- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

THẦY TÔI

18 Tháng Sáu 20235:12 CH(Xem: 31986)
 
tinh vat cuoi tuan- tranh Dinh Truong Chinh
Tĩnh Vật Cuối Tuần - tranh Đinh Trường Chinh

 

Nguyễn Thanh Sơn

THẦY TÔI 

 

         Tiết học đầu tiên ở trường Võ Tánh, tôi gặp thầy Đỗ Đức Trí. Hôm ấy thầy trông đạo mạo, mẫu mực, áo quần chỉn chu, thẳng nép chứ không luộm thuộm, nhếch nhác như những lần gặp ở trường Kim Yến. Gặp lại tôi, thầy có vẻ đồng tình là tôi theo nghiệp văn chương, cố nỗ lực để được vào học ở trường công lập. Đối với ông Sáu, thành tích của tôi được vào trường công lập, không kinh qua lớp đệ tam, điều đó ông không quan tâm chút nào. Điều quan tâm của ông là thân xác tôi ngày càng phát lớn, trổ mã trông thấy, cái giọng ồ ề, sức vóc phổng phao như con gà trống đã gây phiền toái cho ông Sáu . Nhà có hai gã đàn ông đang vào tuổi lính tráng là đầu mối cho mọi sự dòm ngó của những con mắt cú vọ, đôi tai thính của những “con chó săn” . Đó là những kẻ mà ông ám chỉ cho những tên cạo giấy, bọn ngồi mát ăn bát vàng, bọn tham nhũng đầy rẫy ở phố phường hoa lệ này. Thỉnh thoảng năm mười bữa nửa tháng, bọn năm ba thằng quan chức cấp thấp đi rảo từ đầu xóm đến cuối xóm, mắt liếc ngang ngó dọc, dòm chừng, xiên xỏ. Những lần như vậy, trái tim ông như sắp vỡ vụn ra, phần sợ cho thân phận mình, phần xót xa vì tiếc của. Những lần như vậy, cái hầu bao trong tủ kính chừng như teo lại chút ít.

 

   Cảnh bắt lính rất tình cờ, ngẫu nhiên, nó không theo một lịch trình nào. Khi có một cuộc sắp xảy ra, cả xóm Cồn này sẽ ồn ào như cái chợ. Ngữ cảnh ồn ào này là do bà con mình tự tạo ra, người đầu xóm chuyền tai to nhỏ với người cuối xóm. Công đầu phải dành cho đám con nít, đứa lớn thì chạy rần rần khắp hang cùng ngõ hẻm, còn đứa nhỏ dù nó không quấy phá, không muốn khóc chút nào nhưng các bà mẹ lại cố ý cấu véo, phát vào đít  thật đau cho nó ré lên. Cái cảnh thật mà ngỡ như đùa. Đó là ban ngày, còn ban đêm, cảnh bắt lính, kiểm tra nhân khẩu thì thật là đáng ngại.

 

  Chiếc xe cam nhông GMC đậu cuối đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, đầu xóm Cồn. Tốp lính chừng năm bảy tên tỏa ra, dàn thành một mặt trận nhỏ. Đi đầu là tên chỉ huy mang lon thượng sỹ, đi bên cạnh hẳn nhiên là gã Sáu Lá, tên chỉ trỏ, thổ địa cho vùng đất này. Vì thế , mỗi lần giăng lưới, bao giờ cũng được vài ba mẻ cá.

 

  Một tối nọ, tôi còn đang nằm trên tấm phản gõ “đa năng”. Bỗng chợt tỉnh giấc vì có nhiều tiếng giày đinh gõ rầm rập dưới nhà chồ. Mọi người trong nhà đã tỉnh ngủ hẳn, chú Sáu vội lĩnh vào một góc kín đặc dụng trong nhà. Một lát sau có tiếng giầy đinh bước thình thịch trên bậc tam cấp, hai cánh cửa bằng ván ép run bần bật vì bị gỏ đập.

 

  - Mở cửa, mở cửa!.

  Thím Sáu bật công tắc điện, dáng điệu rị mọ như cố ý kéo giãn thời gian ra.

 -Mở cửa, nhanh lên.

 

    Hai cánh cửa mở tung, một tên lính mặc quần áo rằn ri đứng chắn giữa nhà, còn một tên nửa quét đèn pin thẳng vào mặt tôi, luồng sáng làm lóa mắt kẻ còn ngái ngủ.

 

   - Đứng dậy, thằng nhóc!

 Tôi lồm cồm ngồi dậy, hai tay dụi mắt với dáng vẻ ngơ ngác.

  - Chồng bà đâu?

 - Dạ, ổng đi biển từ tối hôm qua.

  - Thằng nhóc này là con bà?

   -Thằng con lớn của tui đấy , chú hai. Nó vừa thi đậu vào trường công lập Võ Tánh.

  _ Nhà còn ai nữa không? Một tên lính nhìn thẳng vào mặt thím, dò tìm một nét lúng túng nào đó trên khuôn mặt .

  - Dạ, còn mấy đứa nhỏ nằm trong ngăn buồng..

 

  Luồng sáng của đèn pin quét lia lịa khắp mọi nơi, có một tên cúi gần sát dưới gầm giường như kinh nghiệm của những lần bắt lính. Khi luồng sáng quét ở bất cứ góc nào trong nhà cũng khiến trái tim tôi run lên, cố nín thở vì sức ép của sợ hãi làm co rúm lồng ngực.

 

  - Bà dám chắc là không có ai trong căn nhà này chứ?

  - Dà dà..chỉ tôi và mấy đứa nhỏ, nhà cửa trống hoác thì che giấu được ai, chú hai!

  - Vậy chứ gã kia là ai?

  - Dạ dạ…gã nào ..gã nào.. chú hai chỉ nói giỡn.!  Thím tôi giật thót người , nhưng vẫn cố giả lả.

 

  Ở dưới nhà chồ có bước chân chạy thình thịch, một bóng người chạy loáng thoáng trong ánh đèn điện từ trong nhà hắt ra. Sau đó có tiếng la ó: “Bắt nó lại!”. Như phản xạ có điều kiện, tên lính từ trong nhà phóng thẳng xuống đất, nắm đầu anh thanh niên đang đánh bài chuồn, tiện tay , tên lính tát vào mặt anh ta năm ba cái.

 

  - Đụ mẹ , chạy này chạy này!  Tên lính còn lại quay gót thẳng xuống nhà chồ. Thật hú vía, thím đã cứu chồng mình một bàn thua trông thấy.

 

   Từ tờ mờ sáng, dưới chân nhà chồ đã tụ tập dăm ba người bàn tán sôi nổi về cuộc bắt lính tối hôm qua. Qua câu chuyện, tôi nghe lỏm bỏm rằng thằng Minh, thợ may, bị lính bắt đêm vừa rồi, nghe nói hắn cố ý chống lại kẻ thi hành công vụ, nhưng không thoát..

 

  Tin thằng Minh bị bắt lính, trong lòng tôi nhói lên niềm chua xót. Bạn bè với nhau, trải qua bao ngọt bùi cay đắng suốt mấy năm ròng với xóm Cồn này, từ thằng cu mới mười tuổi, cùng với nó chập chững bước chân đầu tiên ở thành phố này, điều hay cũng có mà điều dở không phải là ít. Bao người thân kẻ sơ lần lượt ra đi. Con người không thể làm chủ được thân phận mình, không một dự định, một lo toan nào khả dĩ đem lại niềm vui, hạnh phúc cho bản thân. Cho dù vị giáo sư đệ nhị cấp đến anh thợ may ở xóm nhỏ này, một cư dân bình thường bên những ngôi nhà chồ bập bùng tiếng sóng, chỉ thèm muốn được sống bình lặng mà hồ dễ được đâu!.Tất cả như con thiêu thân cuốn vào cơn lốc lớn của thời đại.

 

   Vết thương lòng rồi cũng trôi qua, thời gian là liều thuốc hiệu nghiệm luôn chữa lành mọi vết thương. Những con người ở quanh tôi, xóm Cồn như mũi thuyền bập bềnh nắng gió, đi xa hơn nữa là thành phố Nha Trang hoa lệ, người ta vẫn theo nhịp sống muôn đời vốn có, những hạnh phúc, buồn thương , đau khổ. Nơi này buồn khổ , đói rét, thì nơi khác người ta vẫn vui chơi thâu đêm suốt sáng.

 

  Dù muốn hay không, buổi sáng hôm sau tôi vẫn phải chạy bộ gần năm cây số để đến trường học, vượt qua con đường dài Nguyễn Bỉnh Khiêm, bên kia đường là trại lính, Tiểu Khu Khánh Hòa, nơi có bức tường kiên cố bao bọc bởi hàng rào kẽm gai, có lỗ châu mai bất chợt chạy dọc theo bức tường, mà có những lần thằng cu hơn mười tuổi, lẩn thẩn vừa đi vừa đếm với nỗi buồn vô duyên cớ. Phía sau bức tường, trong một góc phòng nào đó, thằng Minh cùng những người khác đang ngồi bó gối mà đếm thời gian trôi, chờ số phận!

 

  Giậm bộ năm cây số để đến trường học, tôi đến trường bao giờ cái cổng cũng vừa khép. Bác cai trường bao giờ cũng hiểu tâm lý của học sinh. Vừa đúng giờ học, bác cai khép cổng hửng hờ khoảng năm phút, chờ những hoc sinh dậm bộ như tôi còn có cơ hội vào lớp. Ở đây không có tình trạng là, cứ anh nào  trễ giờ thì cứ mặc nhiên trèo rào, leo tường để vào lớp như các trường tư khác. Nếu học sinh nào đi trễ, coi như cúp cua giờ đó, la cà các hàng quán bên đường, bên hàng cây cổ thụ có tán che mát suốt con đường đi, ngồi chờ tiết học sau.

 

  Tôi học hành siêng năng, chăm chỉ. Dù đi bộ xa nhưng tôi ít khi bị trễ giờ học, hoặc cúp cua vài tiết học để la cà hàng quán. Tôi từ chối mọi thú vui hàng ngày để lao vào cuộc tìm kiếm các con chữ. Nếu có thú vui nào cám dỗ, tôi vẫn không thể nào moi đâu ra tiền để thỏa mãn thú vui đó. Tuy rằng có nhiều thú vui thanh nhã như dự buổi cắm trại cùng các bạn trong lớp ở Thành, cuộc picnic trong thành phố hay xa hơn nữa là Ba Ngòi, Cam Ranh, tôi cũng từ chối.

Vì bởi, đó là những cuộc vui tốn kém so với cái túi luôn thủng rách của tôi. Năm thì mười họa tôi mới được xem vài thước phim hay được quảng cao rùm beng  những tấm băng rôn treo trên con phố chính, hoặc đôi lúc nghiện quá thì đến dán mắt vào các tấm áp phích, ngắm nghía tấm thân căng tròn của các nữ tài tử, minh tinh dán ở ngoài rạp.

 

  Quá ghiền các con chữ nên thành tích học tập của tôi không đến nổi nào, nhưng cũng chỉ thường thường bậc trung. Đó là hậu quả của việc học băng lớp, bỏ cả chương trình của một năm học. Ban văn chương mà tôi đang theo đuổi, chương trình học nhai đi nhai lại theo các bậc học, nên dù tôi học băng lớp nhưng vẫn không bị mất căn bản. Những bài học vỡ lòng từ những năm đệ thất đến lớp đệ nhị vẫn nguyên xi. Áng văn bất hủ của các tiền nhân để lại từ năm học này đến năm học khác chỉ thêm hoặc bớt chút ít chữ. Dù thời gian có trôi qua, ngữ nghĩa của các con chữ, với tôi, nó không bị rơi rụng.

 

  Tôi luôn thèm muốn tên mình được ghi trên bảng danh dự sơn son thiếp vàng treo ở cổng chính của trường, tấm bảng mà mỗi học sinh đi qua đó ít nhiều cũng ngước mắt nhìn lên. Than ôi!, tấm bảng danh dự thì quá nhỏ, nó chỉ đủ chứa vài ba nhân vật xuất sắc cho mỗi lớp học mà thôi. Lực bất tòng tâm, cái danh dự hão huyền kia, ngày tháng cứ trôi vuột khỏi tầm tay tôi.

 

  Sự học của tôi trôi chảy đều đều như tiếng tích tắc của cây kim đồng hồ. Cái đồng hồ hiệu Oméga automatic, món quà hậu hĩnh của chú Út Mười ở quê gởi cho nhân dịp thi đậu vào trường Võ Tánh, xếp thứ nhì trong ba học sinh. Cái đồng hồ quá hoàn hảo, tân tiến. Cây kim được định vị trong vòng tròn khép kín, thỉnh thoảng nó đi nhanh hay chậm chút ít nhưng chưa có khi nào nó tuột khỏi vòng quay. Nhưng có một hôm, cái đồng hồ mà tôi cho là tân tiến, hoàn hảo đã nổi loạn, các phụ tùng có dấu hiệu xộc xệch, cái nọ đè lên cái kia, sự xộc xệch của chiếc đồng hồ như vận xui rủi áp đặt vào số phận tôi.. Số là, sau một tiết học buổi sáng hôm đó, thầy thư ký gọi tôi đến văn phòng. Thầy phán rằng nhà trường đã phát hiện tôi đang xài bằng giả, nhà trường buộc tôi phải chứng minh?  Một tin sét đánh ngang mày, tôi chao đảo, hụt hẫng, cảm giác tê dại khiến đôi chân khó bề kéo khỏi chiếc ghế ở văn phòng thầy thư ký.

 

   Những ngày sau đó, tôi như cánh diều no gió đang bay trên độ cao bất chợt đứt dây, chao đảo vô định hướng. Và đêm, tôi đi lang thang, đi đâu về đâu?

 

   Trở về con đường cũ trường Kim Yến, gặp lại thầy thư ký béo mập phục phịch, tấm thân to dình dàng như thần hộ pháp, khi ngồi cái đít choán hết chiếc ghế, đôi co với thầy bằng thật học giả, bằng giả học thật. Có thể nào phân trần phải trái với thầy khi tiền đã trao cháo đã múc!. Trong lòng tôi rối bời ngổn ngang trăm mối.

 

  Một người nào tôi có thể giải bày, tâm sự những nỗi lo ăm ắp,trút nặng nỗi ưu tư?. Tôi chợt nhớ  đến Nguyễn Văn Ba, người bạn đã đồng cam cộng khổ trong suốt mấy năm trời. Hắn có thể giúp tôi một đôi điều gì đó.  Tôi lần về khu Máy Nước, khu có những con đường bất chợt nảy sinh, những ngôi nhà ổ chuột vách được che chắn bởi thùng carton, mái che bằng loại tole siêu mỏng, khu có cái hồ rộng luôn ứ nước và nhà hắn nằm cạnh bên mép hồ.

 

  Căn nhà cửa đóng im ỉm, không một bóng người lai vãng. Tôi ghé mắt nhìn qua khe cửa, bên trong vẫn tềnh toành như độ nào, vật dụng trong nhà chẳng thêm mà cũng không bớt. Tôi ngồi thừ ở góc nhà, lòng suy nghĩ mênh mang.

 

  Không gặp được Nguyễn Văn Ba, tôi thất thểu bước ra đường. Thành phố bây giờ đang là buổi chiều, cái nắng vẫn còn gay gắt. Tôi bước theo cái bóng của mình. Nó liêu xiêu, vật vã, ngã dài trên con đường nhựa.

 

  “Hoạ vô đơn chí” tâm hồn bé nhỏ của tôi tràn ngập nỗi buồn. Sự việc này biết ngỏ cùng ai, thời gian còn quá ngắn để chứng minh bằng thật bằng giả với thầy thư ký trường Võ Tánh. Nếu không chứng minh được, sự việc sẽ ra sao? Nghĩ đến đó, lòng tôi chùng xuống thật sâu, mắt cay sè!

 

              Thầy Đỗ Đức Trí có thể giúp gì cho tôi. Chợt nhớ đến thầy, lòng tôi lóe lên tia hy vọng. Sao không đến với thầy để tìm chỗ dựa, thầy là người am hiểu chuyện thế sự, có nhiều quan hệ bạn bè, một nhân vật nào đó ở ty giáo dục Khánh Hòa.

 

  Thầy Trí thuê một căn phòng nhỏ ở cuối đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, căn phòng bày biện đơn sơ cho một viên chức khiêm tốn. Một cái giường, tủ đựng sách và bộ bàn ghế tiếp khách. Bà chủ cho thuê phòng trọ bước ra sân mở cửa cho tôi vào. Đối với tôi, bà quá quen mặt  nên không buồn hỏi tôi là ai và từ đâu tới. Tôi rất mừng là thầy có nhà và dường như thầy đi đâu về với dáng bơ phờ, mệt mỏi.

 

  -Em chào thầy.

  - À ừ..em ngồi chơi.  Thầy chỉ cái ghế dựa kê ở sát tường. Em đến thăm thầy hay có việc chi?

 

  Tôi ầm ừ chưa dám bày tỏ nỗi ưu tư , lo lắng của mình. Tôi chờ đợi một thời điểm thích hợp để bày tỏ, đánh động lòng thương cảm, khơi gợi lòng nhiệt tình nghĩa tình thầy trò.  Đột nhiên thầy bảo tôi.

 

  -Thầy vừa nhận công lệnh trở về đơn vị cũ. Có lẽ thầy sẽ thôi dạy một thời gian khá dài đấy.

 

 - Thầy đi lính?

 - Chính phủ vừa có quyết định trưng tập những sỹ quan dự bị về đơn vị cũ. Cuộc chiến đang đến hồi quyết liệt đây. Người Mỹ đã rút hết quân đội của họ về nước, chỉ còn lại ta đánh với ta, cảnh nồi da xáo thịt.

 - Thầy cũng có thể từ chối nhiệm vụ, nói nôm na là trốn lính? Tôi ấm ớ từ trốn lính như ngầm nhắc với thầy một lối thoát nào đó.

  - Không. Thầy là một sỹ quan quân đội, một công dân có trách nhiệm với đất nước, với chế độ mình đang sống. Thầy đã thấy sự rệu rã của quân đội nhưng thầy chấp nhận trước cái chết và không oán trách số phận!.

   Tôi nuốt nước bọt, cố nén nỗi ấm ức trong lòng. Muốn tranh luận với thầy về mối ưu tư của nhiều người, nhưng đành bất lực là không đủ lý để luận với thầy.

  - Em uống nước và có rảnh mua cho thầy ổ bánh mỳ.

 

  Tôi thường giúp thầy những công việc như vậy. Có buổi thầy trò ngồi gặm bánh mỳ cho một bữa tối đơn giản. Hôm đó, tôi không thể nhai nổi ổ bánh, mọi suy nghĩ giờ như mớ bòng bong. Thố lộ chuyện của mình lúc này là điều không thể, là  tiểu sự.  Đăng lính của thầy lúc này mới là chuyện đại sự.  Tôi cứ mãi ấp a ấp úng về chuyện đi lính của thầy. Ở hai con người khác biệt. Chú Sáu tôi thì phải trốn chui trốn nhủi, bằng mọi cách để khỏi đi lính,còn thầy Trí, một giáo sư đệ nhị cấp, khi nghe tiếng gọi là sẵn sàng lên đường mà không phân vân hay luyến tiếc điều chi!.

 

  - Thầy xin hoãn dịch vì một lý do nào đó, chằng hạn như gia đình đông con!.

  - Em có ý gì vậy? Sao cứ mãi vương vấn về chuyện đi lính hay không.

  - Em nghĩ chế độ này có gì hay ho mà thầy phải xã thân phụng sự?

 

 - Hay hay không sau này hậu thế suy xét. Mình đang sống với chính thể nào thì phải phụng sự cho chính thể đó, đó là lương tâm, là trách nhiệm của một công dân lương thiện. Thôi ta không bàn về vấn đề này nữa. Ngày mai thầy mời các nhóm bạn ở ban c cùng đến quán bar số 1, thầy chiêu đãi.

 

  Nỗi ám ảnh sâu  xa gây nhức buốt trong tim của thằng bé mười tuổi, bao hình ảnh hãi hùng ở xóm Gò Nhãn quê tôi một thời không xa lắm. Một gã trung úy điển trai trong bộ quân phục thẳng nép, đôi giày đinh bóng lộn, chiếc mũ lưỡi trai gắn hai bông mai kiêu hãnh ở vùng cát quê tôi. Một thời đã làm mưa làm gió ở làng tôi. Thầy  tôi  không phải là người như vậy!.

 

 

NGUYỄN THANH SƠN

( trích tập truyện  thương nhớ làng ơi)

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
10 Tháng Chín 202612:47 SA(Xem: 203)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
10 Tháng Chín 202612:22 SA(Xem: 137)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2311)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 1502)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 1371)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2374)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 1880)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2524)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
07 Tháng Tám 202610:29 CH(Xem: 1770)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 2278)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 1768)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11681)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18260)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17307)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2372)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2522)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 3797)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 3824)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
(Xem: 201)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
(Xem: 1878)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 3527)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 3161)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2308)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 2276)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 2445)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 2625)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
10 Tháng Chín 2026(Xem: 135)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1500)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1369)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 2545)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 4372)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14840)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30986)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 37638)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12687)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13994)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 5031)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 7493)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 6636)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 7036)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 7970)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 9719)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 8944)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11842)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.