- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

VỀ MẤY BỘ PHIM THAM DỰ GIẢI CÁNH DIỀU VÀNG 2024

31 Tháng Tám 20249:48 CH(Xem: 30892)

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

VỀ MẤY BỘ PHIM THAM DỰ GIẢI CÁNH DIỀU VÀNG 2024

 

1. PHIM “MAI” SẼ HAY HƠN NẾU BỚT ỒN ÀO VÀ BỚT LỜI

Phim “Mai” chiếu từ dịp Tết, tôi được nghe đủ lời khen chê - khen nhiều hơn chê, và được cô con gái sinh viên năm thứ hai sau khi rủ bạn xem về bảo: “Phim xúc động ạ. Nhưng ồn ào quá, khiến con đau đầu”.

MAI
PHIM “MAI”

Nhưng phải tới lúc phim này (cùng 17 phim truyện điện ảnh) được chiếu phục vụ cho Ban Giám khảo Cánh Diều Vàng 2024 và Ban lý luận phê bình của Hội Điện ảnh VN, tôi mới có dịp được xem. Quả là phim Mai lập kỷ lục phòng vé, trước hết là Trấn Thành rất hiểu thị hiếu khán giả Việt, và khai thác bộ phim từ cuộc sống đời thường – như mấy phim cháy rạp trước đó của anh. Phim có lời thoại hài hước, xây dựng trên một câu chuyện gần gũi đánh trúng được vào thị hiếu số đông; đặc biệt dàn diễn viên diễn hết sức tự nhiên là điểm cộng số một của phim.

Tôi không đồng tình với ý kiến chỉ trích của một cây bút phê bình chuyên nghiệp về phim Mai: “đã năm 2024 rồi, chúng ta có thể mong đợi một bộ phim Việt Nam không có đề tài hiếp dâm, làm đĩ nữa được không? Tôi chắc chắn đời sống của người Việt Nam rất đa dạng, phong phú, có hàng trăm hàng triệu những câu chuyện thú vị khác, cớ sao phim nào cũng có yếu tố tình dục, hiếp dâm?” Thật ra, chuyện “hiếp dâm, làm đĩ” xuất hiện trên màn ảnh lớn thế giới Đông - Tây từ một trăm năm nay, và sẽ còn xuất hiện một khi cuộc sống loài người vẫn còn cái xấu cái ác tồn tại. Như Tình yêu nam nữ vậy! Vấn đề là những chuyện đó được thể hiện như thế nào?

Theo chủ quan tôi, phim “Mai” sẽ hay hơn, có sức chinh phục khán giả hơn, nếu như bộ phim bớt đi sự lên gân ồn ào, bớt lời cãi vã thuyết giảng dài dòng, bớt “kịch hóa”… Truyền hình và sân khấu là những thể loại riêng, có những tiêu chí nghệ thuật riêng - song ở phim điện ảnh, truyền hình hóa và sân khấu hóa chính là thủ tiêu điện ảnh, mà phim Mai thì đầy rẫy những trường đoạn phim mang chất truyền hình - mà là loại truyền hình rẻ tiền! Và những lời thoại phim, lẽ ra trong điện ảnh cần dành chỗ cho khoảng lặng suy ngẫm giàu cảm xúc và để hành động & tình huống nói thay, thì trong phim Mai đã được ném ra trên màn ảnh với volume vặn “kịch kim” dường như các nhà làm phim sợ khán giả không hiểu ý đồ sâu xa của mình và đều bị… điếc nặng hết! Khán giả có cảm tưởng nhà làm phim cho diễn viên - nhân vật mình chăm bẵm uống dopin kích thích thần kinh quá liều để sẵn sàng gào thét, đấm đá, quằn quại mỗi khi có tình huống kịch tính bên ngoài hoặc nội tâm… Lúc Mai tuyệt vọng nhất tìm đến người yêu đang ngồi cô đơn, người xem thèm được sống trong vài phút im lặng giữa hai người, thì lại bị “tra tấn” bởi những lời than thở thừa thãi ai cũng biết, có nhạc phụ họa! Kèm theo đó là thỉnh thoảng có tiếng động phim giật gân như để đánh thức khán giả buồn ngủ , kiểu “Bụp” - “Chíu” trong các truyện tranh hành động, góp phần tạo nên những tạp âm khủng khiếp chỉ có tác dụng phá hoại tính thẩm mỹ cần có của bộ phim! Còn về âm nhạc trong phim này thì nhiều người thấy thất vọng quá chừng, bởi nhạc sĩ làm nhạc phim và đạo diễn dường bất chấp cảm thụ của khán giả, biến nhạc phim thành thứ hỗ trợ cho tiếng ồn của phim bằng nhạc giao hưởng, đàn dây, bài hát một cách hết sức tùy tiện, nhiều khi đã phá hỏng nội dung thoại! Việc biến âm nhạc thành cái nền ồn ào nhằm “đưa đẩy” lời thoại phim một cách vô lối tùy tiện, xin thưa đó cũng là bệnh chung của hầu hết các phim Việt hiện nay - kể cả những phim khá nhất đã/ sẽ đoạt giải cao ở các LHP trong nước! Gửi ra các LHF quốc tế, xin lỗi, khán giả họ chạy mất dép!

Về đường dây truyện phim tải nội dung & ý đồ tư tưởng của phim Mai càng về sau càng đuối, nhất là đoạn hồi ức - hồi tưởng (flashback) có vai trò hết sức quan trọng cho khán giả biết Mai đã bị xâm hại tình dục, rồi có thai ngoài ý muốn, dẫn tới cô muốn tìm tới cái chết - nhưng bộ phim đã kể lại một cách sơ sài hời hợt chỉ bằng vài ba cảnh phim rời rạc, khiến không ít người xem nghĩ rằng: đó là cảnh phim về cuộc đời nào khác chứ không phải là của Mai!

Bộ phim đã pha trộn quá nhiều thể loại, có đủ hết náo kịch, hài kịch, chính kịch, phim tâm lý tình cảm, phim kinh dị, phim hành động, phim ca nhạc - vi phạm vào một quy luật sáng tạo điện ảnh mà một nhà lý luận biên kịch Mỹ đã cảnh báo: Ngay ở vài phút vào phim tác giả phải xác định cho khán giả biết là họ đang được xem loại phim gì, đừng có lập lờ đánh lận con đen! Ở đây nhà làm phim Mai đã không những “lập lờ đánh lận con đen” mà còn tham lam khiến khán giả bội thực!

Mấy điều có thể gọi là nhược điểm nói trên của “phim Trấn Thành” thực ra rất dễ khắc phục để những bộ phim sau “Mai” sẽ tiếp tục chinh phục khán giả nhiều hơn nữa!

 

 

2. ĐIỀU ĐÁNG TIẾC CỦA PHIM “CU LI KHÔNG BAO GIỜ KHÓC”

"Cu li không bao giờ khóc" của đạo diễn Phạm Ngọc Lân, biên kịch Nghiêm Quỳnh Trang đã thắng giải "Phim đầu tay xuất sắc" LHP Berlin vào sáng 25/2, và hiện tham dự giải cánh Diều Vàng 2024 của Hội Điện ảnh VN. Phim kể về bà Nguyện (NSND Minh Châu đóng) từ châu Âu trở về Việt Nam với món thừa kế của người chồng quá cố là con culi. Bà Nguyện lo lắng cho tương lai của cháu gái bị tàn tật bà nuôi dạy từ nhỏ, khi cô kết hôn vội vã do lỡ có thai với bạn trai. Cạnh đó, bà luôn phải suy ngẫm về quá khứ nhiều đau buồn cá nhân, nhưng bà đã gặp lại quá khứ đẹp đáng tự hào của thế hệ bà khi được thăm lại Công trường Nhà máy thủy điện Hòa Bình…

CU LI
PHIM “CU LI KHÔNG BAO GIỜ KHÓC”



Phải nói ngay, đây là phim đã xử dụng ngôn ngữ điện ảnh khá sáng tạo, điều vô cùng đáng khuyến khích giữa thời ĐA thường bị truyền hình hóa - sân khấu hóa. Các nhà làm phim có lý khi cho tông màu chuyển thành đen trắng – như thời phim nhựa đen trắng trước đây, nhằm gợi cho người xem sự đan xen trong tâm tưởng nhân vật giữa quá khứ và thời công nghệ điện tử. Phim có nhiều cảnh quay chân dung hết sức sinh động chân thực về những người từng chinh phục sông Đà. Tương phản với những cảnh nhờ nhờ xam xám của cuộc sống đời thường chật chội hôm nay là cảnh sóng sông Đà và thác thủy điện hùng vĩ… Đối lập với sự nhỏ mọn, tầm thường, nhức nhối đầy tính toán là bóng dáng luôn hiển hiện của tình yêu trong sáng, của ước mơ lương thiện qua đôi nam nữ thanh niên và lũ trẻ…

Đáng tiếc nhất là đường dây truyện phim về bà Nguyện và anh thanh niên chủ quán Âm Nhạc – lẽ ra sẽ giúp làm nổi bật chủ đề tư tưởng phim thì lại được thể hiện một cách hời hợt không đến nơi đến chốn, thậm chí khiên cưỡng, giả tạo! Chỉ một tình tiết anh thanh niên nhuộm tóc ném trả lại mớ tiền do bà Nguyện đưa, sau một tuần đi theo bà tới chốn Rừng – Suối với lời thoại: “Bà đối xử với tôi như là trai bao hay sao?” thì không thể cho thấy chiều sâu tâm hồn nhân vật này – một con người của thời đại mới biết trân trọng vẻ đẹp của những giá trị quá khứ, yêu âm nhạc của thời khói lửa, chứ không phải chỉ biết kinh doanh và thích nhảy Rốc như ấn tượng của người lớn về lớp thanh niên hiện tại… Nghệ sĩ Minh Châu rất có tài năng, nhưng vào vai người đàn bà đã tàn tạ chỉ thấy dằn vặt đau khổ thầm lặng, thế mà lẽ ra ngoài nét tâm lý hiển hiện đó, ở chiều sâu phải là một người đàn bà giữ được ngọn lửa thanh xuân với khát vọng sống nồng nàn thậm chí quyến rũ được cả một chàng trai trẻ bằng tuổi con mình… Ít ra, sự bí ẩn, hấp dẫn cao xa đó của người phụ nữ lớn tuổi mới là điều thuyết phục được chàng trai bỏ hết việc kinh doanh đi theo bà cả tuần liền – không phải sự hấp dẫn thể chất, mà là sự hấp dẫn nội tâm – mà nội tâm đó không thể biểu hiện ở một người đàn bà đau khổ luôn bất mãn với hôn nhân của cháu mình!... Có thể nói thẳng, đó là sự non kém về kịch bản và sai sót trầm trọng trong việc chọn diễn viên - xử lý diễn xuất của đạo diễn, khiến cả bộ phim bị chông chênh hụt hẫng!

 

 

3. “ĐÓA HOA MONG MANH” - MỘT BỘ PHIM CA NHẠC LÃNG MẠN CẢM ĐỘNG

Trước hết, cần phải nói ngay điều này: T cận tôi lần đầu được xem phim “Đóa hoa mong manh” đương tham dự Giải Cánh Diều Vàng của Hội ĐAVN với tâm lý hồi hộp, mong đợi, có phần lo lắng cho bạn đồng nghiệp… Bởi thú thực, trước khi xem phim này, với tư cách khán giả yêu điện ảnh, là người đang làm nghề hiện là thành viên của Ban Lý luận phê bình Hội, tôi đã được biết thông tin: phim được quay hoàn toàn trên đất Mỹ và gặt hái một số giải thưởng quốc tế trước khi trở về quê nhà; đồng thời lại đọc một số bài báo phê bình phim này khá gay gắt, như: “Câu chuyện ngô nghê”, “Chất điện ảnh nghèo nàn, thông điệp lệch lạc” (znews.vn) v.v.

DOA HOA MONG MANH
phim “Đóa hoa mong manh”



Nhưng sự thật thì, bộ phim đã cuốn hút tôi từ cảnh đầu đến dòng chữ phim cuối cùng! Nếu ai đã từng làm phim ca nhạc thì sẽ hiểu những khó khăn thử thách to lớn về kỹ thuật đối với loại phim này; thì phim “Đóa hoa mong manh” xét cho cùng cũng là một phim ca nhạc, và việc tổ chức thực hiện bộ phim ca nhạc này hết sức chuyên nghiệp có thể sánh với bất kỳ bộ phim ca nhạc nào của điện ảnh thế giới!

Còn về nội dung tư tưởng và nghệ thuật thể hiện, đây là một bộ phim hết sức chững chạc về mặt nghề nghiệp; và nếu ai đó nhận định rằng phim “Chất điện ảnh nghèo nàn, thông điệp lệch lạc” thì xin lỗi, người đó không hiểu gì về điện ảnh và cũng không xem bộ phim đến đầu đến đũa mà dám phê phán bừa!

Chuyện phim “Đóa hoa mong manh” xoay quanh nhân vật chính Thạch Thảo, một ca sĩ trẻ đẹp với giọng hát lay động lòng người. Sau đêm diễn thay cho đồng nghiệp, cô lọt vào mắt xanh của Sơn - một nhà sản xuất chương trình âm nhạc. Anh trân trọng đề nghị giúp cô thể hiện tài năng. Thạch Thảo từ giọng ca vô danh đã bước lên đỉnh vinh quang. Sơn từ chỗ quý trọng tài năng của ca sĩ trẻ, tự tìm kiếm thêm kinh phí để thực hiện phim ca nhạc, dần tới chỗ thầm yêu cô - và cô cũng rung động trước tình cảm chân thật của anh. Thấy chồng ngày một xa cách mình, Giám đốc Hãng phim Yvonne - vợ của Sơn đã cố gắng tìm cách cứu vãn cuộc hôn nhân đang đứng bên bờ vực thẳm…

Câu chuyện phim khá đơn giản, lại dường quá quen thuộc về môi trường ca sĩ - nghệ sĩ, giới kinh doanh nghệ thuật, với mối tình tay ba, chuyện đánh ghen, tạo scandal… Nhưng điều đáng quý nhất là người làm phim đã lý giải những “chuyện thường ngày ở huyện” đó một cách uyển chuyển, mềm mại, thông qua sự phân tích tâm lý rất tinh tế, bằng diễn xuất điện ảnh chân thực giàu sức thuyết phục!

Sự đánh ghen của Yvonne - “ghen tuông thì cũng người ta thường tình”, nhưng ở một nữ giám đốc xinh đẹp giỏi giang trong kinh doanh thì lại vừa có chất trí thức lại vừa có nét của người phụ nữ VN quen nhẫn nhịn. Một nhà đầu tư cho bộ phim ca nhạc 2 như Bảo Hoàng, thoạt đầu tưởng chỉ là một nhà giàu trọc phú mê ca hát và mê ca sĩ, người tỏ ra phẫn uất trước công luận rằng ca sĩ coi thường mình- coi thường khán giả vì đã không nhận hoa của ông ta trên sân khấu, nhưng khi biết lý do vì sao cô không nhìn thấy ông sau buổi diễn, ông đã tỏ ra hết sức hối hận, gọi điện xin lỗi Thạch Thảo đang nằm trong Bệnh viện… Nếu không có trái tim nhân hậu và một tầm văn hóa nhất định, không thể có hành động này ở nhân vật Bảo Hoàng - và đó là những cảnh phim rất giàu ý nghĩa, giàu chất điện ảnh khắc họa tính cách và chiều sâu nhân vật. Cách “đánh ghen” của giám đốc Yvonne (Mai Thu Huyền đóng) khi tìm đến gặp Thạch Thảo cũng thực hiếm có, và chính phẩm cách của chị, chứ không chỉ là tình yêu đối với chồng- đã khiến Thạch Thảo và Sơn phải kính nể, và dù yêu nhau tha thiết cũng phải tình nguyện dừng lại trong nước mắt ngậm ngùi để giữ được tình nghĩa vợ chồng và vun đắp cho hạnh phúc người khác… Mối tình của nhà sản xuất Sơn với cô ca sĩ Thạch Thảo được tả trong phim đầy ý vị lãng mạn; và gương mặt diễn viên cùng diễn xuất rất chuẩn của Quốc Cường dưới chỉ đạo của đạo diễn đã có thể thuyết phục được người xem rằng: đó là một mối tình không dính chút mùi của tiền bạc danh vọng, nó gợi lên bao sự tiếc nuối sâu xa trong lòng khán giả. Câu nói nghẹn ngào của Sơn khi cầm tay ca sĩ Thạch Thảo đặt lên ngực mình: “Em có thấy trái tim anh không” có thể trở thành câu thoại phim kinh điển. Và cùng với sự bất hạnh của ca sĩ Thạch Thảo - cô đã ngã gục xuống sàn diễn vì đuối sức, những khát vọng thầm kín và đẹp đẽ về Tình yêu buộc phải lùi sâu vào tâm tưởng… những điều đó đã góp phần làm nổi bật lên cái triết lý của bộ phim: Tất cả mọi thành công sự nghiệp, tiền tài, danh vọng… xét cho cùng chỉ là đóa hoa mong manh mà thôi! Cũng bởi vậy, con người ta đã có cái gì quý giá trong cõi đời hữu hạn này cần biết nâng niu, trân trọng… Cả bộ phim đã “gánh” được cái triết lý mang tính nhân loại của nhiều thời đại đó, và buộc người xem phải suy ngẫm và xúc động lâu dài…

Dĩ nhiên, khán giả có thể đòi hỏi ở đạo diễn điều này điều nọ về chi tiết, tình tiết, về nghệ thuật thể hiện ở đôi trường đoạn, nhưng nhìn tổng thể, cần khẳng định bộ phim “Đóa hoa mong manh” là một “đỉnh” của đạo diễn- diễn viên - nhà sản xuất Mai Thu Huyền!

 

 

4. HAI BỘ PHIM MANG NẶNG VỊ MUỐI CỦA ĐỜI

 

18 bộ phim truyện Điện ảnh tham dự tranh giải Cánh Diều Vàng năm nay có thể nói đã đánh dấu một sự khởi sắc hết sức đáng phấn khởi của một nền ĐA dân tộc trên con đường chinh phục số đông khán giả; và có hai bộ phim gây ấn tượng mạnh nhất đối với tôi - một khán giả đang làm nghề - hai bộ phim mang “vị muối” đích thực của Đời có khả năng chạm vào đáy sâu cảm xúc của hàng triệu khán giả, đó là HAI MUỐI SÁNG ĐÈN!

HAI MUOI


Những ai từng làm cha làm mẹ và trải qua những đận mưu sinh gian khó để nuôi dạy và bảo vệ con mình đều có thể tìm thấy trong phim “Hai Muối” sự đồng cảm sâu sắc, cùng sự động viên chân thành cảm động… Có điều, sự đồng cảm và động viên đó đã được gửi gắm qua những số phận gần gũi mà các nghệ sĩ điện ảnh đã tái tạo một cách hết sức chân thực, sinh động trên màn ảnh, chân thực và sinh động tới độ có nhiều cảnh phim khiến người xem như hòa nhập hồn mình vào buồn vui của nhân vật, phải khóc cùng nhân vật… Hai nhân vật chính: người cha làm muối (Dv Quyền Linh) và cô con gái tên Muối (Dv Huỳnh Bảo Ngọc) chắc chắn sẽ có sức sống lâu dài trong lòng khán giả Việt, chỉ bởi cái nguyên cớ sâu xa và làm nên cội nguồn của nghệ thuật, là các nghệ sĩ điện ảnh - từ tác giả kịch bản, đạo diễn, quay phim, diễn viên, họa sĩ thiết kế, âm thanh… đến ánh sáng, hóa trang… đã lặn rất sâu vào đời sống cần lao để chắt lọc ra cái “Vị mặn” dính mồ hôi, và dính máu nữa, từ đó nêu ra những vấn đề thiết yếu nhất của hôm nay trên các lĩnh vực quan hệ gia đình, hàng xóm láng giềng, tình yêu, bạn đồng học, chuyện hướng nghiệp… Phim Hai Muối chưa ra rạp chính thức nhưng đã nhận được biết bao sự ngợi khen trong giới chuyên môn - đặc biệt là của TS. nghệ thuật học, Chủ tịch Hội ĐA Đỗ Lệnh Hùng Tú, vì vậy T cận tôi không dám lạm bàn thêm, để xin chuyển sang bộ phim cuối cùng của đợt chiếu thẩm định này là “Sáng Đèn”…

SANG DEN
Phim "Sáng Đèn"



Xem “Sáng Đèn”, ngoài những ấn tượng chung cho cả hai phim tôi đã nói ở trên, thì có điều đặc biệt này nữa: Cấu trúc truyện phim khá phức tạp song được xử lý cực kỳ "ngọt"! Phim về đề tài nghệ thuật cải lương, xoay quanh câu chuyện vui buồn của một gánh hát miền Tây Nam bộ, nhưng chất “cải lương” như một yếu tố câu khách lại rất ít mà để dành “lãnh địa“ cho nghệ thuật điện ảnh - trong một tác phẩm điện ảnh đúng nghĩa! Câu hát vọng cổ của người cha vốn chuyên đệm đàn đã hát thay cho con trai ở buổi phục vụ đám cưới khiến người xem rung động không phải bởi bản thân câu hát, mà là bởi cái cảnh ngộ của hai cha con - người của đoàn Hát Viễn Phương đã tan rã; tình tiết nghệ thuật này nằm trong hệ thống tình tiết kể lại những thăng trầm bi hài của gánh hát, đan xen với số phận của các kép chính kép phụ và “ông bầu” cùng quan hệ cha & con, sư phụ & trò nghề của họ được miêu tả một cách duyên dáng, tự nhiên, có chiều dày nội tâm và sự phát triển tâm lý không hề có chút gượng ép!

Tôi thiển nghĩ: Sự phức tạp cần tiết của hệ thống tình tiết phim dẫn tới bề dày của tính cách nhân vật, chính là điểm Yếu nhất của phim truyện nước nhà, là cái gốc của sự non kém, sơ lược hóa về kịch bản lâu nay! Nhưng phim “Sáng Đèn” đã tránh được điều này. Và có thể nói đây là phim đề tài âm nhạc cải lương - đàn ca Tài tử Nam Bộ có tầm quy mô nhất trước nay về cấu trúc truyện phim, về xây dựng hệ thống nhân vật và gợi ra được một cách thấm thía những vấn đề khá nóng bỏng về sự tồn tại cũng như sự phát triển nghệ thuật quần chúng rất thân thiết này tại chính quê hương của nó vào thời kinh tế thị trường và bị các nghệ thuật hiện đại lấn át!

Một người làm nghề tưởng chừng đã “chai sạn” với đủ loại phim nội - ngoại như tôi đã phải chảy nước mắt trước nỗi đau lòng tuyệt vọng của ông Bầu gánh hát khi phải tuyên bố “rã gánh” với các nghệ sĩ thân yêu của mình; đã phải se lòng không kém nhân vật kép chính Lâm buộc rời cô gái anh yêu để chấp nhận cưới người đàn bà giàu nhưng anh không hề yêu để cứu tính mạng người mình yêu và cứu gánh hát… Có đến hai motif "Bán thân" để cứu gánh hát - một kép một đào, song không hề tạo cảm giác lặp lại, nhàm chán, mà mỗi lần một tình huống bất khả kháng, được đặt ra và giải quyết hợp lý một cách tàn nhẫn! Bởi các sự kiện phim diễn ra dù ngẫu nhiên hay tất yếu, bởi các tâm trạng nhân vật trong sự kiện… tất cả đã được nhà làm phim chắt lọc từ chính "Vị muối" của Đời - đều thực mặn mòi, cay đắng, chua xót, và hết sức chân thực theo quy luật tâm lý đời thường ở tại vùng quê ấy, và như quy luật điện ảnh đòi hỏi!

Phim dài hơn hai giờ, có những chỗ nhẩn nha, song khán giả không hề thấy sốt ruột và khi chữ phim hiện lên người xem vẫn cảm thấy tiếc nuối… Và trên hết, với hệ thống cấu trúc truyện phim khá chặt chẽ hợp lý, với hệ thống nhân vật được chăm chút kỹ lưỡng tới từng chi tiết tâm lý, các bối cảnh chân thực (và lúc cần bối cảnh quy mô hoành tráng cũng có!), phim “Sáng Đèn” đã dựng lên trước người xem những hình tượng thật hấp dẫn về người nghệ nhân Cải lương - Đàn ca Tài tử Nam Bộ yêu nghề say đắm, tính cách kiên nghị song giàu lòng nhân hậu, có khả năng truyền lại không những tình yêu nghề, lòng ngưỡng vọng Tổ nghề mà còn đem tới cho người xem khát vọng yêu thương - trân trọng - quý hóa đối với bạn nghề, đối với bà con làng xóm, đối với quê hương đất nước…

Tôi hy vọng “Sáng Đèn” & “Hai Muối” sẽ là hai phim tranh đoạt giải cao nhất vào mùng 10 tháng 9 tại Nhà hát Đó Nha Trang - thành phố Điện ảnh tương lai…

 

Đạo diễn MA NAT

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
11 Tháng Bảy 20265:19 CH(Xem: 174)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
11 Tháng Bảy 20262:04 CH(Xem: 223)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 674)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
08 Tháng Bảy 20265:41 CH(Xem: 597)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 703)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1479)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1459)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20264:45 CH(Xem: 1403)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1341)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
26 Tháng Sáu 20263:59 CH(Xem: 1326)
“Là con dân của một đất nước mà lịch sử là một chuỗi tranh đấu không ngừng để được tồn tại, NQ thiết nghĩ “Hội Thề Đông Quan” là một chiến thắng đáng suy ngẫm. Sau 10 năm nếm mật nằm gai, chứng kiến đất nước và dân mình chịu bao tang tóc dưới ách bạo tàn của nhà Minh. Thế mà cha ông chúng ta đã mở đường hiếu sinh cho hàng vạn hàng binh, và còn cấp thuyền, cấp ngựa cho họ trở về nước. Sự bao dung đã biến một chiến thắng quân sự thành khúc khải hoàn của lòng nhân ái và đem lại bình yên cho người dân của đôi bờ bờ cõi.” (Nguyệt Quỳnh)
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10406)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17223)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16271)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16747)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 703)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1459)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1485)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2230)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 174)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 597)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 1403)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 1261)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 674)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1479)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1341)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
26 Tháng Sáu 20263:59 CH(Xem: 1326)
“Là con dân của một đất nước mà lịch sử là một chuỗi tranh đấu không ngừng để được tồn tại, NQ thiết nghĩ “Hội Thề Đông Quan” là một chiến thắng đáng suy ngẫm. Sau 10 năm nếm mật nằm gai, chứng kiến đất nước và dân mình chịu bao tang tóc dưới ách bạo tàn của nhà Minh. Thế mà cha ông chúng ta đã mở đường hiếu sinh cho hàng vạn hàng binh, và còn cấp thuyền, cấp ngựa cho họ trở về nước. Sự bao dung đã biến một chiến thắng quân sự thành khúc khải hoàn của lòng nhân ái và đem lại bình yên cho người dân của đôi bờ bờ cõi.” (Nguyệt Quỳnh)
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 223)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3045)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2944)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3413)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2116)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13922)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30048)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36107)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 11572)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13048)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2838)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 4002)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3984)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4496)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 5034)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8283)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7665)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10617)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.