- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Phỏng Vấn Nguyễn Xuân Tường Vy, Ngón Tay Mười Bốn.

09 Tháng Tám 200912:00 SA(Xem: 113872)

bw-tvyjun07ext_0_300x216_1

LTS: Sinh trưởng trong một gia đình Bắc di cư và trải qua tuổi thơ ở Tam Kỳ, Nguyễn Xuân Tường Vy vượt biên đến Phi Luật Tân năm 14 tuổi. Một cách chậm rãi, tác giả tìm đến Văn học miền Nam rồi cầm bút ghi lại giai đoạn thuyền nhân của gia đình mình. Bên cạnh là những truyện ngắn Biển hoa vàng... Tốt nghiệp cử nhân Sinh Hóa ở San José, Nguyễn Xuân Tường Vy thuộc lớp người viết mới, vừa xuất hiện, của Văn học Di dân Việt Nam.

Tạp Chí Hợp Lưu

 Hợp Lưu: Gần đây ký Puerto Princesa CityMắt thuyền của Nguyễn Xuân Tường Vy trên Hợp Lưu gây nhiều chú ý. Không duy nhất vì ký là thể loại hiếm, đặc biệt ở lớp người viết trẻ. Cũng không duy nhất vì đề tài thuyền nhân đã gần như biến mất trong Văn học Di dân. Mà vì Puerto Princesa CityMắt thuyền đã được viết bằng một giọng văn thật tự nhiên, giàu cảm xúc. Vì sao Tường Vy đi ngược với xu hướng bây giờ là cố quên đi quá khứ, thay vào đó, đào bới rồi trục xuất quá khứ lên trang giấy? Vì sao Mắt thuyền vẫn là đôi mắt thuyền nhân, hay đúng hơn Tường Vy vẫn mang đôi mắt thuyền nhân khi viết ký?

Nguyễn Xuân Tường Vy: Quá khứ không chết. Quá khứ vẫn tồn tại và luôn ám ảnh. Nhiều năm trôi qua, tôi tưởng mình đã quên. Nhưng không. Quá khứ vẫn ở đó, chờ cơ hội được khai quật. Quá khứ thuyền nhân giống một vết thương. Tôi đã phủ hoa lên đó và cố quên. Tôi đã lớn lên trên đất Mỹ như một đứa trẻ không có tuổi thơ, như cây non trốc rễ không nơi bám víu. Hai mươi sáu năm. Thời gian vừa đủ để tôi có thể mở vết thương cũ, suy tư và chiêm nghiệm. Giai đoạn vượt biên là một bi kịch trong lịch sử Việt Nam. Tôi muốn ghi lại kinh nghiệm và nỗi niềm của mình, trước và sau lớp người vượt biên duy nhất, sẽ không ai biết đến kinh nghiệm này. Viết về quá khứ đòi hỏi người viết phải liên tiếp lao vào vùng thời gian lảng vảng bóng ma. Đối với tôi, dù sợ hãi những bóng ma cũ, vẫn là cách duy nhất để tự chữa lành. Tôi không thể viết ký vượt biên mà quên con thuyền đã đưa mình ra khơi. Không thể quên ngón tay tôi năm 14 tuổi nắm chặt ván thuyền mong manh khi tách bến... Làm sao có thể mang đôi mắt nào khác ngoài đôi mắt thuyền nhân khi chính từ vị trí này tôi học làm di dân?

 

Hợp Lưu: Qua những trang viết, người đọc nhận ra quá khứ miền Nam in đậm trong ký ức Tường Vy. Đặc biệt ký ức này rất êm đềm dù chiến tranh và hạnh phúc dù bom đạn. Gần như một sự tiếc nuối pha lẫn cố gắng gìn giữ không muốn đánh mất. Làm sao vào tháng 4-1975, ở lứa tuổi thiếu nhi, Tường Vy đã có thể ý thức thân phận thua thiệt của gia đình mình? Và Tường Vy tìm đến Văn học miền Nam khi nào? Khung cảnh tiểu thuyết của những quyển sách đã bị thiêu hủy có quá trái nghịch khi tất cả đã thay đổi?

 

Nguyễn Xuân Tường Vy: Tháng 4-1975 tôi chỉ là con bé vài tuổi ngơ ngáo. Tôi nhìn đời sống qua khung cảnh gia đình và xã hội chung quanh. Chiến tranh kết thúc. Bao nhiêu tai ương phủ trùm lên đời sống chúng tôi. Chính những thay đổi xã hội đã khiến tôi sớm nhận thức được những mất mát xảy ra trong gia đình mình. Tôi ý thức thân phận của mình trong xã hội mới, thân phận hẩm hiu của hàng ngàn đứa trẻ miền Nam thời hậu chiến, cha vào trại cải tạo, mẹ bị lùa đi vùng kinh tế mới. Tôi lớn lên, vây hãm ngột ngạt bởi những biên giới vô tình. Thế hệ của chúng tôi là một thế hệ khác thường. Lớn lên bằng một chấm dứt phũ phàng. Khởi đầu bằng một tuyệt vọng.

Tôi thực sự biết nhiều đến văn học miền Nam ở nước Mỹ, bằng những cuốn tiểu thuyết mượn từ thư viện thành phố. Thời gian ấy sách báo Việt hiếm hoi. Tôi đọc ngấu nghiến nhiều thứ, sợ quên mất ngôn ngữ của mẹ ru từ lúc nằm nôi. Trong thư viện đầy kín sách, một xã hội miền Nam đã chết vụt sống lại. Tôi lần tìm tuổi thơ của mình và quá khứ của bố mẹ qua tiểu thuyết Tự lực Văn đoàn, khám phá tuổi trẻ của họ giữa lòng Sàigòn phồn thịnh. Trên những trang tiểu thuyết Mai Thảo, Nhã Ca, Dung Sàigòn, Từ Kế Tường, Duyên Anh, Nguyễn Thị Hoàng, Trùng Dương, Nguyễn Thị Thụy Vũ, tôi thấy đó mới chính là hình ảnh gia đình mình, trái nghịch với cuộc đời tôi vừa bỏ lại. Một thời gian dài, tôi không đọc gì hết ngoài những tác phẩm in trước 1975. Tôi đi tìm quá khứ tôi chưa được sống.

 

Hợp Lưu: Tường Vy đã về Việt Nam? 

 

Nguyễn Xuân Tường Vy: Tôi về thăm Việt Nam một lần năm 1996, đã lâu rồi. Tôi nghe nói xã hội Việt Nam thay đổi rất nhiều từ ngày đó. Tôi về với tâm trạng một người con đi xa trở về nhà. Nhưng không còn gì hết. Phi trường Tân Sơn Nhất căng thẳng bức bối. Công an đồng phục và cờ đỏ làm tôi lạ lẫm và... run. Khu phố xưa tôi ở giờ không còn ai quen. Tôi đi lại những con đường thơ ấu. Con đường ngày xưa tôi nhớ rộng lớn là thế giờ thì bé con con. Từ Sàigòn ra Hội An, Huế, Hà Nội, tôi thấy nơi đâu cũng nghèo, cũng thiếu thốn. Ở Hà Nội, chúng tôi gom những đứa trẻ lang thang bán vé số bên hồ Tây dẫn đi ăn, mua áo quần. Tuổi thơ của các em còn vất vả hơn tuổi thơ của tôi. Hai tuần ở Việt Nam tôi buồn và khổ sở. Vì sao tôi là khách lạ ngay chính trên mảnh đất đã sinh ra mình?

 

Hợp Lưu: Trong ký Puerto Princesa City, Tường Vy nhắc đến Thép đã tôi thế đấy. Còn nhiều tác phẩm khác như tiểu thuyết Xung đột của Nguyễn Khải, Khoảng trời phía sau nhà của Lê Minh Khuê, Ký sự hai bờ đất của Nguyễn Minh Châu, Con những người du kích của Phù Thăng, Một binh trạm trưởng của Hoàng Văn Bổn, hay Bài hát Ca-Chiu-Sa của Tô Đức Chiêu... thế hệ của Tường Vy hiếu kỳ ra sao với Văn học Thống nhất?

 

Nguyễn Xuân Tường Vy: Tôi không nhớ hết những cuốn sách tôi đã đọc trong thời gian đó. Không nhiều lắm vì lúc ấy gia đình tôi túng bấn. Bữa ăn còn lo chưa xong nói chi những thứ xa xỉ như sách báo, phim ảnh. Tôi nhớ Thép đã tôi thế đấy, Hòn đất, và các truyện du kích, giao liên như Sóc nhỏ giữa bầy quỷ dữ, đăng hàng loạt trên các tờ báo hàng ngày. Tôi đọc và tức giận khi nghe họ nói về bố tôi và đồng đội của ông như những tên lính ác ôn, giết người không gớm tay, chuyên hiếp đáp người yếu thế. Những gì tôi đọc trái ngược hoàn toàn với quan sát của tôi. Tôi đâm nghi ngờ sự trung thực và bản chất của Văn học Cách mạng. Tôi tìm đến Văn học miền Nam. Qua tác phẩm của họ, tôi hình dung được hình ảnh bố mẹ tôi, thực chất cuộc sống của họ, tuổi trẻ của họ giữa chiến tranh tàn khốc nhưng không giả dối, không ngụy tạo.

 

Hợp Lưu: Trong ký của Tường Vy, tính chất hoán vị, sự thay đổi vị trí từ những công chúa đất Việt trở thành các thiếu nữ bị giam cầm sau rào kẽm gai của trại tỵ nạn Palawan, đến đôi mắt ai oán của thuyền nhân khắc in lên ván thuyền làm bằng gỗ Tam Kỳ, làm nên bút pháp chủ yếu. Trong các truyện ngắn Đôi mắt hoa vàng rồi Biển hoa vàng, chính thủ pháp lập lại những hình ảnh chập chùng và các sắc màu cùng nhịp văn tạo nên phẩm chất truyện. Kỹ thuật này chuyển tải một truyện tình khá phóng đãng: Một mối tình tay ba, nửa đồng tính, nửa masochisme, vừa tra vấn cái chết của người thân, đầy trầm uất. Tường Vy sẽ trả lời ra sao nếu có người xem là truyện nặng về tính dục? Vì sao không thể thiếu thân xác và cần thiết masochisme?

 

Nguyễn Xuân Tường Vy: Tình dục không phải là đề tài viết của tôi. Tình dục trong các truyện ngắn của tôi, nếu có, là sự cần thiết để chuyên chở ý tưởng. Đôi mắt hoa vàngBiển hoa vàng là một truyện tình đồng tính tay ba. Truyện đặt trọng tâm thân xác. Tôi dùng nhiều bản năng... nhục cảm để triển khai sự thất lạc tâm hồn. Viết Đôi mắt hoa vàngBiển hoa vàng, tôi tự thử thách mình, muốn đẩy đến cùng với bút pháp không giữ gìn, không tránh né. Vì sao cần thiết masochisme? Tôi chưa từng nghĩ đó là masochisme. Tôi dùng yếu tố thân xác như phương tiện miêu tả và khám phá đời sống, diễn tả tâm trạng của nhân vật khi sống giữa tội lỗi và thao thức, giữa si mê cùng cực và ray rứt, giữa hoan lạc và phán đoán của lý trí. Thân xác là một cách tiếp cận xã hội. Vì để đến tâm hồn phải qua thân xác. Nội tâm phụ thuộc thân xác.

 

Hợp Lưu: Trong Biển hoa vàng, tuy là tiếp nối của Đôi mắt hoa vàng, phần sau của truyện đột ngột sinh động, kể từ đêm dạ vũ hóa trang, các sắc màu, âm thanh, trang phục, khói thuốc và cả ham muốn nhân vật trộn lẫn vào nhau trong phong cách khá Tây phương so với giọng văn bình thường chậm và nhiều tình tự Việt Nam của Tường Vy. Sự thay đổi này đến từ đâu?

 

Nguyễn Xuân Tường Vy: Tôi bắt đầu viết khoảng hai năm nay, chưa bao giờ được đào tạo chuyên môn. Những truyện đầu tay tôi viết hồn nhiên và say mê, khao khát được chia xẻ với bạn đọc cảm xúc, suy tư, trăn trở về cuộc sống. Tôi say sưa lao vào chữ nghĩa, thuần túy với ý tưởng và ngôn ngữ, không chú trọng đến cú pháp kỹ thuật. Tôi viết, đọc, học hỏi, và thử nghiệm. Viết Biển hoa vàng, tôi bị kéo phăng vào khung cảnh truyện với lối diễn đạt mới hoàn toàn không dự trước.  

 

Hợp Lưu: Khi viết truyện, người viết truyện đi tìm điều gì?

 

Nguyễn Xuân Tường Vy: Tôi viết, đầu tiên vì yêu thương và muốn gìn giữ ngôn ngữ của mình. Khi viết tôi tìm sự chia xẻ, đồng cảm từ bạn đọc, thoát ra đời sống thường nhật, sống với những giấc mơ trong một thế giới khác.

 

 

Hợp Lưu: Được biết Tường Vy rất say mê tiểu thuyết của Erich Maria Remarque, Yukio Mishima, Haruki Murakami và Léo Pérutz, Tường Vy có thể trình bày cảm nhận của mình về họ?

 

Nguyễn Xuân Tường Vy: Tôi đọc nhiều, tác giả cũ lẫn mới, bằng tiếng Anh và tiếng Việt. Tôi đọc tập truyện Đêm dưới chân cầu đá, By night under the stone bridge của Leo Pérutz. Văn Pérutz trang trọng, cổ xưa, và thần bí. Chín chương trong tiểu thuyết của ông mang người đọc đi từ thời đại này sang thời đại khác, từ cung điện này ra cánh rừng kia, từ bàn ăn của nhà bếp cung đình đến những mật chú thần linh. Không có đoản thiên nào liên quan với đoản thiên nào, từ những đồng tiền vàng Áo rơi lẻng kẻng đến nụ hôn của tiên nữ trên môi đức vua trong giấc mơ còn tỏa hương thơm khắp phòng... Vậy mà gộp lại vẫn liền lạc thành một tiểu thuyết. Đó là điểm đặc biệt của Pérutz mà khó có tác giả nào làm được. Tiểu thuyết của Haruki Murakami kỳ ảo, siêu thực, và ám ảnh. Tác giả dẫn người đọc đi từ kinh ngạc này đến kinh ngạc khác, khám phá những điều dị thường đôi lúc phi lý trong cuộc sống. Không gian tiểu thuyết của Murakami cũng biến hóa siêu thực không kém Pérutz, nhưng mang nặng dấu ấn hậu hiện đại. Tiếng SóngKim Các Tự của Yukio Mishima cũng là những tác phẩm tôi yêu thích. Khác với Tiếng Sóng là một câu chuyện tình yêu tuyệt đẹp, Kim Các Tự mang không khí nặng trĩu nội tâm, dễ khiến người đọc rơi vào một sự u mê thần trí, tẩu hỏa nhập ma. Kim Các Tự không phải là một tác phẩm dễ đọc. Nhưng trên hết, tôi say mê Erich Remarque hơn cả. Chiến hữu, Bản du ca của loài người không còn đất sống, Khải hoàn môn, Bia mộ đen... Văn Remarque giản dị, lôi cuốn, đối thoại sinh động. Tôi mê những mối tình trong sáng và chung thủy trong tiểu thuyết của ông. Tôi hình dung Paris qua những quán rượu đêm, bờ sông Seine ẩm ướt tối ám, không gian lạnh lẽo của ga xe lửa mùa đông. Những tác phẩm của ông viết cách đây gần 70 năm mà văn của ông thật hiện đại. Tôi không biết rõ những độc giả khác vì sao họ ưa thích Remarque. Với tôi, ông là người viết về tình bạn, tình yêu và sự cô đơn tuyệt vời nhất. Tiểu thuyết của ông bi thảm nhưng hấp dẫn người đọc một cách lạ lùng. Trong bối cảnh chiến tranh tàn khốc, đời sống vật vờ chán chường sau thế chiến, sức mạnh tình yêu và khả năng sinh tồn vẫn vượt lên trên hết trong văn chương Remarque. Các nhân vật của ông luôn bị đẩy đến đến nỗi cô đơn và bất hạnh tận cùng, nhưng tất cả vẫn tiếp tục tìm mọi cách để sinh tồn. Trong những giây phút tận cùng của đời sống, tình yêu đã giúp họ vượt qua mọi thử thách. Chỉ có Remarque mới có thể viết về tình yêu và cuộc sống đầy khát khao và mãnh liệt như thế. Đọc Remarque, tôi hình dung đến xã hội bây giờ, với tất cả những xảo trá, gian dối của con người. Những tác phẩm của Remarque không chỉ chú trọng về đề tài chiến tranh, ông viết nhiều về thân phận những người ly hương lưu lạc luôn ngóng về xứ sở mình. Tôi bắt gặp mình trên những trang giấy của ông. 

 

Hợp Lưu: Còn Shansa, Vệ Tuệ, Susan Minot, Carlson McCullers hay Virginia Woolf?

 

Nguyễn Xuân Tường Vy: Shansa và Vệ Tuệ là hai tác giả tôi đã đọc. Shansa có lối viết gẫy gọn, sắc sảo. Thiếu nữ đánh cờ vây giản dị nhưng đầy màu sắc và choáng ngợp hình ảnh. Tôi đọc Shansa với nhiều cảm xúc và bàng hoàng với kết thúc bi thảm của cô gái Trung Hoa và viên sĩ quan Nhật. Vệ Tuệ? Tôi nghe nói nhiều đến Vệ Tuệ như một nhà văn của giới trẻ Trung Quốc, khao khát đi tìm tình yêu trong thế giới vật chất. Tôi chưa đọc tác phẩm Shanghai Baby, nhưng tôi đã không đủ kiên nhẫn đọc hết cuốn Marrying Buddha của cô.

 

Hợp Lưu: Văn học Di dân giấy in đang hấp hối. Các tập san như Văn, Văn học, Gió Văn, Thế kỷ 21 lần lượt đóng cửa. Cũng không còn một nhà xuất bản nào: Văn Nghệ, Thanh Văn, Thời Văn, Tân Thư đều đã ngưng hoạt động. Còn lại Văn Mới mà điều kiện in ấn khó khăn, thường xuyên tác giả phải phụ tiền in... Duy nhất tập san Hợp Lưu cố gắng duy trì, với 2/3 người viết là các tác giả trong nước. Rất nhiều nhà văn di dân đã ngưng sáng tác, hay sáng tác ít đi, vì như họ nhận xét: viết một truyện ngắn công phu để chỉ xuất hiện 24 giờ trên internet, không đáng công. Trong hoàn cảnh khắc nghiệt như vậy, tham dự ở phút lâm chung kề cận của báo giấy, làm sao Tường Vy giữ được niềm tin vào văn chương?

 

Nguyễn Xuân Tường Vy: Tôi không bi quan. Tôi vẫn miệt mài sáng tác như đã từng trong hai năm vừa qua. Báo giấy in hay báo mạng chỉ là phương tiện giúp tôi đến với người đọc. Tuy nhiên, tôi vẫn thích tác phẩm của tôi được in trên giấy để được nhìn và cầm trên tay. Tôi chuộng... chủ nghĩa hiện thực. Tôi không rõ tình trạng hoạt động của các báo khác, riêng Hợp Lưu, theo tôi được biết, vẫn không giảm số báo mỗi đợt phát hành. Số lượng độc giả Hợp Lưu vẫn giữ ở mức độ cao. Đó là điều đáng mừng. Tôi tin rằng những tác phẩm văn chương đích thực sẽ sống và giữ được giá trị của nó ở bất kỳ hoàn cảnh nào. Điều quan trọng là tôi có giữ được niềm tin vào chính mình hay không.

TẠP CHÍ HỢP LƯU

 24 tháng 6-2009

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
06 Tháng Sáu 201112:00 SA(Xem: 121853)
T in Việt Nam - Lời kêu gọi tuần hành phản đối ôn hòa cho sự kiện Trung Cộng ngang ngược trên biển Đông, xua đuổi ngư dân Việt Nam đã diễn ra thành công đến mức khó tin. Lời kêu gọi xuống đường tập hợp nhiều thành phần, biểu thị thái độ phản đối ở Saigon và Hà Nội vào ngày hôm qua, một lần nữa người ta chứng sức mạnh của giới trẻ và lòng yêu nước đã không thể nào ngăn chận nổi dù bị hăm dọa và trấn áp như thế nào.
04 Tháng Sáu 201112:00 SA(Xem: 132572)
L ịch sử 4000 năm đã minh chứng, ta mạnh địch lùi, ta lùi địch sẽ lấn lướt. Vậy tại sao chúng ta không biểu tình ôn hòa phản đối hành động ngang ngược của Trung Quốc, tai sao không rầm rộ kêu gọi cộng đồng quốc tế chú ý, đem Biển Đông ra đàm phán trước Liên Hiệp Quốc. Và quan trọng nữa, phải cho Trung Quốc biết ý chí quyết tâm giữ mỗi thước đất, mỗi thước biển của 90 triệu dân Việt. Hãy để tuổi trẻ Việt Nam nói lên tiếng nói tự trọng của một dân tộc, cho dù yếu sức cũng không đớn hèn.
02 Tháng Sáu 201112:00 SA(Xem: 115499)
"... B iểu hiện rực rỡ nhất của hoài niệm, là hoài niệm quê nhà, mà thực chất, cũng nằm trong chuỗi đơn cảm giác có tính cá nhân. Nên dễ nhận ra, chuỗi cảm giác đầu tiên là hướng về mô tả cảnh trí, phong vị tập quán, với một vóc dáng thi pháp ca dao đậm đà cảm hứng cội nguồn, đôi khi mang máng giọng điệu Tự Lực văn đoàn, đẹp, lãng mạn mà bùi ngùi.."
02 Tháng Sáu 201112:00 SA(Xem: 122356)
S áng nay Du về và tôi sẽ đi đón cô. Gã thầy thuốc có cái đầu trơn tuột chắc đã chán chê Du nên tôi vừa mở miệng là gật liền, gật mạnh và nhanh đến nỗi chút xíu nữa cái đầu kỳ dị của gã văng khỏi vai. [...] Du sẽ không còn lang thang dưới rặng dương liễu hay trên mái ngói lơ thơ những nhánh bồ đường vào những đêm khô nóng. Tôi sẽ không để cho ánh trăng tìm thấy cô.
02 Tháng Sáu 201112:00 SA(Xem: 115639)
Trong mọi cuộc chiến tranh, chiến tranh nào cũng vậy, không có kẻ thắng. Nhưng bao giờ cũng có một kẻ bại, một kẻ bại duy nhất - là nhân dân. [...] Đừng lừa dối nhân dân bằng những lời nói suông. Nhân dân rất sáng suốt. Người ta biết ai là người trung thực và kẻ nào là tên bịp bợm. Hãy nhớ lời Nguyễn Trãi “Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân”.
26 Tháng Năm 201112:00 SA(Xem: 137144)
S inh viên Việt Nam tốt nghiệp ở các trường giỏi trong nước khi ra nước ngoài tiếp tục học ở các trường cấp trên thường đạt thành công không mấy khó khăn. Thế nhưng, khi nhìn vào chương trình giáo dục của Việt Nam hiện nay và theo dõi báo động của các nhà giáo dục trong nước, khó thể phủ nhận một thực tế là giáo dục tại Việt nam đang có vấn đề, ở mức độ khủng hoảng. Khủng hoảng hiện diện trong rất nhiều lãnh vực khác nhau của giáo dục.
24 Tháng Năm 201112:00 SA(Xem: 145599)
B ằng giọt nước rơi thầm khoảng nắng Bằng tiếng dương cầm Nhẹ sâu tháng năm Bằng ánh mắt tan vào mộng tưởng Xuyên qua em Cơ hồ mênh mông
15 Tháng Năm 201112:00 SA(Xem: 117089)
T rường thơ Loạn manh nha từ nhóm thơ Bình Định với những tên tuổi như Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Yến Lan, Chế Lan Viên. Đến năm 1936, nhận thấy tính khuynh hướng nổi trội trong sáng tác của từng người, Hàn Mặc Tử đã chủ trương thành lập trường thơ Loạn cùng với Yến Lan, Bích Khê và Chế Lan Viên. Từ đó mà trường thơ Loạn thực hiện cuộc hành trình đi từ âm vang Đường thi đến thung lũng đau thương , tràn bờ sang cả những bóng ma Hời trên tháp Chàm u uẩn, rồi chọn cho mình điểm dừng ở cuộc duy tân của Bích Khê.
15 Tháng Năm 201112:00 SA(Xem: 125205)
C ơn mưa từ chiều đến giữa đêm vẫn chưa chấm dứt. Những cuộc hành hình liên tiếp bằng cách quấn rơm chung quanh kẻ bạo loạn rồi đốt giống như thui chó mấy ngày trước thịt vẫn còn khét. Sư bần thần đi lại trong thư phòng. Bất chợt một tiếng sét lớn sáng lòa đánh ngang cây gạo trước cổng chùa. Sư nghe thấy tiếng cây đổ vang dội trong tâm khảm. Điềm báo đến. Một cơn ớn lạnh chạy dọc sống lưng, sư ngồi xuống, xếp bằng hai chân. Tịnh.
15 Tháng Năm 201112:00 SA(Xem: 106805)
... c ái bản sắc nói chung cho người Việt hải ngọai khắp nơi trong cộng đồng thế giới với biết bao dị biệt. Họ sẽ được giáo dục, có văn hóa, và có tiếng nói khác nhau. Quê hương đáng lẽ phải là những điểm chuẩn chung để mọi người còn có một cái gì để noi theo. Đó là niềm kiêu hãnh, là tình tự dân tộc, là đạo đức chính trị, là đạo đức kinh doanh, nếu chỉ thấy cái thua kém, thù hận, và ô nhiễm mọi mặt. thì có lẽ đã muộn rồi. Như đàn cá hồi khi ra biển rộng, lúc tìm đường về, nhưng cái tổ cũ đã bị phá bỏ, các kinh rạch cũ đã bị rác rưởi lấp kín, thì chắc là lại ra đi, về vùng vẫy tự do ở vùng biển rộng trời cao...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9846)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16691)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15691)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16123)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1256)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3190)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3025)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2959)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 1104)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5168)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 7153)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6465)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 585)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 451)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1222)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2530)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2355)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2190)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2363)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2388)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 975)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13476)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29570)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35670)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10655)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12614)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2036)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 3025)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3191)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3350)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 4040)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7718)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7064)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9779)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.