tác phẩm của ông là những bức tranh sơn dầu vẽ một góc Sàigòn, một chiều mưa Sàigòn, vài tà áo dài thướt tha… Ở đâu cũng là quê hương.

 

Thế hệ thứ hai thành công ở nhiều lãnh vực và tham gia vào dòng chính. Nhưng cả hai thế hệ đã cùng thành công trong việc giữ gìn và phát huy văn hoá truyền thống Việt.

 

Làm sao không vui, không hãnh diện khi nghe ông Bùi Đăng Trình kể rằng: Ông đã mua một miếng đất tại Houston, xây nhà để ông bà cha mẹ con cháu quây quần bên nhau. Con đường vào ngôi làng gia tộc đó mang tên là Bùi Drive.

Những di sản văn hoá Việt đã luôn luôn được gìn giữ dù ở bất cứ nơi đâu và trong bất cứ hoàn cảnh nào. Như trong cái nghèo tận cùng của năm 1945, 1946, tại miền Trung, tình thương yêu gia đình vẫn nở hoa, cha mẹ hy sinh cho con, không ngại tảo tần nắng mưa, những anh chị lo cho em đã là những ơn nghĩa không thể quên và không thể đáp đền. Người anh của nhà văn Nguyễn Mạnh An Dân đã bán nhẫn cưới để mua cho em chiếc đồng hồ khi em thi đậu đệ thất. Ông Đặng Xuân Ngô vì luôn nhớ ơn anh nuôi ăn học, đã đem con của người anh đi vượt biên và để con ruột của mình ở lại.

 

Ở miền đất hứa, người Việt với hai bàn tay trắng đã xây dựng được sự nghiệp, cũng như tại miền Nam Việt Nam sau năm 1954, một triệu người dân miền Bắc đã có đời sống hạnh phúc yên ấm chỉ sau một thời gian ngắn. Những làng xã được chính quyền quốc gia tiếp thu năm 1954, cũng được người dân ra sức dựng xây. Thành phố Quy Nhơn là một ví dụ, theo lời nhà văn Nguyễn Mạnh An Dân, năm 1946 thành phố là một bình địa bởi phong trào tiêu thổ kháng chiến, nhưng sau năm 1954, thành phố Quy Nhơn đã dần dần trở thành một thành phố tươi đẹp, sầm uất và thịnh vượng.

 

Đoạn kết

 

Tôi xin được gọi Chương trình 500 lịch sử phỏng vấn của hội VAHF là một gạch nối liền của lịch sử Việt kể từ năm 1945. Vì chương trình này được bắt đầu thực hiện vào năm 2008, những người được mời phỏng vấn chỉ có 500 người định cư tại Hoa Kỳ, và những vị lớn tuổi nhất chỉ có thể trên 80, nên gạch nối liền này chắc chắn sẽ mỏng manh, nhưng trung thực và cần thiết.

 

Qua chín ngày làm việc tại Houston, tôi cảm nhận được một điều: những người được phỏng vấn là những người được viết tiếp dòng sử Việt, từng cuộc đời được dàn trải sắp xếp kế bên nhau, cùng có chung những hạnh phúc, và những nhọc nhằn với đất nước và luôn luôn minh chứng rằng: Người Việt muốn được sống như những con người và phải được sống như những con người.

 

Gạch nối liền lịch sử này có đầy đủ những chứng tích thương đau của thời kỳ sau khi Việt Minh cướp chính quyền năm 1945; cuộc di cư vĩ đại của một triệu người dân miền Bắc khi đất nước bị chia đôi năm 1954; khổ cực, nghèo nàn, lạc hậu của người dân miền Bắc được phơi bày sau năm 1975; thương đau người dân miền Nam phải gánh chịu sau năm 1975.

 

Và đặc biệt cuộc di cư bằng thuyền vô tiền khoáng hậu của người dân Việt Nam sau biến cố 30 tháng Tư năm 1975.

 

Nhưng trên gạch nối lịch sử này đã có những lóng lánh của tình nghĩa người Việt dành cho nhau, mà chúng ta hãnh diện gọi là văn hóa Việt.

 

Những chuyến vượt biên đầy kinh hãi bởi sóng gió và hải tặc, nhưng vẫn không xóa được tâm tình nhân hậu của người Việt Nam. Đến xứ người một thời gian, vừa có công ăn việc làm, đã vội nghĩ đến người thân còn ở lại. Một con ngựa đau cả tàu không ăn cỏ. Lá lành bên đây đùm lá rách ở quê nhà.

 

Người Việt luôn luôn muốn sống gần nhau. Ông bà muốn nghe con cháu nói tiếng Việt, đi thưa về trình, con cháu muốn chăm dưỡng ông bà cha mẹ lúc tuổi già. Nếu vì công ăn việc làm phải xa nhau, thì nỗi buồn có thể làm người cao niên héo hắt. Nếu phải gửi cha mẹ vào viện dưỡng lão thì tâm tư con cháu không lúc nào yên.

 

Sợi dây gia tộc chòm xóm đã cột chặt mọi người từ đời này sang đời khác. Những ràng buộc văn hoá, lễ giáo, đôi lúc như nặng nề, vướng bận trong đời sống thực dụng ở xứ người, nhưng đây chính là di sản quý báu của dân tộc mà người Việt đã đem theo khi bỏ nước ra đi.

 

Việc làm của Hội Bảo Tồn Văn Hóa và Lịch Sử Người Mỹ Gốc Việt (VAHF) qua chương trình 500 lịch sử phỏng vấn đã đóng góp thật nhiều vào nỗ lực giữ gìn và phát huy những giá trị di sản đó. Nhưng việc làm của Hội không thể nào trọn vẹn nếu không có những trợ giúp, vận động đóng góp tài khoản từ cộng đồng người Việt khắp nơi tại Hoa Kỳ. Khởi đầu là các em sinh viên của 119 trường đại học thuộc Liên Hội Sinh Viên Việt Nam vùng Bắc Mỹ đã đi rửa xe, bán phở để kiếm tiền cho Hội, sau đó là những hội đoàn, cá nhân và bây giờ tại Houston, vị Thầy trụ trì của chùa Liên Hoa, Hòa Thượng Thích Huyền Việt và một số thân hào nhân sĩ đã và đang vận động đồng hương đóng góp ngân khoản để Hội có thể hoàn thành được phần chương trình còn lại. Một đóa hoa tươi thắm xin được gửi đến mọi người.

 

Mọi ý kiến, đóng góp xin liên lạc với Hội qua địa chỉ : VAHF, P.O. Box 29534, Austin, TX 78734.

Phạm Diễm Hương

( 03/2011)

 

 

Hình ảnh & Sidebar
(bên dưới)

 

 

 vahf500hous

 

Hình ảnh

Bên trên là collage gồm một số hình ảnh về đợt phỏng vấn cho chương trình 500 lịch sử truyền khẩu của hội Bảo tồn Văn hoá và Lịch sử Người Mỹ gốc Việt (Vietnamese American Heritage Foundation, VAHF) tại Houston, từ ngày 27 tháng Hai tới ngày 7 tháng Ba, 2011, với trên 90 cuộc phỏng vấn có thu hình đã được thực hiện. Hình 1-3: Các tình nguyện viên sửa soạn cho cuộc triển lãm “Phụ nữ và Trẻ em trong Cuộc chiến Việt Nam” tại hành lang lối vào đài Sàigòn-Houston, Houston, Texas. H. 4: Các tình nguyện viên đang thử lại dụng cụ quay phim. Hình 5: Hoà thượng Thích Huyền Việt đang kể lại hành trình đi tìm tự do tôn giáo của mình. Hình 6: Bác sĩ Mùi Quý Bồng đang chia sẻ chuyện đời mình. Hình 7: Tình nguyện viên Trùng Dương sau khi phỏng vấn cô Vũ Phương Anh, nguyên nhân công xuất cảng trong chương trình cứu đói giảm nghèo của Việt Nam Cộng sản hiện tị nạn chính trị tại Mỹ sau khi bị chính quyền VNCS đe dọa trừng trị vì đã đứng lên tranh đấu cho quyền lợi của công nhân Việt bị chủ bóc lột, hành hung và bỏ đói, trong khi toà đại sứ Việt Cộng tại Jordan bỏ rơi không can thiệp, vào năm 2008. Hình 8: Phỏng vấn viên Linda Ho Peché, mặt, và thu hình viên Hoàng Thành chụp hình lưu niệm với ký giả Vũ Thanh Thủy, một cựu thuyền nhân, trước khi phỏng vấn. Hình 9: Phỏng vấn viên Triều Giang Nancy Bùi và thu hình viên Roger Lê và Cụ Nguyễn Thượng Khâm Thiên, một nghệ sĩ tạo hình, người đã vượt biên tìm tự do bằng đường bộ; và ông đã kiếm tiền độ nhật bằng việc nặn những con giống bán. Hình nhỏ trên góc trái, ông đang tô mầu con giống Tôn Ngộ Không mà ông nặn trong lúc kể chuyện đời mình và tặng lại cho người phỏng vấn ông. Hình 10: Nữ thẩm phán Hoàng Bảo Khanh đứng giữa thu hình viên Jason Wang và người phỏng vấn bà, Bùi Đăng Khoa. Hình 11: Linh mục Anthony Tâm Phạm, ngồi, với phía sau là Triều Giang, chuyên viên thu hình Hoàng Thành và phỏng vấn viên Tạ Quỳnh Hoan. Hình 12: Hoạ sĩ Dương Phước Tấn, ngồi, với Jason Wang và phỏng vấn viên Phạm Diễm Hương. Hình 13: Dân biểu tiểu bang Texas Hubert Võ với Jason Wang và người phỏng vấn ông, Tina Võ. Hình 14: Nhà văn Dõan Quốc Sỹ, mặc đồ đen đứng giữa, và các tình nguyện viên. Hình 15: Một tham dự viên của chương trình 500 phỏng vấn lịch sử ký ngân phiếu đóng góp vào quỹ “Việt’s Story”. Hình 16: Chị Nguyễn Nga Dung đang kể chuyện về người chị và đứa cháu gái mất tích trên đường vuợt biển tìm tự do. Hình 17: Các tình nguyện viên chụp hình lưu niệm với các tham dự viên chương trình 500 phỏng vấn lịch sử, từ trái: chị Phạm Tuyết Mai, Võ sư Văn Bình, Trùng Dương, Nguyễn Bá Quyền, Tạ Quỳnh Hoan, ngồi, và Triều Giang. Hình 18: Triều Giang và Trùng Dương, phải, tham dự cuộc hội thoại trên đài Sàigon-Houston với cặp ký giả Dương Phục và Vũ Thanh Thủy về chương trình 500 phỏng vấn lịch sử và về báo chí. (Ảnh và collage của Trùng Dương)

 

Sidebar:

 

Vài hàng về sinh hoạt của
Hội Bảo tồn Văn Hoá và Lịch sử người Mỹ gốc Việt

 

Chương trình 500 Lịch Sử Truyền khẩu là bộ sưu tập thứ ba mà hội VAHF thực hiện kể từ khi thành lập vào năm 2004. Bộ sưu tập đầu tiên xoay quanh cuộc di tản vào mùa xuân năm 1975 do chính quyền đảo Guam, trường Đại học Guam và một số căn cứ quân sự Hoa Kỳ tại đảo Guam tặng hội VAHF vào năm 2006. Bộ sưu tập thứ hai, The Families of Vietnamese Political Prisoners Association Collection (http://www.vietnam.ttu.edu/vahp/fvppa.htm), hoàn tất vào giữa năm 2008, hiện được lưu giữ và bảo tồn tại Vietnam Center thuộc trường Đại học Texas Tech tại Lubbock, Texas.

 

Mọi liên lạc trao đổi, góp ý, xin gửi về Vietnamese American Heritage Foundation, P.O. Box 29534, Austin, TX. 78755, Telephone: (512) 844-9417, Telecopier: (512) 266-3819, E-mail: [email protected], Web site: vietnameseamerican.org.

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
06 Tháng Năm 201112:00 SA(Xem: 129723)
N hững lời chứng thuyền nhân, những hình ảnh kỷ niệm, những bài viết ngậm ngùi… ngày giỗ năm nay càng thêm lớn với 3 chương trình lễ tưởng niệm nơi tượng đài Chiến sĩ Việt Mỹ, đêm thắp nến, hội thảo, chiếu phim, và hàng loạt những chương trình truyền thanh truyền hình, băng đĩa kỷ niệm. “Ngày này năm ấy” được người Việt lưu vong nhắc đến tựa như dân Mỹ đóng lại vở kịch nội chiến 1876 hàng năm. Khác chăng, trang sử của chúng ta chưa thể khép lại. 
06 Tháng Năm 201112:00 SA(Xem: 132743)
K hi bố tôi rời bỏ gia đình đi tìm một cuộc sống mới, tôi còn quá nhỏ để hiểu điều gì vừa xảy ra. Tôi không nhớ được mẹ tôi có buồn nhiều không, có khóc nhiều không? Tôi chỉ nhớ mẹ tôi nói với tôi rằng bố tôi sẽ không bao giờ về nữa. Tôi không hiểu vì sao mẹ tôi nói thế. Tôi hỏi lại thì mẹ tôi trả lời : “ lớn lên con sẽ hiểu ”.
06 Tháng Năm 201112:00 SA(Xem: 140807)
T rong thế giới " không có vua ", cha con, anh em gầm gừ, chửi bới, cạnh khóe, cấu xé nhau, không tiếc lời nanh độc giành cho nhau; em "sòng phẳng" trả "tiền công" cắt tóc cho anh trai; cha chồng nhìn trộm con dâu tắm, em chồng ngang nhiên sàm sỡ, đòi ngủ với chị dâu; con giơ tay biểu quyết để cha chết...
06 Tháng Năm 201112:00 SA(Xem: 115901)
Đ ây là bài viết thứ hai, trong số 3 bài viết về tương lai Đồng Bằng Sông Cửu Long “Nhìn Xa Nửa Thế Kỷ Tới” . Bài thứ nhất, như một tổng quan, với nhận định: thủy điện vẫn là nguồn năng lượng rẻ nhất, do nhu cầu phát triển, những bước khai thác thủy điện trên sông Mekong, cho dù mau hay chậm, trước hoặc sau, thì đó vẫn là một tiến trình không thể đảo nghịch trong vòng nửa thế kỷ tới.( Ngô Thế Vinh )
05 Tháng Năm 201112:00 SA(Xem: 145677)
T ôi ký họa mặt người vào dòng sông buông Nơi có lau sậy hóa mình trôi theo tiềm thức Đột ngột giận mình
04 Tháng Năm 201112:00 SA(Xem: 112158)
C hủ nhật ngày 1 tháng 5, 2011[...]Tổng thống Barack Obama và Phó Tổng thống Joe Biden cùng các thành viên trong ban an ninh quốc gia theo giõi, qua "hệ thống truyền hình riêng" (secure communications systems) tại phòng hội (Situation Room) tại toà Bạch Ốc, cuộc đột kích của toán Navy SEAL Team Six, dưới sự điều động của cơ quan tình báo Hoa Kỳ Central Intelligence Agency (CIA), vào sào huyệt của Osama bin Laden tại Abbottabad, Pakistan, cách Washington, D.C. trên 7,000 miles.
30 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 121505)
T ôi cũng nhớ cả đến những đêm về sáng ở vũ trường Tự Do, ngồi nghe Lệ Thu hát hết bài Tôi Đưa Em Sang Sông , để rồi ngày mai lại phải xa thành phố về một nơi mịt mù của đất nước. Sau này, lần nào từ Mỹ về thăm lại Saigon, chúng tôi cũng đến Givral ngồi bên ly cà phê, trầm ngâm nhớ lại cả một thời và những người bạn ngày xưa. Bây giờ thì Givral không còn nữa rồi.
30 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 123372)
...T ại sao lại đặt cột mốc trước và sau 30-4-1975 cho lý lịch của mỗi con người? Ngày chấm dứt chiến tranh, ngày hòa bình, ngày thống nhất đất nước. Đó cũng là ngày phán xử. Kẻ thua người thắng. Ngày định phận. Kẻ có công người có tội. Và mỗi lần khai lý lịch là mỗi lần xác nhận cái sự thua thắng, công tội đó. Một lằn ranh không cho phép ai vượt qua. Một sự chia cắt vĩnh viễn giữa các con người, giữa các công dân...
29 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 144127)
C ha bỏ xác trên rừng mẹ ngồi đan áo mũi kim đâm vào đầu ngón tay nước mắt rơi xuống hai chữ anh hùng tôi tiếp tục cầm súng đi ngược chiều Trường Sơn
29 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 144480)
M ỗi chúng ta phải chỉ có một thứ thôi Yêu tổ quốc mình và yêu tự do là trên hết Hãy làm đi và xin đừng rên nữa Đớn đau quá nhiều và hèn kém đã ăn sâu.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3849)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13295)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19662)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18638)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1639)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1797)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2318)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2422)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1463)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2213)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1959)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 2002)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1374)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2420)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2629)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2382)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 248)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 820)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1010)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1124)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6417)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15899)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32156)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38864)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1487)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13904)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6910)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10709)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9893)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 10024)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10830)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3460)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11154)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10362)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi