- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

THƯƠNG MÃI NỤ QUỲNH HƯƠNG

01 Tháng Tám 20227:00 CH(Xem: 36255)


 

 hoa quynh 1

 

 

 

Hoàng Thị Bích Hà

THƯƠNG MÃI NỤ QUỲNH HƯƠNG

 

“Những cái nắm tay thời thanh xuân chưa đủ để thành duyên nợ

Sông cứ lở bồi làm cho người sợ những chuyến sang sông”.

(Thơ: Trần Đình Thọ)

 

 

Hai chị em Quỳnh Trâm và Bội Trâm hôm nay được mẹ dạy làm món bánh trái cây bằng bột đậu xanh để đón anh gia sư của hai nàng. Những chiếc bánh xinh xinh đủ màu sắc của trái khế vàng, trái ớt đỏ, trái mảng cầu…được bày sẵn trên khay thật hấp dẫn.

Quỳnh Trâm năm nay 13 tuổi, Bội Trâm 10 tuổi. Hai chị em rất dễ thương, nét mặt thanh tú, thông minh giống nhau đến mức như búp bê chị và búp bê em. Hai nàng sinh trưởng trong một gia đình thương gia có cửa hiệu buôn bán ở đường Phan Bội Châu, Huế. Dân gian thường gọi là đường Ngã Giữa (Từ1976 đường đổi tên Phan Đăng Lưu). Cửa hiệu lúc nào cũng khách khứa vào ra tấp nập. Để đáp ứng nhu cầu công việc làm ăn ngày càng phát đạt, ba mẹ mướn thêm người làm. Còn hai chị em chỉ có mỗi chuyện học hành và học nữ công gia chánh ở trên tầng lầu. Trước ban công bác Tâm (ba của hai nàng) đặt một chậu cây quỳnh. Đó là loại hoa mà qua sách vở hai chị em rất thích. Ba dặn hai chị em rằng:

-  Cây quỳnh thường trồng ở chỗ có nhiều nắng chiếu vào nhưng tránh ánh nắng trực tiếp. Vì vậy, luôn để đất của chậu quỳnh khô mặt, rồi mới tưới nước. Không nên tưới thường xuyên. Vì cây quỳnh chịu khô hạn. Tưới nhiều nước, rễ sẽ bị úng, cây trồng mãi không thấy có lộc non và không có hoa.

Lúc rảnh rỗi hai chị em thường ra đứng ban công ngắm cây quỳnh và chờ đợi mùa hoa nở sớm. 

Bắt đầu từ hôm nay, bác Tâm mời một anh sinh viên về dạy kèm cho hai chị em. Anh tên là Dương Duy Phước, người ở Nguyệt Sương- Một xã vùng ven thành phố.  Anh là người thông minh, hiếu học và rất chịu thương, chịu khó. Anh hiểu gia cảnh khó khăn của mình. Ba của anh mất sớm, nhà chỉ có hai mẹ con nên sớm tự lập từ lúc bắt đầu bước vào lớp Đệ tam Trường Quốc Học. Ngoài giờ học, anh đi làm thêm như làm gia sư cho con cái các gia đình có điều kiện trong thành phố. Năm nay được người bạn giới thiệu anh với gia đình Bác Tâm.

Buổi hẹn gặp đầu Bác Tâm chịu anh liền vì thấy dung mạo khôi ngô, dáng vẻ học thức, ăn nói lễ phép, lịch thiệp. Bác Tâm rất lấy làm hài lòng khi gửi hai cô con gái cưng cho anh kèm cặp để bước trên con đường học vấn mà gia đình rất kỳ vọng.

Quỳnh Trâm năm nay học lớp đệ lục của trung học đệ nhất cấp. Bội Trâm học lớp nhì cấp tiểu học.

Hôm nay là buổi học đầu tiên, hai chị em tiếp thu rất tốt. Làm anh gia sư cũng vui trong lòng. Hai bé ngoan, chăm học và dễ thương. Duy Phước thấy lòng ấm áp khi được gia đình Bác Tâm tin cậy và đặc biệt hai cô trò nhỏ quý mến.

Cứ mỗi tuần, ngày ba buổi, sau bữa cơm tối là anh Duy Phước tới căn phòng học trên lầu nhà bác Tâm để hướng dẫn hai chị em học. Duy Phước dạy đủ các môn trong chương trình học cho hai em. Quỳnh Trâm và Bội Trâm thông minh sáng dạ nên tiếp thu rất nhanh. Nhiều bữa làm xong bài tập sớm 15 phút  thì anh gia sư lại kể chuyện văn chương, khi thì một truyện ngắn của một nhà văn tên tuổi, khi thì giảng giải những điều các em thắc mắc về hiện tượng tự nhiên hay cuộc sống.  Hôm nay, làm bài xong sớm đạt kết quả tốt, thầy giáo trẻ và hai cô trò nhỏ ra ban công chơi thư giản một chút. Cây hoa quỳnh đã bắt đầu tỏa ra những nhánh mới, hứa hẹn mùa hoa sẽ tới. Bội Trâm nói:

- Em chờ dài cả cổ mà chưa thấy Quỳnh trổ bông?

Anh Duy Phước ân cần giảng giải:

-Trong thiên nhiên, có nhiều loài cây phải rất lâu mới ra hoa một lần như hoa Quỳnh, khi hoa nở dân gian vẫn quan niệm hoa Quỳnh mang lại điềm lành cho gia chủ (nhưng chỉ nở về đêm).

Quỳnh Trâm mỉm cười rồi thỏ thẻ:

-      Tên em có chữ Quỳnh chắc là ba mẹ yêu hoa quỳnh lắm mới đặt tên con gái đầu có hơi hướng của Quỳnh. Vậy anh có thể cho em biết thêm về hoa Quỳnh?

Hoa quỳnh (tên chính xác là Chi Quỳnh) –thuộc họ xương rồng, có nguồn gốc từ Trung Mỹ.

Đó là loài hoa chỉ nở về đêm, hương nhẹ nhàng thanh tao và quyến rũ, những bông hoa rất đẹp với màu trắng tinh khôi nhưng chỉ nở được hai tiếng là hoa sẽ tàn và đó là phút giây đẹp nhất của nó.

Bội Trâm hỏi:

- Vậy Quỳnh nở bông vào mùa nào trong năm? Sao em nghe nói nó không chịu nở vào ban ngày. Đợi mọi người ngủ rồi mới nở là sao?

Anh lại ôn tồn nói tiếp:

-Quỳnh thường nở vào cuối mùa hè và đầu mùa thu. Hoa quỳnh nở vào ban đêm trong khoảng thời gian từ 8 – 9 giờ tối. Bởi vậy, nhiều người có thú vui tao nhã ngắm hoa quỳnh nở.

Bội Trâm nhún vai tiếc rẻ: Hoa đẹp và hương thơm vậy mà chỉ nở về đêm.

Anh Duy Phước nói:

-Nguyên nhân hoa quỳnh nở về đêm được các nhà sinh vật học lý giải rằng nhằm để tránh cái ánh nắng ban ngày của mặt trời. Và vì sao hoa quỳnh chỉ tồn tại từ 3 – 4 tiếng là do hoa quỳnh cần giảm sự bốc hơi nước. Do vậy, hoa quỳnh nở rồi lại tàn ngay, đây cũng là đặc tính để hoa này có thể thích nghi được với cuộc sống. Nó khiêm nhường nở về đêm và chỉ dành cho những tâm hồn thanh tao biết đợi chờ. Hoa Quỳnh còn có ý nghĩa là loài hoa tượng trưng cho một “vẻ đẹp thủy chung”, như một tình yêu chung thủy, dâng hiến cho người tình trăm năm với một tâm hồn thanh tao và chỉ nở một lần cho tình yêu rồi phai tàn.

Cả ba im lặng hồi lâu chìm vào suy tưởng.

Gia sư họ Dương tiếp: 

-Trong những đêm trăng thanh, bên khung cửa sổ, cầm một tách trà ngắm nhìn những cánh hoa trắng tinh khiết, quyến rũ đua nhau nở trong đêm, tỏa hương thơm dìu dịu, là một thú vui tao nhã. Các cụ ngày xưa canh thời gian hoa quỳnh nở, mời bạn bè đến ngắm hoa nở, đối ẩm bên tách trà, luận sự đời cũng là một một thú vui nhàn nhã, cũng là một trong những cách hưởng thụ cuộc sống. Nghe anh giải thích, hai chị em càng mong chờ quỳnh nở hoa!

Quỳnh Trâm dặn:

 - Khi hoa nở, em sẽ báo anh qua ngắm hoa cùng tụi em!

Duy Phước đáp:

-Anh nhớ rồi và rất vui vì điều đó!

Phải nói anh giỏi đều các môn và dạy rất có tâm. Anh truyền đạt kiến thức dễ hiểu. Vì vậy, từ nhỏ anh đã có nguyện vọng thi vào sư phạm. Từ ngày có anh Duy Phước kèm cặp hai chị em học hành tiến bộ nhanh lắm. Hai chị em quý “anh thầy trẻ”của mình và cũng rất hứng thú trong học tập. Đặc biệt là Quỳnh Trâm tỏ ra rất có cảm tình với thầy giáo trẻ. Thời gian thấm thoắt mới đó mà năm nay Quỳnh Trâm đã đậu vào lớp đệ tam của trường Trung học Nữ Thành nội, còn Bội Trâm vào lớp đệ lục. Hai chị em cũng muốn sau này sẽ làm cô giáo. 

 

Hai chị em, mỗi người mỗi vẻ nhưng đều toát lên vẻ thanh tú. Bội Trâm đôi mắt rất có hồn, da trắng, mái tóc vàng mơ mỏng như tơ. Quỳnh Trâm 16 tuổi đã ra dáng thiếu nữ rồi! Đôi mắt đen láy, hàng mi cong dài. Đôi má ửng hồng trên khuôn mặt trái xoan. Mái tóc thề đen nhánh xỏa bờ vai thơm ngát hương bồ kết. Mỗi lần đi học về trong tà áo dài, bước đi nhẹ nhàng khoan thai. Cô làm việc gì cũng giỏi từ nấu các món, làm bánh hay đan lát thêu thùa rất khéo tay. Những ngày không có giờ dạy, nàng cảm thấy nhà thiếu vắng một người, nàng trộm nghĩ: “chẳng lẽ con tim bắt đầu xao xuyến rồi sao! Nhưng không được, phải học trước đã! Thương ai, để trong lòng còn chuyện học vẫn là ưu tiên một.”

 Còn Duy Phước không hiểu sao ngồi cạnh Quỳnh Trâm thì có cảm giác bồi hồi khó tả, nên anh thường ý tứ, bổn phận người gia sư và ngồi nghiêm túc, phía đối diện để chỉ vẻ cho hai em học bài một cách cặn kẽ, dễ hiểu nhất có thể.

Thấm thoắt thời gian trôi qua, anh Duy phước đã là một chàng thanh niên rắn rỏi cương nghị mà lịch thiệp, còn hai cô tiểu thư cũng mặn mà duyên dáng lắm. Mỗi lần làm bài tập, Quỳnh Trâm và Duy Phước vô tình chạm tay nhau, rồi ánh nhìn trìu mến của cả hai dành cho nhau báo hiệu cho một cuộc tình mới chớm. Mỗi lần Duy Phước về dưới quê với mẹ mấy ngày, Quỳnh Trâm cảm thấy thật trống trãi. Cô tự hỏi lòng: “hay là mình đã yêu?”. Vì mỗi lần bắt gặp ánh mắt của trìu mến của Duy Phước, nàng đem lòng thương tự bao giờ. Nhưng con nhà gia giáo, Quỳnh Trâm luôn e dè đúng mực. Vẫn cung cách lễ độ, chăm lo học hành dù “Tình trong như đã, mặt ngoài còn e”. Duy Phước rất quý hai chị em và đặc biệt trong anh hình bóng Quỳnh Trâm mỗi ngày một đậm nét hơn. Anh biết là con tim mình cũng đập những nhịp khác thường nhưng nghĩ rằng mình sẽ phải đi học xa, thêm gia cảnh mình sẽ không xứng với nàng, phần vì mình có người thân đi hoạt động Việt Minh mà ba mẹ nàng là dân kinh doanh (nói theo cách hồi đó là nhà tư sản) thì liệu có dung hòa. Dù nàng và gia đình nàng không nghĩ vậy!

Mấy hôm nữa là chàng phải chia tay với hai bé và gia đình Bác Tâm để vào nam học sư phạm.

Hôm nay, Bác Tâm bảo:

- Hết giờ dạy vào thư phòng gặp bác có chút chuyện.

Duy Phước nghe hồi hộp quá! Không biết chuyện vui hay buồn?

Duy Phước bước vào phòng gặp bác Tâm đang ngồi bên khay trà mới pha sẵn, chỉ chiếc ghế đối diện cháu ngồi xuống đây, uống tách trà với bác.

Bác nhấp ngụm trà rồi thong thả bảo:

-      Con dạy các em đã ba năm qua, các em tiến bộ lắm! Bác rất tiếc khi phải xa con. Vì chuyện học hành của con và tương lai còn dài phía trước. Nhưng con hãy xem nhà bác như nhà con, sau này mỗi lần về Huế con cứ tới chơi với gia đình. Bác biết con đã nhiệt tâm dạy dỗ các em. Hai bác rất quý cháu! Bác có lời thế này:

-       Con có muốn làm rể nhà bác? Thì một trong hai đứa, Quỳnh Trâm, Bội Trâm, đợi khi hai đứa đậu vào sư phạm, đi dạy. Lúc đó con thích đứa nào bác sẽ gả cho con!

 

Duy Phước cảm động quá, rưng rưng không nói nên lời. Anh ra chiều suy nghĩ rồi cung kính trả lời:

 

-      Con thưa bác, con rất vui khi được bác thương, trước hết con xin cảm ơn tấm chân tình của bác dành cho con, chuyện trăm năm là chuyện hệ trọng bác cho con thêm thời gian. Con phải cố gắng học hành rồi có công việc làm ổn định .Vì con nghĩ mình bây chừ chưa xứng với em Quỳnh Trâm.

 

-      Thế rồi, chàng từ biệt hai em, nắm tay Quỳnh Trâm và dặn dò chuyện học hành kỹ lưỡng. Anh từ biệt gia đình, khăn gói vào nam học sư phạm. Những ngày sống xa Huế, Duy Phước lòng đầy nhung nhớ, nhớ lời hẹn ngắm nụ quỳnh sẽ nở vào đầu thu năm tới. Phước biết mình đã yêu nhưng lòng đầy mặc cảm hoàn cảnh nghèo khó, mẹ góa con côi. Và một rào cản gia đình bác Tâm lại là tư sản thành thị không thể môn đăng hộ đối.

Sau biến cố 75, anh về dạy rồi làm hiệu một trường trong thành phố. Còn chị Quỳnh Trâm vào làm trong ban phụ trách đời sống của trường sư phạm.

 

Khi tôi nhập học tại trường, có dịp gặp chị - giai nhân một thời của Huế, với nét mặn mà duyên dáng, nét đi dáng đứng chuẩn mực. Mỗi lần tới gặp chị để nhận các nhu yếu phẩm dành cho sinh viên ngoại trú, tôi rất ấn tượng với chị- một vẻ đẹp đài các, phúc hậu, điềm đạm chỉnh chu. Một vẻ đẹp phải nói là của các cô gái Huế xưa mà tôi lấy làm ngưỡng mộ. Tôi rất thích phong cách làm việc của chị lúc nào cũng nhiệt tình, ân cần chu đáo.

 

Thế rồi tôi ra trường, xa chị từ đó. Tôi được điều động đi dạy ở một huyện miền núi cách Huế 100km. Nói sao hết những gian khổ của cuộc sống và công việc nơi rừng heo hút gió, hai bên đường thì lau lách bao phủ. Người dân tộc thiểu số chiếm phần lớn. Đường sá đi lại khó khăn. Ăn uống thiếu thốn. Ra đi, được phát 2 lọ thuốc chống sốt rét và một cái chăn bông, chừng đó thôi là đã hiểu phải đối mặt với những gì. Nên khi có quyết định cho về Huế học tiếp là mừng lắm!

 

Sau hai năm giảng dạy nơi đây, tôi được đi học cbql thời gian 1 năm tại TP Huế. Được về nhà, là vui rồi! Mừng khấp khởi khi được về xuôi chứ cũng chẳng mơ mộng gì làm quản lý. Mặt non choẹt nói ai nghe! Chủ nhiệm mấy đứa học trò thôi mà nhiều khi mệt bở hơi tai với tụi nó rồi (nhất quỷ nhì ma, thứ ba học trò mà). Mình cũng từng trải qua hạng thứ 3 này rồi nên không lạ gì! Về nhà mình còn sà vào lòng mẹ nhỏng nhẽo thì quản lý, quản liếc gì. Chỉ là về đi học để gần nhà ăn cơm mẹ nấu thôi. Nghĩ đến đó mừng khấp khởi rồi!

 

Khi về nhập học tại trường cbql, gặp lại chị Quỳnh Trâm, chị đã đổi về công tác tại đây, chị em gặp nhau như người thân lâu ngày gặp lại.  Bỗng tôi có quyết định điều động đột xuất tới dạy trường do anh Dương Duy Phước làm hiệu trưởng. Thế là tôi kể với chị là bữa nay mới đổi về dạy một trường gần trung tâm thành phố, sếp của em là anh Dương Duy Phước. Nghe nhắc đến tên anh, ánh mắt chị vui hẳn lên. Thả ánh nhìn vào cõi xa xăm như đưa chị về lại những năm tháng thuở thiếu thời. Chị kể cho tôi nghe mối tình đầu của chị là tình yêu chị dành cho anh Duy Phước- thầy dạy kèm của chị. Chị nói do duyên nợ không thành chứ chị thương anh Phước lắm! Mà chị cũng tin rằng anh cũng thương chị. Nhưng thôi, giờ mỗi người có một ngã rẽ khác nhau, chị giữ lại cho riêng mình những kỷ niệm êm đềm, trong sáng với anh! Thế là đủ, lòng thầm mong anh luôn hạnh phúc! Tôi có cảm giác là chị càng thương quý tôi hơn sau khi biết tôi là lính lác của anh Duy Phước. Chứng tỏ tình cảm chị dành cho anh rất sâu đậm. Nếu tôi là em gái của anh Phước thì chị sẽ thương tôi biết chừng nào! Hai chị em thường ngồi bên nhau những lúc rảnh rỗi tâm sự chuyện đời, chuyện người không biết bao nhiêu là đủ. Tôi cũng kể với sếp tôi về những câu chuyện tâm tình của chị em tôi, anh nhìn xa xăm, như ngược về miền quá khứ. Tôi có cảm giác họ không thể quên nhau, nhưng ai cũng có bổn phận của mình, phải sống cho cả những cuộc đời khác nữa. Nên tất cả đều gửi trọn vào ký ức ngọt ngào một thuở, lòng thương mãi nụ hương quỳnh hương chưa kịp nở.

 

…Bẵng đi một thời gian, do hoàn cảnh riêng, tôi trôi dạt vào Nam và từ bấy đến giờ không gặp lại chị. Mỗi lần về Huế, tôi cũng dò hỏi nhưng nay chị không làm ở trường cũ nữa, không biết giờ chị ở đâu? Nhưng rõ ràng chị cũng có một chỗ đứng trong lòng tôi đầy mến mộ. Tôi quý cả hai người nên lòng cũng chạnh thương những nụ quỳnh chưa nở.

 

 Với tôi, vẫn mong đầu thu tới, trong một đêm trăng thanh sẽ có dịp ngắm hoa quỳnh bên tách trà thơm hàn huyên cùng những người tôi trân quý!

 

 

Sài gòn ngày, 7/7/2022

Hoàng Thị Bích Hà

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 900)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 693)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1463)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1552)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 1316)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 1206)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3356)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 2131)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3155)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2644)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9932)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16771)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15761)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16192)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1551)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3356)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3155)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 3106)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 1316)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5278)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 7303)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6652)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 900)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 692)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1462)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2643)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2415)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2256)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2480)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2478)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 1206)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13615)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29720)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35742)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10847)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12694)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2131)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 3155)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3324)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3605)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 4152)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7844)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7159)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9996)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.