- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Đêm Ngửa Mặt

19 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 100274)

apocalypto-7_0-content

Julio Cortázar
Đêm Ngửa Mặt
Trầm Hương chuyển ngữ

Thật khó tưởng tượng cảnh đầu của Đêm Ngửa Mặt lại là cảnh cuối. Giờ đã đến, nhưng không, hắn vẫn còn nhiều thời gian. Và hắn, hắn tên gì không còn quan trọng. Hắn chỉ chú tâm đến chặng đường thong dong không rượt đuổi, trong sự chớm nở của ngày mà không phải đoạn cuối của đêm. Nhưng ai lại đoán ra sự việc sẽ chấm dứt như vậy? Trong đau khổ, hắn chỉ biết lập lại những lời kinh thường đọc. Trong tuyệt vọng, hắn chỉ ước mơ một ánh mắt trông chừng. Hắn làm được gì khi mỗi người sinh ra được gắn cho một con số và một mục đích. Và đêm nay, số của hắn bị rút trúng để phục vụ mục đích này.
 Trầm Hương


Hằng năm, chúng tràn ra vào những thời điểm nhất định để truy tầm kẻ thù.
Chúng gọi việc săn người là Chiến tranh rộ hoa.

Đứng giữa hành lang dài của khách sạn, hắn nghĩ đã muộn nên gấp rút bước ra ngoài lấy xe dựng sát góc tường mà viên quản lý phòng bên cho phép. Trên hiệu kim hoàn ở cuối đường, hắn trông thấy chín giờ kém mười, hắn còn nhiều thời gian. Ánh nắng chiếu xuyên qua giữa những tòa nhà cao tầng của khu trung tâm và hắn ― vì đối với cá nhân hắn, trong suy nghĩ, hắn vô danh ― nhảy lên xe máy trong khoan khoái của chuyến đi. Động cơ xe máy kêu vo vo giữa hai chân hắn và gió mát quất phần phật lên ống quần.

Hắn lướt qua các công sở của các Bộ (màu hồng, màu trắng) và một loạt các cửa hàng với mặt kính sáng ngời trên lộ chính. Bây giờ hắn mới bắt đầu quãng đường đáng hưởng thụ nhất của chuyến đi, một hành trình thực sự: con đường dài bọc hai hàng cây xanh, rất ít xe cộ, với các biệt thự rộng rãi có vườn cây mọc lan xuống vỉa hè, ngăn sơ sài bằng hàng rào thấp. Có lẽ hơi lơ đễnh tuy vẫn ôm xe ven lề phải, hắn đắm mình vào sự tươi mát, vào sự nhẹ hẫng thưa thớt của một ngày mới. Có thể sự buông thả vô tình này khiến hắn không phòng ngừa được tai nạn. Khi hắn nhìn thấy người phụ nữ đứng sát lề hối hả qua đường dù đèn xanh, phản ứng gì cũng không kịp nữa. Hắn thắng gấp xe bằng cả chân và tay, lạng mạnh sang bên trái; hắn nghe tiếng thét to của người đàn bà, và ngay khi sự va chạm xảy ra, tất cả đen thẫm. Giống như hắn rơi tức khắc vào giấc ngủ.

Hắn tỉnh lại đột ngột. Bốn năm người thanh niên đang kéo hắn ra từ dưới lườn xe. Hắn nếm được vị mặn và máu, một đầu gối bị đau, và khi bị nhấc bổng, hắn phát rên, không chịu nổi sự đụng chạm trên cánh tay mặt. Những tiếng nói như không thuộc về những khuôn mặt treo ở trên hắn đang bông đùa vỗ về và bảo hắn yên tâm. Niềm an ủi độc nhất là hắn nghe thấy có người nói hắn vượt ngã tư đúng luật. Hắn hỏi thăm về người đàn bà, ráng dằn xuống cơn buồn nôn đang dâng lên cổ. Trong lúc họ khiêng hắn ngửa mặt đến một hiệu thuốc tây lân cận, hắn được biết tai nạn chỉ gây ra vài vết trầy trên chân nạn nhân. «Không, anh chỉ quẹt trúng bà ấy, nhưng lúc anh đụng phải, sự va chạm khiến chiếc xe chồm lên và lật sang một bên...» Nhiều ý kiến, nhiều lời kể, có người nói khiêng hắn từ từ ngược đầu vào, và mọi việc tốt lành. Một người mặc áo choàng trắng cho hắn nuốt một thứ gì làm dịu cơn đau trong bóng tối của hiệu thuốc tây nhỏ của khu phố.

Chỉ trong vòng năm phút xe cứu thương đến, và họ nhấc hắn lên chiếc cáng êm. Hắn thấy nhẹ nhõm được nằm thẳng. Hoàn toàn tỉnh táo, nhưng ý thức đang bị chấn thương khủng khiếp, hắn đưa căn cước của mình cho nhân viên cứu thương ngồi cùng xe. Cánh tay không đau gì nữa; máu chảy giọt từ chỗ rách trên lông mày lan khắp mặt. Hắn liếm môi một đôi lần để uống máu. Hắn thấy khá, chỉ là một tai nạn, không gì trầm kha; nằm yên vài tuần, không tệ hơn. Nhân viên cấp cứu nói chiếc xe máy nhìn không hư nhiều. «Đương nhiên,» hắn trả lời. «Nguyên chiếc xe máy rơi trên mình tôi.» Cả hai bật cười, và khi đến nhà thương, nhân viên cấp cứu bắt tay hắn và chúc may mắn. Rồi cơn buồn nôn từ từ trở lại; trong lúc họ đẩy hắn trên cáng hướng về dẫy nhà phía sau, đi dưới những tàng cây đầy chim chóc, hắn nhắm mắt lại và ước gì mình đang ngủ hoặc được gây mê. Nhưng họ giữ hắn một lúc khá lâu trong căn phòng có mùi nhà thương, điền đơn, cắt bỏ quần áo của hắn, và mặc cho hắn một chiếc áo khoác xám cứng. Họ thận trọng di chuyển cánh tay hắn, không làm hắn đau. Những người y tá không ngừng nói chuyện phiếm, và nếu không vì bao tử bị co bóp, hắn sẽ cảm thấy khoẻ khoắn, gần như sung sướng.

Họ đem hắn vào phòng quang tuyến, và hai mươi phút sau, với tấm phim còn ẩm nằm trên ngực hắn như một bia mộ đen, họ đẩy hắn vào phòng giải phẫu. Một người cao ốm mặc áo trắng toát đến cạnh hắn và bắt đầu khảo sát phim quang tuyến. Hai tay của một người đàn bà sắp xếp đầu hắn, hắn cảm thấy bị dời sang một cáng khác. Người đàn ông áo trắng trở lại bên hắn, mỉm cười, cầm một vật gì ánh lên sáng ngời trong lòng bàn tay mặt. Ông ta vỗ nhẹ má hắn và ra dấu cho một người đứng đằng sau.

Giấc mơ khác thường vì đầy những mùi và hắn chưa từng mơ thấy mùi. Trước hết là mùi bùn toát lên từ bên trái đường mòn chỗ phát xuất khu vực đầm lầy, những vũng cát lầy phủ lá dương nơi chưa một ai trở ra. Nhưng mùi nồng nặc tan đi và thay vào đó là hương thơm tươi mát một cách bí ẩn, giống đêm mà hắn lẫn trốn sự truy lùng của bọn Aztec. Và trốn chạy là chuyện rất tự nhiên, hắn phải chạy trốn khỏi bọn Aztec đi săn người, và cơ hội sống sót duy nhất là tìm ra một chỗ ẩn nấp sâu trong rừng rậm, cẩn thận không để lạc khỏi con đường hẹp mà chỉ bộ tộc Moteca của hắn biết.

Điều dằn vặt hắn nhất là mùi hôi, giống như, ngay với sự chấp nhận tuyệt đối đang là giấc mơ, vẫn có cái gì trong mình hắn chống lại sự xâm nhập bất thường này. «Chính là mùi chiến tranh,» hắn nghĩ, bàn tay theo bản năng lần xuống con dao đá dắt chéo trong chiếc thắt lưng đan bằng mây. Một tiếng động bất ngờ khiến hắn vội vàng gập người bất động và run rẩy. Sợ hãi không có gì lạ, có biết bao nỗi sợ trong những giấc mơ của hắn. Hắn chờ đợi, che phủ bởi những cành lá của bụi cây và trời đêm không một vì sao. Nơi xa, có lẽ bên kia bờ hồ lớn, chúng đang nhóm lửa trại; khoảng trời phía đó rực đỏ. Tiếng động không lập lại. Giống một thân cây đổ. Có lẽ một con thú, như hắn, đang chạy trốn mùi chiến tranh. Hắn chậm chạp đứng thẳng dậy, hít không khí vào phổi. Không nghe tiếng động nào, nhưng sự sợ hãi vẫn bám như mùi hôi, cái mùi nhang ngọt đáng sợ của chiến tranh rộ hoa. Hắn cần phải ráng đi tới, phải tránh những vũng sình lún, và phải vào đến giữa lòng rừng rậm. Dọ dẫm, khom xuống mấy lần để chạm đất cứng của đường mòn, hắn bước vài bước. Hắn ước có thể đâm đầu chạy, nhưng những vũng lầy dao động hai bên. Trên lối đi tăm tối, hắn xác định vị trí của mình. Rồi một luồng ô uế mà hắn khiếp sợ nhất ập vào mũi, và hắn phóng liều mạng về phía truớc.
«Coi chừng rơi khỏi giường», bệnh nhân bên cạnh kêu lên. «Đừng lăn lộn, anh bạn.»

Hắn mở mắt ra và trời đã xế chiều, mặt trời xuống thấp trong khung cửa sổ quá khổ của khu nhà bệnh dài. Trong lúc cố gắng mỉm cười với gã ở giường bên cạnh, hắn rút mình ra khỏi cảnh cuối cùng của cơn ác mộng. Cánh tay hắn, trong khuôn thạch cao, treo lủng lẳng bằng một thiết bị với trọng lượng và ròng rọc. Hắn cảm thấy khát, khô ran như đã chạy nhiều dặm đường, nhưng họ không cho hắn uống nhiều nước, chỉ vừa đủ thấm môi và một ngụm. Cơn sốt từ từ lên cao và hắn đã có thể ngủ lại, nhưng hắn đang hưởng thụ trạng thái tỉnh táo, mắt khép hờ, hắn lắng nghe đối thoại của những bệnh nhân khác, thỉnh thoảng trả lời một câu hỏi. Hắn trông thấy một chiếc xe lăn đến cạnh giường, một nữ y tá tóc vàng bôi cồn lên đùi trước của hắn và đâm vào một mũi kim lớn nối liền với ống dẫn lên một bình đầy chất lỏng đục như sữa. Một bác sĩ thực tập trẻ đem máy bằng kim loại và da buộc quanh cánh tay lành lặn của hắn để kiểm tra gì đó. Đêm xuống, và cơn sốt tiếp tục kéo lê hắn rơi nhẹ nhàng vào một trạng thái mà bên trong mọi vật như nhú lên qua ống nhòm xem kịch, chúng hiện thực và mềm mại, cùng lúc có chút ghê tởm; giống mình ngồi xem một phim tẻ nhạt và nghĩ lang thang ngoài phố còn tệ hơn, nên ở lại.

Một bát súp ngon lành vàng óng đem đến, thơm mùi tỏi tây, cần tây và rau mùi. Một khúc bánh mì nhỏ, quý hơn cả một bữa tiệc, được bẻ ra từng miếng vụn. Cánh tay hắn hầu như hết đau, và chỉ còn chỗ lông mày khâu nhiều mũi thỉnh thoảng nhói rát. Khi các cửa sổ lớn trong tầm mắt chuyển thành những mảng loang của màu xanh đêm, hắn nghĩ sẽ không khó ngủ. Vẫn nằm ngửa nên có chút không thoải mái, hắn liếm đôi môi khô nóng còn sót chút vị súp, và sau tiếng thở dài mãn nguyện, hắn buông trôi.

Trước hết là sự hỗn loạn, giống mình trút vào chính mình tất cả những cảm giác của một khoảnh khắc đần độn hoặc rối rắm. Hắn nhận ra mình đang chạy trong bóng đen dày đặc, mặc dù, bên trên, bầu trời đan chéo với những ngọn cây ít tối ám hơn không gian còn lại. «Con đường mòn», hắn nghĩ, «mình đã lạc khỏi con đường mòn.» Bàn chân hắn lún xuống một lớp lá cây và bùn, và hắn không thể nhích thêm một bước mà không bị các nhánh cây quất vào hai bên sườn và ống chân. Khó thở, ý thức bị bao vây dù chung quanh ngập bóng tối và tĩnh lặng, hắn gập người xuống nghe ngóng. Có thể con đường mòn nằm rất gần, với ánh ban mai đầu tiên hắn sẽ lại trông thấy. Còn bây giờ, không gì giúp nổi hắn. Bàn tay mà trong vô thức đã nắm chặt lấy chuôi dao leo như con bọ cạp lên đến cổ hắn chỗ đeo chiếc bùa hộ mạng. Hầu như không nhấc môi, hắn thì thào lời cầu xin Thần Bắp cho mùa trăng tốt lành, và lời khẩn cầu Nữ Thần, người ban phát của cải cho bộ tộc Moteca. Cùng lúc hắn cảm thấy mắt cá chân lún sâu hơn xuống bùn, và sự chờ đợi trong bóng tối của bụi cây đầy bẫy rập trở nên quá sức chịu đựng. Chiến tranh rộ hoa bắt đầu lúc trăng non và đã diễn ra ba ngày và ba đêm rồi. Nếu hắn xoay sở được để trốn trong rừng sâu, ra khỏi đường mòn khi qua hết vùng đầm lầy, có thể lũ săn người Aztec sẽ mất dấu hắn. Hắn nghĩ đến đông đúc số người đã bị bắt giữ. Nhưng con số không quan trọng, kỳ cúng tế mới quan trọng. Các cuộc săn đuổi tiếp tục cho đến khi các thầy tế lễ ra lệnh quay về. Mỗi thứ đều mang một con số và mục đích, và bản thân hắn đang ở trong thời đại thần linh, đối mặt với lũ săn người.

Hắn nghe những tiếng kêu la và chồm lên, dao trong tay. Giống như bầu trời đang cháy rực ở chân trời, những ngọn đuốc di chuyển giữa những cành cây, rất gần hắn. Mùi ô uế của chiến tranh thật khó cưỡng, và khi kẻ thù đầu tiên đột kích hắn, chồm vào cổ hắn, hắn có một cảm giác gần như sung sướng khi đâm lút cán lưỡi dao đá mài phẳng vào trong lồng ngực của kẻ thù. Những đốm sáng bao quanh hắn, những tiếng la rú mừng rỡ. Hắn xoay sở chém được một, hai nhát dao trong không khí, rồi một sợi dây thừng quấn chặt lấy hắn từ phía sau. «Tại cơn sốt,» gã ở giường bên cạnh nói. «Tôi đã từng bị vậy trong lúc họ giải phẫu tá tràng. Uống chút nước, anh sẽ ngủ yên.»

So sánh với đêm hãi hùng mà hắn vừa trở ra, bóng đêm ấm áp của khu nhà bệnh mang vẻ ngọt ngào. Ánh đèn tím trên đầu tường đằng xa trông chừng như mắt của người giám hộ. Có tiếng ho, tiếng thở sâu, thỉnh thoảng một đối thoại trong thì thầm. Mọi thứ dễ chịu và an toàn, không đuổi bắt, không... Nhưng hắn không muốn tiếp tục nghĩ về cơn ác mộng. Có nhiều thứ cho hắn tiêu khiển. Hắn bắt đầu nhìn khuôn thạch cao trên cánh tay, và những ròng rọc đang treo cánh tay vô cùng thoải mái trong không khí. Y tá để lại một chai nước khoáng trên chiếc bàn nhỏ bên cạnh. Hắn kề chai lên miệng và uống nước, với trân trọng. Giờ hắn nhận ra những hình dạng khác nhau trong khu, ba mươi giường, tủ kính. Hắn đoán cơn sốt đã hạ, mặt hắn mát ra. Chỗ rách trên lông mày không còn đau mấy, như một ký ức. Hắn thấy mình rời khách sạn một lần nữa, lấy xe gắn máy. Ai lại đoán được sự việc sẽ chấm dứt như vậy? Hắn cố tập trung vào khoảnh khắc xảy ra tai nạn, và tức giận vì nhận ra như có một lỗ hổng trí nhớ, một sự trống rỗng mà hắn không tài nào lắp đầy. Giữa sự va chạm và khoảnh khắc họ khiêng hắn khỏi mặt đường, cơn ngất hoặc việc gì đã xảy ra, hắn không tài nào ráp nối. Và cùng lúc hắn có cảm giác rằng khoảng trống ký ức này, sự trống rỗng này, đã kéo dài vĩnh cửu. Không, không hoàn toàn là sự cố thời gian, mà giống như, trong khoảng trống này, hắn đã vượt qua một cái gì đó, hoặc đã chạy ngược lại qua những khoảng cách thật bao la. Cú sốc, sự va chạm tàn bạo vào mặt đường. Dù sao, hắn cảm giác nhẹ nhõm hẳn, được thoát khỏi lỗ sâu đen tối trong lúc mọi người nhấc hắn lên khỏi mặt đường. Với cơn đau ở cánh tay bị gẫy, máu từ chỗ lông mày bị rách, vết dập trên đầu gối; với tất cả những thương tích này, sự nhẹ nhõm là được trở về ánh sáng, về lại ngày, và cảm giác được nâng đỡ và chăm sóc. Cảm giác kỳ quái. Có dịp, hắn sẽ hỏi bác sĩ về cảm giác này. Giờ, giấc ngủ bắt đầu ngấm lại khiến hắn thiếp dần đi. Nệm gối mềm mại, và nước khoáng mát rượi trong cổ họng nóng sốt. Ánh sáng tím của chiếc đèn trên cao trở nên mờ dần và mờ dần.

Vì hắn nằm thẳng lưng lúc ngủ, vị trí khi tỉnh lại không làm hắn ngạc nhiên, nhưng trái lại mùi ẩm ướt, cái mùi đá rêu rỉ nước, chặn ở cổ họng và buộc hắn hiểu. Mở mắt và nhìn mọi hướng nhưng không thấy gì, hắn bị vây hãm trong bóng tối tuyệt đối. Hắn thử ngồi dậy, liền cảm giác giây thừng ghịt cổ tay và cổ chân. Hắn bị đóng cọc trên những phiến đá nhớp nháp và giá lạnh. Cái lạnh làm tê buốt tấm lưng trần của hắn và hai chân. Một cách vô tri, hắn thử đụng chiếc bùa hộ mạng bằng cằm và ý thức nó đã bị tước mất. Giờ đây hắn thấy tuyệt vọng, không lời cầu xin nào có thể cứu hắn khỏi kết cuộc... Từ ngoài xa, như thể lọc qua bức tường của hầm đá, hắn nghe vọng tiếng trống đồng thiêng liêng của lễ cúng tế. Họ đã khiêng hắn đến kim tự tháp, hắn đang ở trong hầm ngầm của đền thờ, chờ đến lượt mình.

Hắn nghe một tiếng thét, một tiếng thét khản đục dội lại từ các bức tường. Thêm một tiếng thét nữa, chấm dứt bằng rên rỉ. Chính hắn đã gào trong tăm tối, hắn đã gào vì hắn còn sống, toàn thân hắn với tiếng gào ấy xua đẩy một việc sắp xảy ra, một kết thúc không thể tránh khỏi. Hắn nghĩ đến những đồng tộc đang lấp đầy những ngục khác, và những người đang bước lên những bậc thang của lễ tế thần. Hắn muốn gào thêm nhưng không ra lời, hắn không thể mở miệng, hai quai hàm dính chặt như cao su, mở ra chậm chạp trong nỗ lực bất tận. Tiếng ọp ẹp của các chốt gỗ làm hắn điếng người như một lằn roi. Rách nát, quằn quại, hắn vật vã để thoát khỏi sợi dây lún vào da thịt mình. Cánh tay phải của hắn, cánh tay mạnh nhất, gắng gượng cho đến khi sự đau đớn trở nên quá mức chịu đựng và hắn phải bỏ cuộc. Hắn nhìn hai cánh cửa mở ra, và mùi của những ngọn đuốc bay đến mũi hắn trước khi ánh lửa đến. Chỉ quấn khố theo nghi thức, lũ hầu di chuyển về phía hắn, nhìn hắn với vẻ khinh miệt. Những đốm sáng phản chiếu lên các thân hình đẫm mồ hôi và trên đầu tóc đen cắm lông chim. Sợi dây thừng trói được nới lỏng và thay bằng móc sắt của những bàn tay nóng, cứng như đồng. Hắn cảm thấy mình bị nâng lên, vẫn ngửa mặt, và bị xốc đi bởi bốn gã khiêng hắn qua hành lang. Những kẻ cầm đuốc đi trước, soi sáng lờ mờ hành lang với những bức tường ẩm ướt và trần hầm thấp đến nỗi chúng phải khom đầu xuống. Chúng khiêng hắn ra lúc này, khiêng hắn ra, đã đến đoạn kết. Đối diện hắn cách một thước là trần đá bám xương rồng óng ánh một chuỗi phản chiếu từ ngọn đuốc leo lét. Khi những vì sao hiện ra thay vào chỗ trần và những bậc thang vĩ đại dâng lên trước mặt hắn với lửa cháy cuồng loạn trong tiếng kêu hò và những điệu múa, sẽ là điểm cuối. Hành lang thăm thẳm bất tận, nhưng đã sắp hết, không khí trong lành của bầu trời thêng thang rộ sao sắp ập vào mặt hắn, nhưng chưa, họ còn đẩy hắn đi không ngừng trong bóng tối đỏ, di chuyển hắn một cách mạnh bạo và hắn không muốn vậy, nhưng làm sao ngăn được khi họ đã giật mất chiếc bùa, trái tim thật của hắn, trọng tâm thật sự của sinh mạng hắn.

Trong một cơn giật mình hắn tỉnh lại trong bệnh viện đêm, về dưới trần cao, dịu dàng, trần trụi, về lại bóng tối mềm bao bọc xung quanh. Hắn nghĩ mình đã la hét, nhưng những người nằm gần đang ngáy một cách thản nhiên. Chai nước bên trên chiếc bàn nhỏ nổi bong bóng, trong mờ qua màu đêm xanh đậm chiếu từ các cửa sổ. Hắn thở hổn hển, tìm kiếm sự giải thoát lồng phổi của mình, tìm cách trục xuất những hình ảnh vẫn còn dán trên mi mắt. Mỗi khi nhắm mắt, hắn lại nhìn thấy chúng hiện hình lập tức và hắn ngồi dậy hãi hùng nhưng cùng lúc thưởng thức sự sung sướng đang thức giấc, y tá trực đêm sẽ đến nếu hắn nhận chuông, chẳng bao lâu sẽ là rạng đông, hắn sẽ ngủ ngon vào giấc này, không hình ảnh, không gì hết... Thật là khó mở mắt, cơn buồn ngủ mạnh hơn hắn. Hắn làm một cố gắng sau cùng, phác một cử chỉ về phía chai nước với cánh tay lành lặn mà không sao với đến, những ngón tay nắm lại một lần nữa trong tăm tối hư không, và hành lang tiếp tục dài vô tận, đá nối đá, với những ánh lửa đỏ nhấp nhoáng, và hắn ngửa mặt nấc lên một tiếng nghẹn ngào vô nghĩa vì trần sắp hết, dâng lên, mở ra giống như miệng tử thần, và lũ hầu đứng thẳng lên, và từ trên cao, một mặt trăng khuyết rơi xuống khuôn mặt hắn với đôi mắt không muốn nhìn thấy trăng, chúng khép lại và mở ra một cách tuyệt vọng nhìn sang bên kia, tìm lại trần nhà trần trụi và an toàn của khu nhà bệnh. Nhưng mỗi lần hắn mở mắt, lại là đêm và trăng trên từng bậc thang, đầu hắn giờ treo ngược xuống về phía sau, và trên đỉnh thang là những giàn hỏa, những luồng khói thơm đỏ, và bất chợt hắn nhìn thấy tảng đá đỏ, máu đỏ tươi đang nhỏ giọt, và những vòng cung xoay tròn cắt không khí bằng đôi chân của nạn nhân đã bị kéo lê và ném lăn xuống những bậc thang cao. Bằng hy vọng cuối cùng hắn nhắm thật chặt mắt, cố gắng kêu mình thức giấc. Trong một giây hắn tưởng đã tỉnh ngủ, vì hắn lại nằm bất động trên giường, ngoại trừ đầu hắn treo khỏi giường, đong đưa. Nhưng hắn ngửi mùi chết, và khi mở mắt hắn thấy hình ảnh đầy máu của thầy tế bước đến gần hắn với lưỡi dao đá trong tay. Hắn xoay sở để nhắm mắt thêm một lần, dù biết rằng hắn sẽ không thức dậy nữa, rằng hắn đang tỉnh, rằng giấc mơ kỳ diệu mới chính là giấc mơ kia, vô lý như mọi giấc mơ ― giấc mơ hắn đi xuyên qua những đại lộ lạ lùng trong một thành phố kỳ lạ, với những ánh sáng xanh và đỏ cháy không cần lửa hoặc khói, trên một thứ côn trùng khổng lồ bằng kim loại kêu vo vo giữa chân. Và cũng chính trong giấc mơ ấy, trong sự dối trá vô hạn, chúng cũng đã nâng hắn khỏi mặt đất, một kẻ cũng đã đến gần hắn với con dao mổ trong tay, đến gần trong lúc hắn đang nằm ngửa mặt, ngửa mặt với đôi mắt nhắm lại giữa các giàn hỏa.
Julio Cortázar, 1956
Trầm Hương chuyển ngữ, 7-9-2010

Dịch từ bản Anh văn The Night Face-Up của Paul Blackburn trong tập Blow-Up and Other Stories, Nxb Pantheon, New York 1967 và bản Pháp văn La Nuit Face au Ciel của Laure Guille-Bataillon trong tập Fin d’ un Jeu, Nxb Gallimard, 2005.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 200912:00 SA(Xem: 132262)
có một thời đạn bom bay qua tình trai trẻ có những hẹn hò hình như đã phôi pha có một xấp phong bì nào vàng úa trong tay ta và có lẻ tình yêu là một điều rất thật
29 Tháng Tám 200912:00 SA(Xem: 95508)
Mọi Rợ văn hóa [cultural barbarism]. Thoạt nghe có vẻ lạ tai, nhưng suy nghĩ kỹ, mới thấy thấm thía. Đọc cổ thư Trung Hoa, thường thấy những người tự xưng là “người Hoa hạ” rất tự hào về tập tục đội mũ, mặc áo, dinh thự nguy nga, ăn uống tiếp khách ngồi bàn, ngồi ghế, có chữ viết, sách vở.
22 Tháng Tám 200912:00 SA(Xem: 140075)
Buổi sáng Hilton café nguội em đã ủ nó trong đôi tay em đã gắng giữ nó khỏi nguội bằng những giọt nước mắt nóng...
16 Tháng Tám 200912:00 SA(Xem: 145129)
Nhà văn Nhật Tiến, trong phần phát biểu cảm tưởng tại đám giỗ anh ở phòng sinh hoạt Người Việt, đã kể lại một chuyện cảm động, đó là niềm xúc động đẫm nước mắt khi cầm tờ báo Người Việt trên tay ở trong trại tị nạn vào năm 1979 sau khi ông và những thuyền nhân đồng hành còn sống sót, trong đó có cả cặp ký giả tên tuổi Dương Phục và Vũ Thanh Thủy, sau một thời gian bị hải tặc bắt, giam cầm và hành hạ trên đảo Ko Kra trong Vịnh Thái Lan suốt cả tháng trời.
16 Tháng Tám 200912:00 SA(Xem: 143256)
Chàng hôn tôi. Bỗng tôi cảm thấy đau nhói lên ở phía sau lưng vì chiếc móc soutien bị cấn vào vách ván. Tôi dướn người về phía trước làm như đáp trả lại nụ hôn vội vàng của Vị nhưng thật ra là để tránh cho phiến lưng bị chàng ép mãi vào vách. ...Chúng tôi vẫn im lặng hôn nhau. Tôi nhắm khít mắt khi Vị yêu tôi. Nắng rực rỡ đổ xuống, vách ván nóng cùng với hơi thở hâm hấp nóng của Vị không ngớt phả vào cổ vào mặt. Tôi cắn chặt răng để ngăn một tiếng khóc tội nghiệp. Quả thật chưa bao giờ tôi có thể tưởng tượng chúng tôi lại có lúc trở nên khốn đốn như lúc này.
15 Tháng Tám 200912:00 SA(Xem: 137799)
Tôi chạy tìm tôi, ngày đã cạn Thắp đèn phủ dụ đám phù du Năm tháng lại trôi , chân lại bước Tôi còn nương tựa bóng thiên thu
15 Tháng Tám 200912:00 SA(Xem: 116267)
Saburo Sakai đã trở thành một huyền thoại “sống” ở Nhật Bản trong suốt thời đệ nhị thế chiến. Khắp nơi, các phi công Nhật Bản đã nói đến những chiến công không thể tưởng tượng được của Sakai với tất cả sự nể phục.
09 Tháng Tám 200912:00 SA(Xem: 116905)
LTS:Sinh trưởng trong một gia đình Bắc di cư và trải qua tuổi thơ ở Tam Kỳ, Nguyễn Xuân Tường Vy vượt biên đến Phi Luật Tân năm 14 tuổi. Tốt nghiệp cử nhân Sinh Hóa ở San José, Nguyễn Xuân Tường Vy thuộc lớp người viết mới, vừa xuất hiện, của Văn học Di dân Việt Nam. Tạp Chí Hợp Lưu
17 Tháng Bảy 200912:00 SA(Xem: 188474)
Tìm hiểu về rùa Hoàn Kiếm chúng ta hãy đi ngược trở lại những trang sử Việt Nam , chính sử cũng như huyền sử, và những bài viết thực tế đương thời đã được lưu trữ trong các mạng lưới. Khi đọc những dữ liệu trên, nhiều người sẽ có một cảm tưởng những dữ kiện về rùa không được thống nhất cả về huyền sử lẫn thực tế, và có những vấn đề cần được thảo luận.
05 Tháng Bảy 200912:00 SA(Xem: 140835)
Ba tháng trời, thằng nhỏ đã bớt lầm lì hơn nhưng Sa ngày càng ghét nó. Nó có đôi mắt sâu bí hiểm. Đôi mắt đựng những mảng trời xanh tan tác. Đôi mắt hay nhìn ra biển chiều.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 3806)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 13242)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 19626)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18608)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười 20266:14 CH(Xem: 1572)
Bữa nay tôi khóc tôi la / Vì tôi chẳng thể làm ma vô tình / Tuệ Sỹ viết: “Trời có Tình / Thì Trời cũng đã trở thành già nua” / Tưởng như lời nói bông đùa / Mà trong sự thể mái chùa vỡ tung / Nhìn nhau trong cuộc trùng phùng / Mỗi người một ái ngại ngùng cho nhau
18 Tháng Mười 20266:04 CH(Xem: 1730)
Bữa nay Bùi Giáng chết rồi Hôm qua Giáng vẫn nằm ngồi chiêm bao Bữa nay là bữa hôm nào Hôm nào cũng như hôm nào vậy thôi Hôm nào cũng có mây trôi Không trôi chân đất thì trôi chân trời Lập đi lập lại ba hồi Những vần Thơ cũ lôi thôi vô cùng
09 Tháng Mười 20266:39 CH(Xem: 2241)
Rồi mai nữa, giữa muôn trùng năm tháng Nếu vô tình nghe một khúc mưa rơi Ta chợt hiểu có những điều rất cũ Bay qua hồn đọng lại một vần thơ
09 Tháng Mười 20266:09 CH(Xem: 2373)
Ta ngắm đời… như cuộc viễn du… Thân như mây… nổi giữa sương mù… Dấu xưa cát phủ dần năm tháng Bóng cũ hồn vương đáy vĩnh thu Gửi mộng theo trăng qua bể vắng Mang sầu rơi, mắt lạc sông u
(Xem: 1422)
Vào một buổi chiều của năm 1966 bạn ấy chở tôi trên chiếc xe gắn máy Puch đến một con ngõ đường Lý Thái Tổ để tìm Helga, nơi mà nhà xuất bản An Tiêm của Thanh Tuệ đặt trụ sở, vì ở đấy giới văn nghệ sĩ hay tụ tập thân mật với nhau. Quả nhiên tôi đã gặp một số các nhà văn nhà thơ nghệ sĩ tên tuổi của văn học nghệ thuật bấy giờ của VNCH, những người mà tôi biết tên hơn là biết mặt. Lúc bấy giờ tôi còn là một học sinh lớp đệ nhị, văn học nghệ thuật vốn là chuyên tâm của tôi, vì tôi đọc sách khá nhiều và cũng đã viết chút văn xuôi cũng như thơ, như đã kể ở những chương khác. Ở đấy tôi đã gặp Bùi Giáng.
(Xem: 2189)
Ngày xưa, ngày là học sinh, mình ngoan lắm, chả biết bia rượu, thuốc lá là gì nhưng từ ngày đi lính về, thế quái nào lại sinh ra đổ đốn. Nhìn thấy chai rượu là mắt cứ sáng lên, lòng cứ nao nao, lạ lắm, cứ như là bị đói khát lâu ngày mong được một trận uống no nê, thỏa thích. Và nhất định bữa rượu ấy phải cho ai đó trong bàn nhậu liêng phiêng, cà tang cà tửng mới thích. Nhưng thật oái oăm, thật khốn là hầu như tới 80% cuối các trận nhậu mình toàn nhìn gà hóa cuốc, nhìn một mà ngỡ là năm, sáu, bảy... Tiễn mọi người ra về, bắt chân bắt tay, chào hỏi vẫn có chiều tinh tỉnh lắm nhưng lê được vào giường là nằm lăn ra ngủ quên trời quên đất. Sáng hôm sau tỉnh giấc chẳng nhớ khuya qua mình đã tiễn mọi người ra về thế nào? Có điều gì sơ suất không? Và bụng lại bảo dạ từ lần sau ngồi uống phải cầm chừng, uống in ít thôi, uống kiểu giao lưu thôi nhưng mấy chục năm rồi cứ dặn lòng mà chẳng lần nào mình làm được.
(Xem: 1909)
Trong khi chìm đắm trong các thư tịch xưa - nay để tìm hiểu về ba cuộc kháng chiến vĩ đại chống xâm lược Nguyên Mông, tôi tình cờ dừng lại khá lâu trước đôi dòng ngắn gọn trong cuốn sách An Nam chí lược của tác giả Lê Tắc - người đã đầu hàng giặc Thát và sống lưu vong, tuy viết trên tinh thần của sử gia nô lệ (nội phụ) song cũng có hạt nhân sự thực lịch sử
(Xem: 1950)
Với những gì chúng ta được biết về công nghiệp và đức độ của Đinh Tiên Hoàng đế, về tình cảnh hiểm nguy của triều đại nhà Đinh vào lúc nhà Tống đang nhòm ngó nước Nam chờ cơ hội xua quân sang xâm chiếm, có thể hình dung được Di nguyện thiêng liêng nhất của Tiên đế chắc sẽ được ghi rõ trong Chúc thư trước khi ngài bị hành thích không lâu:
18 Tháng Mười 20264:43 CH(Xem: 1329)
Nghiêm đến nhà Đào khi trời đã về chiều, nhưng anh không vào nhà mà đi ra vườn sau coi mấy luống rau cải anh mới trồng tuần trước. Con chó vẫy đuôi kêu ăng ẳng bám theo anh. Nghe tiếng chó, Đào chạy ra: - Trời đất, anh đến lúc nào mà lặng lẽ vậy. Em trông anh từ chiều. - Tôi cũng mới đến – Nghiêm vừa nói vừa chỉ luống rau: Cải lên thế này là tốt rồi. Cô nên trồng thêm ít hành, tỏi. Nghiêm theo Đào bước vào nhà, đến trước bàn thờ Lương, chồng Đào, đốt 3 cây nhang, vái ba vái, cắm vào bát nhang, lẩm bẩm khấn mà như nói với mình: Mới đó mà đã gần 2 năm. Anh chết đã yên phận, còn người sống…, rồi quay lại đi đến ghế:
09 Tháng Mười 20265:49 CH(Xem: 2370)
– Giới thiệu với chú, đây là bạn gái của cháu. Cô đã cùng với thám tử tư giúp tìm ra người cha hải tặc của cháu như trong bài viết “Đứa Con Lai… Hải Tặc” của chú. Còn đây là ông chú mà anh vẫn thường nói với em. – Chào chú! Chú ngạc nhiên lắm phải không? Con đã được nghe rất nhiều về chú. Con muốn gặp chú từ lâu nên đã nhờ bạn thu xếp giúp. Con từ Thái Lan qua, đang theo học tại Michigan State University. Con chọn trường này vì biết bạn cũng ở thành phố Detroit, Michigan.
02 Tháng Mười 202612:54 SA(Xem: 2548)
Buổi trưa, vừa nhai xong một nhúm cơm và uống một nắp nước do tàu cấp phát thì mọi người dưới hầm nghe nhiều tiếng chạy thình thịch náo động trên boong tàu. Qua kẽ hở, biết tàu đã bị hải tặc xâm chiếm không biết từ lúc nào. Họ hoàn toàn làm chủ tình hình. Trong vòng một tiếng đồng hồ không gặp kháng cự, những tên hải tặc đã đủ thì giờ lục lọi tìm kiếm vàng bạc và giở trò khả ố với những đàn bà con gái nằm la liệt trên sàn tàu mà trước đó đã được ưu tiên dời lên vì kiệt sức.
23 Tháng Chín 202610:53 CH(Xem: 2329)
Sau ngày vợ mất, căn nhà của ông Trần Đình Tuấn bỗng vắng lặng một cách kỳ lạ. Bởi bà Bạch Nhàn, người vợ sống cùng ông gần 40 năm,đã mất vì bạo bệnh. Chiếc ghế bà Bạch Nhàn vẫn ngồi mỗi tối còn đó. Cái khăn lau kính bà thường vắt trên thành ghế vẫn đó. Cả chiếc ly nhỏ bà hay uống nước cũng vẫn nằm nguyên trên chiếc bàn cạnh cửa sổ. Nhìn đâu ông cũng mường tượng thấy bóng hình bà. Mọi thứ trong căn nhà còn nguyên màu kỷ niệm.
27 Tháng Mười 2026(Xem: 217)
Một câu nói đã trở thành chuẩn mực đạo đức của ngành y, nhắc nhở người thầy thuốc phải xem nỗi đau của người bệnh như nỗi đau của chính mình, lấy việc cứu người làm bổn phận, không lấy sự sống của con người làm phương tiện cho lợi ích riêng. Thế nhưng, khi dự thảo Luật Hiến, lấy, ghép mô, bộ phận cơ thể người và hiến, lấy xác (sửa đổi) được đưa ra Quốc hội Việt Nam xem xét, những tranh luận quanh đề xuất liên quan đến người dưới 18 tuổi đã khiến dư luận đặt ra nhiều câu hỏi.
21 Tháng Mười 2026(Xem: 765)
Có những câu hỏi, thoạt nghe tưởng như chuyện đùa, nhưng càng nghĩ càng thấy buồn. Có những lời hứa, khi mới nghe, khiến người ta tin tưởng vào một tương lai huy hoàng. Nhưng sau nhiều năm, điều còn lại đôi khi không phải là chiếc bánh để ăn, mà chỉ là bức tranh vẽ chiếc bánh. Và có những nhân vật, ban đầu được tôn vinh vì công lao của họ, nhưng dần dần trở thành những hình tượng gần như bất khả xâm phạm. Người ta được khuyến khích ca ngợi, nhưng lại ngần ngại khi muốn đặt câu hỏi. Phải chăng điều đáng lo ngại nhất đối với một dân tộc không chỉ là nghèo đói, chiến tranh hay sự áp bức, mà còn là ngày con người không còn đủ tự do để tự hỏi mình đang sống trong một thực tại như thế nào?
19 Tháng Mười 2026(Xem: 971)
Trong lịch sử, phong trào Chấn hưng Phật giáo Việt Nam thường được dùng để chỉ cuộc vận động vào nửa đầu thế kỷ XX, khởi lên từ những năm 1920 và phát triển mạnh trong các thập niên 1930-1940. Các bậc cao tăng như Khánh Hòa, Huệ Quang, Giác Tiên, Thanh Hanh, Trí Hải cùng nhiều cư sĩ trí thức đã góp sức mở trường đào tạo tăng tài, thành lập hội Phật học, dịch kinh, xuất bản báo chí và đưa Phật giáo đến gần hơn với đời sống xã hội. Công cuộc ấy không dừng lại ở một giai đoạn lịch sử. Tinh thần chấn hưng, hiểu theo nghĩa rộng, là sự trở về với những giá trị căn bản của đạo Phật, đồng thời tìm ra phương thức thích hợp để truyền đạt và thực hành giáo pháp trong những hoàn cảnh mới. Một trường hợp tiêu biểu trong thời hiện đại là công cuộc khôi phục và phát triển Thiền phái Trúc Lâm của Đại lão Hòa thượng Thích Thanh Từ.
19 Tháng Mười 2026(Xem: 1054)
Với “TA LÀ - Những khúc mắc siêu hình học” (I AM: Metaphysical Aporias), Giáo sư Nguyễn Hữu Liêm không tìm cách trả lời giản đơn câu hỏi “Ta là ai?”, mà dựng lên một hành trình bản thể luận: con người từ đâu đến, vì sao phải trở thành một cá thể, tự-ý thức được hình thành như thế nào và liệu sau tất cả những phân ly, con người có thể “trở về” với căn nguyên hữu thể của mình hay không.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 6382)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 15860)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 32118)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 38837)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 1423)
Có những cuốn sách khiến người ta đọc để hiểu thế giới. Có những cuốn sách buộc người ta quay về nhìn lại chính mình. Và cũng có những cuốn sách, dù tác giả không nhất thiết chủ ý, lại khiến người đọc đặt câu hỏi về cái thế giới đang tìm mọi cách định nghĩa con người thay cho chính họ. TA LÀ: Những khúc mắc siêu hình học của Nguyễn Hữu Liêm có thể được tiếp cận theo hướng thứ ba ấy. Thoạt nhìn, đây là một hành trình triết học quanh những khái niệm như bản thể, ý thức, cái Tôi và vô ngã. Nhưng nếu đọc chậm hơn, bên dưới những tầng ngôn ngữ siêu hình ấy, ta có thể nhận ra một vấn đề gần gũi hơn nhiều: con người phải làm gì để trở thành một cá nhân có ý thức độc lập, thay vì chỉ là một đơn vị trong đám đông? Và câu hỏi ấy, trong một số xã hội, chưa bao giờ hoàn toàn vô hại.
(Xem: 13874)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 6877)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 10641)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 9832)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 9954)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 10757)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 3424)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 11099)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 10334)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi