- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 9809 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,189,014

Những Con Chim Nhỏ

17 Tháng Bảy 201012:00 SA(Xem: 6834)

simon_0_197x300_1Simon Van Booy: những con chim nhỏ

Lưu Diệu Vân & Hoàng Chính : chuyển ngữ

 

Tôi vừa tròn mười lăm tuổi khi thức giấc sáng nay. Mỗi năm qua như một lần khoác thêm lớp áo mới lên trên những lớp cũ. Để đôi khi tôi thọc tay vào những chiếc túi ấu thơ và moi ra những món đồ.

Từ cửa tiệm trở về Michel nói để ăn mừng chúng tôi có thể đi coi phim hay ăn ở McDonald’s trên đại lộ Voltaire. Michel không phải là cha ruột của tôi. Ông lớn lên ở Paris và đã có một thời gian ở tù. Trước đây ông quen sống một mình, nhưng sau khi đã sống chung với nhau một thời gian lâu, tôi nghĩ ông ấy không thể sống thiếu tôi nữa.

Chúng tôi ở Paris, tôi nghĩ tôi sinh ra ở đó, nhưng tôi cũng không chắc. Mọi người nghĩ tôi là người Hoa, tôi cũng có nét giống người Hoa, nhưng Michel bảo tôi còn nhiều chất Tây hơn cả bánh mì Tây nữa.

Đó là chiều ngày sinh nhật của tôi nhưng vẫn là buổi sáng của đời tôi. Tôi dạo bước trên Ponts des Arts. Đó là một cây cầu gỗ nhỏ nơi đám du khách người Mỹ ngồi trên những chiếc ghế mây đầy mầu sắc, nhâm nhi rượu. Cho dù mới chỉ mười lăm tuổi, chưa có bạn gái, tôi vẫn có thể nhận ra ai đang yêu ai khi nhìn họ.

Một người đàn bà ngồi xe lăn đang được chồng đẩy ngang chiếc cầu. Họ đang yêu nhau. Chỉ có hai bánh sau lăn trên những thanh gỗ. Người chồng kéo nghiêng chiếc xe lăn về phía mình như thể thân thể anh ta đang uống từ thân thể người vợ. Tôi ước gì ông ấy có thể nhìn thấy mặt vợ mình. Bà ta níu lấy một một nhúm khăn giấy. Trông họ giống người Đông Âu. Tôi đoán thế bởi họ ăn mặc tươm tất nhưng kiểu quần áo đã lỗi thời. Tôi muốn nghĩ rằng đây là lần đầu tiên họ đến Paris. Tôi có thể tưởng tượng ông ta sau đó, cố gắng đỡ bà vợ ra khỏi xe lăn trong căn phòng xám của khách sạn với những chiếc màn nhăn nhúm đang bị gió thổi căng phồng. Tôi có thể hình dung thấy người đàn bà trong vòng tay chồng. Ông ta sẽ thận trọng đặt vợ lên giường như đặt lên một dòng sông chảy chậm.

Một người đàn ông vô gia cư dơ dáy đang ngồi xổm với những du khách Mỹ, kể chuyện cười bằng thứ tiếng Anh què cụt. Anh ta không nhìn những cặp chân cạo sạch của các cô gái mà chỉ ngắm chai rượu uống dở dang cùng miếng phó mát chua. Đám người Mỹ có vẻ vui tính và giả bộ cười đùa; tôi nghĩ bí quyết của một cuộc sống tươi đẹp là hãy châm chước sự thật một chút và hy vọng rằng bất cứ phút giây nào đó, chúng ta cũng đều có thể được tái sinh.

Cầu Ponts des Arts làm bằng gỗ, nếu nhìn qua khe hở những tấm ván, bạn sẽ thấy thuyền bè lướt qua phía dưới. Thỉnh thoảng những tia chớp nhá lên từ dưới tầu lúc du khách chụp hình cho nhau, đôi khi họ không nhắm máy vào cảnh nào mà chỉ bấm một cách vu vơ - Tôi thích loại hình ảnh này nhất, chẳng phải vì tôi có máy chụp hình - nhưng nếu có, tôi sẽ chụp đại những tấm hình không nhắm vào đâu. Bạn đâu có thể ghi nhận cuộc đời đầy sức sống qua cách nào khác hơn thế.

Michel làm việc trong một cửa tiệm ở trung tâm Pigalle. Bên ngoài tiệm là một mũi tên chớp nháy với chữ SEXY bằng đèn nê ông mầu đỏ. Michel đã có cửa tiệm này từ khi tôi có trí nhớ. Ông cấm tôi lại tìm ông ấy ở đó, dẫu vài lần từ góc đường, tôi thấy ông ngồi ở bàn làm việc. Michel thích đọc thơ của Giorgio Caproni, một nhà thơ đã qua đời, nhưng Michel bảo ngôn ngữ của nhà thơ như những con chim nhỏ quấn quýt và hót líu lo bên tai mình.

Nếu bạn thấy Michel, bạn có thể nhận ra ngay lúc ông băng qua đường vì ông có một cái sẹo từ khóe miệng dài lên má. Ông kể ông bị cái thẹo ấy khi vật lộn với cá sấu ở Mississippi, nhưng bây giờ đã mười lăm tuổi, mỗi khi nghe kể tôi chỉ cười cho qua.

Michel có người bạn tên Léon, người này đôi khi ngủ đêm lại với chúng tôi vì uống rượu nhiều quá, nên vợ ông ta không cho vào nhà - dù ông ta luôn tìm cách giải thích rằng vì vợ ông ta có những giấc chiêm bao quá đẹp nên ông ta không muốn lạng quạng đánh thức vợ dậy lúc nửa khuya. Một đêm kia, khi Michel ở trong nhà tắm, Léon kể cho tôi nghe vì sao Michel bị sẹo trên mặt.

"Trước khi mày về sống với Michel," Léon thì thào, "Có một cuộc ẩu đả dữ dội trước cửa tiệm của Michel. Đương nhiên là anh ta chạy ra để giải hòa." Ông ngừng lại để lôi một chai rượu vang nhỏ ra khỏi túi áo ngực. Mỗi người chúng tôi nhắp một ngụm, rồi Léon kéo tai tôi sát lại cái miệng đầy hơi rượu của ông ta. "Anh ấy tìm cách cứu một cô gái điếm đang bị đánh, nhưng cảnh sát lại trễ quá và mấy thằng ngốc cảnh sát ấy lại bắt giữ Michel, bỏ mặc cô gái bị ngộp chết một mình." Rồi chúng tôi nghe tiếng chân của Michel ngoài hành lang và những tiếng thì thào vĩnh viễn biến đi trong cái hoang loạn của gã say rượu.

Michel dám siết cổ Léon nếu ông ấy biết gã say đã kể cho tôi nghe nhiều như thế, bởi ông cứ hành động như thể tôi không hay biết bất cứ chuyện gì, cho tới khi tôi bước chân vào Sorbonne, trường đại học lâu đời nhất Paris, tôi sẽ bỏ cuộc sống này lại phía sau và chỉ thăm ông vào dịp lễ Giáng Sinh với quà cáp mua ở những tiệm sang trọng ở đại lộ Montaigne và Champs Élysées. "Khỏi cần gói," Michel có lần đã trầm trồ. "Mấy cô gái bán hàng sẵn sàng gói cho mình ngay trong tiệm."

Tôi thích rảo bước quanh nhà thờ Đức Bà, tọa lạc ngay trên hòn đảo riêng của mình. Tôi thích ngắm du khách trầm trồ ngưỡng mộ nét đẹp cong cuốn của khung cửa đá. Nó gợi cho tôi nhớ đến chiếc bánh cưới đẹp đến nỗi ta không nỡ ăn - dù bầy bồ câu đói khát thường xuyên biết rõ sự thật, bởi hàng trăm con đậu trên những cạnh viền trắng dơ dáy thả phân xuống bên dưới, mổ chiếc mỏ dẻo dai vào mặt đá cẩm thạch.

Đôi khi du khách vào nhà thờ cầu nguyện. Khi tôi còn rất nhỏ, Michel thường quỳ ở cạnh giường tôi nghĩ rằng tôi đang say ngủ. Tôi có thể nghe ông cầu nguyện với Chúa cho tôi. Ông gọi tôi là hạt Đậu Phụng bé nhỏ, thế nên tôi không chắc Chúa có hiểu ý Michel muốn nói về ai, nhưng nếu thật sự có Chúa thì ngài chắc thấu hiểu mọi sự là tên tôi không phải là Đậu Phụng.

Sau khi hút thuốc trên bậc đá nhà thờ Đức Bà và đá lông nheo với cô gái Ý đang ngồi làm kiểu cho bạn trai chụp hình, tôi vào vườn bách thảo. Michel và tôi thường tới đây vào Chủ Nhật từ dạo tôi bắt đầu có trí nhớ. Có lần tôi ngủ quên trên cỏ và Michel nhét đầy hoa vào túi áo tôi. Hôm nay tôi mười lăm tuổi và tôi ngồi kiểm điểm lại đời mình. Cho dù tôi muốn vào đại học để mai sau có thể mua cho Michel một chiếc xe mui trần mầu đỏ, khi tôi nhớ lại những ngày Chủ Nhật trong vườn Bách Thảo, tôi muốn làm cho mọi người những điều họ không thể nào quên. Có thể đó là điều tốt đẹp nhất tôi có thể làm trong đời mình. Trời âm u nhưng những đóa hoa thì nở rộ.

Loài hoa có thể chất chứa sắc mầu ấy trong những phiến cánh mảnh mai một cách kỳ diệu.

***

Cửa tiệm của Michel bán băng và đĩa hình của những người đàn bà gần như trần truồng làm tình hầm bà lằng với đủ loại đàn ông. Michel bảo tình dục nhiều khi khác hẳn tình yêu, và ông ấy không bao giờ mang thứ gì về nhà; ông bảo những gì xảy ra ở Pigalle, sẽ giữ lại Pigalle. Đôi lúc, khi tôi đứng bên đường nhìn sang phía Michel, những cô gái điếm đi qua buông lời gạ gẫm. Tôi bảo họ tôi có người bạn làm trong ngành công nghiệp ấy, họ cười và mời tôi hút thuốc. Tôi đặc biệt là bạn của một cô gái điếm tên Sandrine và cô ta nói cô ta đủ già để làm bà tôi. Cô ta mặc một cái váy nhựa bóng loáng và áo rất hở ở phía trên. Tôi không thể đứng nói chuyện với cô ở cửa vào vì sẽ không tốt cho công việc. Làn da chân cô giống da thuộc, nhưng cô là một người vô cùng thực tế. Cô biết Michel và kể tôi nghe là Michel có lần phải lòng một cô gái điếm, nhưng chuyện chẳng đi đến đâu. Năm mười hai tuổi, tôi tìm cách hỏi tên của cô gái, nhưng Sandrine ôm lấy đầu tôi trong hai bàn tay thì thầm rằng cô ta chết rồi và câu chuyện kết thúc ở đó.

Tôi muốn biết thêm về cô gái ấy bởi vì Michel chưa bao giờ có bạn gái, chắc hẳn cô ta phải đặc biệt lắm. Đôi khi Sandrine mua cho tôi một cuốn sách và gửi tạm một cô gái nào đó trong lúc làm việc. Cuốn sách mới nhất mà cô mua cho tôi tựa đề Người Đàn Ông Gieo Hy Vọng và Trồng Hạnh Phúc.

Vào buổi chiều u ám ngày sinh nhật thứ mười lăm của tôi, tôi thấy Michel ngồi ở quầy đọc sách. Nếu biết tôi có mặt ở đây, ông sẽ giận lắm và bộc lộ sự giận dữ bằng cách không thèm nói chuyện với tôi cả ngày. Và ông sẽ không muốn bước chân ra ngoài nữa dù là ngày sinh nhật.Tôi nhìn từ phía trong một đám đông đầy những bóng người. Michel đang đọc sách. Trong cuốn thơ của Caproni, ông viết đầy những câu thơ nhỏ bé của mình bên lề trang giấy. Có lần, trong một giây phút ngu ngốc, tôi mở một cuốn sách của ông ta đọc; ông giật vội khỏi tay tôi làm cuốn sách rách toạc. Cả hai chúng tôi cùng hết sức nổi giận.

Michel bảo thơ của ông không dành cho tôi - rằng chúng như bầy chim được tạo ra để bầu bạn với những con chim khác. Khi tôi hỏi vậy chứ thơ của ông dành cho ai, một giọt nước mắt lẻ loi trào ra chảy xuôi theo vết sẹo.

Còn bốn tiếng nữa là đến giờ tan sở của Michel. Ông muốn về nhà sẽ thấy tôi đang ngồi coi TV và đã sẵn sàng để ra ngoài. Ông ấy bảo tối nay tôi có thể đi bất cứ nơi nào tôi muốn, nhưng tình hình tài chánh cũng hơi hạn hẹp. Tôi nghĩ ông mua cho tôi một đôi giầy mới vì tôi thấy một hộp đựng giầy Nike mới dưới gầm giường lúc tôi hút bụi. Tôi không mở ra xem. Tôi thích không được biết trước.

Tôi biết Michel đã dành dụm cho buổi tối hôm nay từ hai tháng trước. Trong ngăn tủ dưới chậu rửa bát có một chai rượu đựng đầy tiền. Khi hàng xóm nghe tiếng chai rượu vỡ trong căn hộ của Michel, người ta sẽ biết đang có sinh nhật ai đó. Láng giềng của Michel thích ông dù họ cần một thời gian để làm quen với vết sẹo trên mặt và ý tưởng là ông đã có thời gian ở tù.

Chúng tôi ở khu phố 11. Các quận phố cuộn quanh Paris như một vỏ ốc. Sandrine chưa có mặt ở cửa tiệm hoặc cũng có thể cô đã có khách rồi cũng nên. Michel vừa tiếp khách hàng vừa đảo điếu thuốc trên môi. Điếu thuốc do ông tự cuốn lấy và ngửa đầu thở khói.

Trên đường về nhà, tôi luôn đi qua trung tâm Pompidou. Nếu mới trông thấy lần đầu, bạn sẽ tưởng nơi ấy đang xây cất dở dang, nhưng đó là cách người ta cấu trúc, và bạn có thể nhìn thấy phía bên trong qua những bức tường kính khổng lồ. Tôi thích nhìn đám du khách luồn lách qua trung tâm ấy như những con kiến trong tổ. Phía ngoài là một cái chậu mầu vàng lớn như chiếc xe chở bánh mì. Chưa có ai trồng thứ gì trong đó, thành ra nó chỉ dùng làm cảnh.

Michel bảo tôi rằng hôm nay là sinh nhật thứ mười lăm của tôi, nhưng ông cũng không chắc lắm. Không ai biết chắc. Câu chuyện về sự gặp gỡ của chúng tôi cũng đầy sự thích thú.

Michel bảo lúc chưa có tôi, ông ấy hư hỏng lắm, nhưng rồi tôi đã giúp thay đổi tất cả. Ông kể vào cái hôm ra tù, đang đi trên xe điện ngầm, lúc đó tôi khoảng ba tuổi - hoặc chỉ là do ông ta đoán vậy. Ông bảo mọi chuyện xảy ra trong tích tắc. Cửa xe điện đóng lại, và tôi đứng đó, nhìn ông. Ông kể bố mẹ tôi đứng trên thềm ga, đập rầm rầm trên cửa kính và la hét. Ông kể có lẽ tự mình tôi bước vào toa xe và cửa toa đóng lại trước khi bố mẹ tôi kịp níu lấy tôi. Tôi thường hỏi ông bố mẹ tôi ra sao, và ông luôn lộ vẻ buồn. Ông nói bố mẹ tôi là những người thanh lịch nhất mà ông từng có dịp trông thấy. Ông bảo mẹ tôi là một nàng công chúa Á Châu mặc một áo lông sang trọng nhất với son môi đỏ tới mức tưởng chừng đôi môi bà bốc cháy.

Michel bảo mái tóc đen của bà viền quanh khuôn mặt, như thể chúng bị đe dọa bởi nhan sắc của bà và không dám lại gần. Ông bảo cha tôi là một người Mỹ cao lớn với một bộ y phục đắt tiền nhất đã từng được đo may. Michel bảo cha tôi có dáng vẻ của một người quyền thế, nhưng lại quá đẹp trai khiến vẻ quyền thế kia bị mờ nhạt. Ông bảo bố mẹ tôi khóc lóc và đập cửa kiếng xe điện như hai đứa trẻ; ông bảo ông chưa bao giờ thấy ai đau khổ như thế.

Michel nói tôi khóc khi xe điện ngầm bắt đầu di chuyển và ông ở lại trên xe điện cho đến trạm cuối cùng để xem chuyện gì xảy đến cho tôi. Ông nói ông đem tôi về nhà và tôi đã khóc suốt một năm trời như mưa vậy. Ông bảo hàng xóm lũ lượt kéo đến xem chuyện gì xảy ra. Lớn hơn một chút, tôi giận dữ với Michel vì đã không bỏ công tìm bố mẹ tôi, và tôi tưởng tượng họ sống trong một lâu đài ở New York, nơi họ không buồn thắp đèn đóm cho đến khi nào tìm thấy tôi. Michel kể cho tôi nghe là ông đã bỏ ăn bỏ ngủ tìm kiếm bố mẹ tôi suốt một tuần lễ nhưng sau cùng khám phá ra bố mẹ tôi đã tử nạn trong một tai nạn máy bay ở Buenos Aires. Trong cái ví lúc nào tôi cũng mang theo một bản đồ Argentina mà tôi đã xé ra từ một cuốn sách thư viện. Đôi lúc tôi rà ngón tay dài theo những thành phố trên bản đồ và tự hỏi đây có phải nơi máy bay rớt xuống hay không.

Năm tôi lên chín, Michel cho tôi quyết định có nên vào viện mồ côi không nhưng ông giải thích cho tôi rằng ông cũng lớn lên trong một nơi như thế và chẳng có gì là thú vị cả.

Tôi thích đi xe điện ngầm dù những băng con trai Algeria thỉnh thoảng nhổ nước miếng vào người tôi. Khi xe điện ngừng ở trạm mà Michel gặp tôi ngày trước, bao giờ tôi cũng ngó ngược ngó xuôi một cách hoảng hốt. Tôi không kiềm chế được mình. Michel bảo bố mẹ tôi là những người lịch thiệp và nhân từ nhất mà ông đã từng gặp, và lớn lên tôi cũng nên như họ. Một trong những cô bạn gái điếm của Sandrine có lần bảo tôi giống Annie Lee, Sandrine tát cô ta làm cô ta im miệng. Có thể mai mốt khi lớn lên tôi sẽ hỏi Sandrine xem Annie Lee là ai.

Căn hộ của chúng tôi ở khu 11 rất cơ bản. Tất cả mọi cửa sổ đều mở vào một khoảng sân chung với những cửa sổ khác. Khi tắt đèn, chúng tôi có thể thấy đời sống của người khác phô bày lộ liễu. Đời sống một người cũng như đoạn phim quay chậm, và tôi chứng kiến láng giềng tôi cãi cọ, làm hòa, ân ái, và chiên thịt. Tôi có thể đoan chắc một trong những người láng giềng của tôi không hạnh phúc, vì ông ta ngồi cạnh cái điện thoại, chốc chốc lại cầm lên nghe thử xem có tiếng vo vo quen thuộc không, nhưng cái điện thoại ấy không bao giờ reo khi người đàn ông ấy ở nhà. Michel bảo vợ của người đàn ông ấy bỏ đi, và nếu có lúc nào đó tôi không biết cầu nguyện cho ai, tôi nên cầu nguyện cho người đàn ông ấy.

Tôi nghe tiếng chìa của Michel vặn khóa.

"Chúc mừng sinh nhật, Đậu Phụng!" là những chữ đầu tiên thoát khỏi cửa miệng Michel. Ông ta hôn lên hai má tôi và bảo tôi sửa soạn. Tôi tắt ti vi và tìm đôi giầy cũ sau cánh cửa. Chúng không có ở đó. Michel vừa mồi điếu thuốc vừa cười.

"Tìm dưới gầm giường xem có không." ông nói.

Tôi đoán đúng, và tôi reo lên từ trong phòng ngủ để Michel biết tôi đã tìm thấy. Tôi muốn biết đôi giầy có vừa chân không. Tôi thích cái mùi của giầy mới.

Tối nay tôi mong mỏi sẽ được ăn một cái hamburger kiểu Mỹ loại mà ba tôi có lẽ rất ưa chuộng. Có thể chúng tôi sẽ đi xem một phim Mỹ. Men in Black II đang chiếu khắp Paris. Khi tôi bấm máy hát và nhìn mặt mình trong gương, tôi nghe tiếng mở nút chai trong nhà bếp và tiếng vài người hàng xóm reo vui qua những khung cửa sổ mở rộng.

Michel gõ cửa và ló đầu qua khung cửa.

"Prêt?" ông nói, và tôi bảo mình đi thôi.

Chúng tôi cầm tay nhau đi trong ánh chiều tà. Paris không bao giờ tối hẳn bởi vì khi ánh sáng của ban ngày tan đi, chúng tôi lại có ánh đèn đường – thường rất rực rỡ - gắn trên những cột đèn cao mầu đen, mỗi ngọn đèn là một đôi bóng trắng tỏa sáng thân thiết suốt chiều dài con phố. Đôi khi chúng thắp sáng cùng một lúc, như thể cùng với nhau chúng có thể xua tan bóng đêm.

Tôi biết Michel thích cầm tay tôi, nhưng bây giờ tôi lớn rồi, chuyện ấy không còn hợp nữa, thay vào đó, Michel hút thuốc và bảo tôi dù đời tôi có trôi giạt đến đâu, ông cũng sẽ luôn nhớ đến tôi một cách chân tình.

Tôi thầm hỏi Michel có phải là một nhà thơ nổi tiếng không. Thầy giáo tôi bảo thi sĩ xuất thân từ mọi nẻo đời và tài năng của họ do trời ban cho. Tôi tự hỏi không biết người ta rồi có vây quanh mộ của Michel ở nghĩa trang Père-Lachaise vài trăm năm sau. Tôi tự hỏi không biết người ta có đặt những câu thơ họ viết bên bia mộ của Michel và thầm cám ơn ông đã gửi đến họ những con chim nhỏ, hót cho họ nghe trong những phút giây đen tối của cuộc đời.

Michel mua vé coi phim bằng tiền lẻ để dành trong chai rượu. Cô bán hàng không tỏ vẻ khó chịu. Con mắt trái cô ta bị lé. Cô ta luồn tấm vé ra cho Michel mà không đếm đống tiền cắc. Cô ta nhìn cái sẹo của Michel lúc chúng tôi đi lướt qua khung kính quầy vé. Michel đưa vé cho người soát vé. Hắn ta xé đôi tấm vé. Michel bảo giữ lại cái đuôi vé nên tôi mở ví và mảnh bản đồ Argentina rơi ra. Michel nhanh nhẹn nhặt lên ngắm nghía. Tôi vồ vội lấy miếng giấy và nhét vào ví.

"Những con chim nhỏ của Đậu Phụng." Ông cười.

Rồi chúng tôi vào chỗ ngồi và tan biến vào cuốn phim đang chiếu.

Lưu Diệu Vân & Hoàng Chính

chuyển ngữ từ nguyên bản Little Birds

trong tập truyện The Secret Lives of People in Love)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
18 Tháng Năm 20189:51 CH(Xem: 1312)
Alejandra Pizarnik ra đời năm 1936 tại Avellaneda, Argentina, là con gái của đôi vợ chồng di dân người Nga gốc Do Thái, tị nạn cộng sản và phát-xít. Vào năm 1955 tại Buenos Aires, nhà xuất bản Botella al Mar phát hành tập thơ đầu tiên của nàng “The Most Foreign Country”, Pizarnik nổi tiếng ngay từ tập thơ đầu tay này, khi mới 19 tuổi. Những nhà phê bình thời đó cho rằng Pizarnik cũng như các nhà thơ lãng mạn khác như Antonin Artaud lúc bấy giờ đã bước vào một cuộc phiêu lưu kỳ dị sang “phía bên kia”. Một số nhà phê bình gọi nàng là “kẻ mộng du trên bờ vực ”, đến một nơi mà “đêm là sự sống và mặt trời là sự chết”, hay tìm sang “phía bên kia của đêm, nơi tình yêu là khả thể.”
18 Tháng Bảy 201511:10 CH(Xem: 7174)
Ruben là một danh họa bậc nhất ở Mexico, ông lại yêu say đắm Isabel, cô người mẫu của mình. Ấy vậy mà ngược lại, cô nàng lại tỏ ra tình tứ với tình địch của ông, gã này chẳng tiếng tăm gì cả. Isabel vẫn hay gọi ông Ruben là “Churro” bé nhỏ của nàng. “Churro” vốn là tên một loại bánh ngọt, mà cũng là tên thường gọi của người Mễ cho những chú chó con nuôi trong nhà. Ruben lại cho đó là một cái tên gọi tuyệt vời. Bởi thế cho nên hễ có ai đến thăm nơi ông vẽ, ông lại hí hửng khoe: “Ấy, nàng lại sắp gọi tôi “Churro” đấy”. Mỗi khi ông cười, chiếc áo lót như muốn bật tung ra, bởi lẽ ông càng ngày càng béo ra.
08 Tháng Chín 201412:00 SA(Xem: 10459)
“Nghệ thuật vị nghệ thuật hay nghệ thuật vị nhân sinh?” là một tranh luận lâu đời giữa các nhà văn. Tại Việt Nam, câu hỏi này chìm khuất vào trong chiến tranh rồi chịu kiểm soát của Ban Tuyên giáo. Tại Nam Mỹ, dấn thân vẫn còn là nguyên liệu của sáng tác và Santiago Sylvester nhắc lại một lần nữa ý nghĩa cùng điều kiện của dấn thân. [Trần Vũ]
01 Tháng Sáu 201412:00 SA(Xem: 14372)
Một tiếng đồng hồ sau nàng trở lại chỗ tản bộ trên boong tàu, khoác trên người một bộ quần áo nhẹ và hở hang nhưng rất trang nhã khiến nàng trông khêu gợi một cách kín đáo, một áo khoác không cánh tay hơi hở ngực và quần lụa ống rộng trông tựa như váy. Nàng không nhìn ai hết, nằm dài xuống ghế mở sách ra đọc.
19 Tháng Năm 201412:00 SA(Xem: 39207)
Đảng Cộng sản Trung Quốc sẽ sụp đổ qua ba giai đọan trong vòng ba năm tới và chế độ của nó sẽ cáo chung vào năm 2016, theo tạp chí Frontline của Hương Cảng, một tờ báo tập trung phân tích tình hình chính trị Hoa lục.
17 Tháng Tư 201412:00 SA(Xem: 18619)
Nhân viên mai táng đến thật đúng giờ khiến María Dos Prazerès, còn khoác áo choàng tắm và đầu gắn các kẹp tóc, chỉ kịp giắt một đoá hồng đỏ lên vành tai để không xuất hiện quá ít quyến rũ như bà đang ấn tượng về chính mình.
04 Tháng Hai 201412:00 SA(Xem: 13935)
N gười người tập hợp đòi dân chủ tại trung tâm thành phố...Vị lãnh tụ đương thời truyền lệnh cho quân đội nổ súng vào những người chống đối...Trên báo chí, chúng tôi đọc được lời tuyên bố của vị lãnh đạo là ông sẵn sàng giết hai trăm ngàn mạng người để đổi lấy hai mươi năm ổn định cho xã hội cộng sản.
24 Tháng Giêng 201412:00 SA(Xem: 12744)
N hững lần đầu tôi xem thường cái ghen của anh. Tôi ôm anh, hôn anh và thì thầm vào tai là chỉ yêu anh và anh nên ngưng cái tính ghen ngớ ngẩn đó. Thế nhưng sau đó tôi nhận thấy làm vậy lại làm anh giận thêm. Anh không chịu được khi tôi phủ nhận trí tưởng tượng đầy ghen tuông của anh.
15 Tháng Ba 201312:00 SA(Xem: 32690)
Lời người dịch.  Đứa con gái đồng hoang (La fanciulla della Pampa) dịch từ nguyên bản Ý ngữ là một trong bảy truyện ngắn trong tập truyện Sette donne intorno al mondo (Bảy người phụ nữ vòng quanh thế giới) của Arnaldo Fraccaroli, một nhà văn kiêm nhà báo và diễn viên hí viện Ý vào thời đầu cho đến giữa thế kỷ 20.
25 Tháng Chín 201112:00 SA(Xem: 85667)
Lời giới thiệu: Bài “Giã Từ Trung Quốc” được dịch từ bản Anh ngữ tựa là “Walking Out on China”(do Wen Huang dịch từ tiếng Trung Hoa) của nhà văn đối kháng Trung Hoa, Liao Yiwu, xuất bản trên The New York Times số ra ngày 15 tháng 9, 2011. Ông Liao, tên Hán Việt là Liêu Diệc Vũ, cũng còn được biết tới dưới tên Lao Wei, sinh năm 1958 tại tỉnh Sichuan, đúng vào năm Mao trạch Động phát động chiến dịch Một Bước Nhẩy Vọt đã đưa cả nước vào nạn đói trầm trọng...