- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

KÝ SỰ MIỀN ĐÔNG BẮC (3)

28 Tháng Mười Một 20218:07 CH(Xem: 32246)
Đoàn QV hát vang trên đỉnh núi Vị Xuyên
Đoàn Quán Văn hát vang trên đỉnh núi Vị Xuyên- ảnh tác giả

 

 

Ban Mai     

KÝ SỰ MIỀN ĐÔNG BẮC (3)     

 

 

6. Âm khí

Đài hương 468
Đài hương 468 huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang. Là một trong những điểm ác liệt nhất của mặt trận Vị Xuyên
trong chiến tranh biên giới phía Bắc.- ảnh Petro Times



Bạn có bao giờ đứng trên đỉnh núi lộng gió, xung quanh sương mù bao phủ, cùng bạn bè nắm tay nhau hát vang giữa bạt ngàn rừng núi?

Tôi may mắn đã nhiều lần trãi nghiệm như vậy suốt con đường cái quan từ Nam ra Bắc, từ miền xuôi lên đến miền ngược.

Nhưng có lẽ, chưa bao giờ chúng tôi cảm xúc như hôm nay, khi đứng trên điểm cao Vị Xuyên Hà Giang, phóng tầm mắt từ trên cao nhìn xung quanh là những cung đường uốn lượn, với núi rừng trùng điệp, ca vang bài “Nối vòng tay lớn” của Trịnh Công Sơn.

…Từ Bắc vô Nam nối liền nắm tay
Ta đi từ đồng hoang vu vượt hết núi đồi
Vượt thác cheo leo, tay ta vượt đèo
Từ quê nghèo lên phố lớn, nắm tay nối liền

Biển xanh sông gấm nối liền một vòng tử sinh

Biển xanh sông gấm nối liền một vòng tử sinh. Vòng Tử sinh, những từ này không đâu chính xác hơn nơi tôi đang đứng. Dưới chân tôi nơi đây đã từng thấm đẫm máu bao người.

Trung Quốc sau cuộc chiến tranh biên giới 1979 thất bại, một lần nữa Đặng Tiểu Bình quyết dạy cho Viêt Nam một bài học, chiến tranh biên giới lần thứ 2 xảy ra từ 1984 -1989. Lần này Trung Quốc không đánh từ Lạng Sơn, Cao Bằng mà bất ngờ tràn qua các dãy núi đánh úp vào biên giới Hà Giang. Sáng ngày 28/4/1984 quân Trung Quốc xua quân ồ ạt, kiểu đánh lấy thịt đè người, lính Việt Nam   quyết chiến bảo vệ vành đai biên giới, nên rút lên các đỉnh núi ở Vị Xuyên  Hà Giang. Cuộc chiến khốc liệt này đã khiến 600 người lính Việt Nam tử trận chỉ trong 1 ngày 12/7/1984 thuộc sư đoàn 356, hầu hết là những chàng trai còn rất trẻ 17,18 lần đầu nhập ngũ, đang học phổ thông xung phong ra chiến trường. Các cao điểm này một thời được nhắc đến như là “cối xay thịt” hay còn gọi “đồi thịt băm” để thấy rõ sự tàn khốc của chiến tranh. Linh hồn những người lính trẻ có lẽ đã siêu thoát, nhưng nỗi đau của những người mẹ vẫn bàng hoàng cho đến ngày nay.

Người lính Trần Trung Thực nhập ngũ năm 1980 sau khi vừa học xong cấp 3, thuộc Trung đoàn 149, Sư đoàn 356 và hy sinh năm 1985. Đến nay gia đình vẫn chưa tìm được hài cốt liệt sỹ Thực. Trong thư gửi mẹ anh viết : "Mẹ yêu quý của con, con tạm biệt mẹ. Các em con còn bé nhỏ quá không làm gì được đỡ đần cho mẹ. Các em đừng khóc, đừng quấy mẹ nữa, anh về sẽ mua kẹo cho các em". Nó viết thư về, các em nó cứ khóc nức nở. Đến bây giờ người mẹ ấy vẫn không tin, vẫn mong ngóng chờ con. (1)

Tôi đứng trên đỉnh Vị Xuyên lộng gió, xung quanh mây là mây, với những dãi sương mù bàng bạc trên các ngọn núi thấy khí lạnh đầy người, tôi nghiệm ra rằng nơi đâu có nhiều âm khí, nơi đó sương mù dằng dặc. Nhớ lần đứng trên đỉnh Măng Đen Kon Tum dưới chân tượng Đức Mẹ Sầu Bi xung quanh là rừng thông mờ sương, nơi ngày xưa là nơi tập trung xác lính Cộng Hòa để đức cha rửa tội, tôi cũng có cảm giác như vậy. Và không thể không nhớ đến buổi sáng trên đỉnh núi Sơn Trà Đà Nẵng, sân bay dã chiến trên đỉnh Sơn Trà cũng là nơi chở xác lính Việt Nam Cộng Hòa tập trung để trực thăng bốc đi. Buổi sáng đó, chúng tôi không thấy đường đi, xung quanh âm khí dày đặc sương giăng mờ mịt, cách nhau một cánh tay là không thấy nhau rồi.

Trên đất nước này, đi đến nơi đâu cùng thấy “Đất Mẹ” đầy thương tích. Từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau, đôi khi tôi nghĩ khi sinh ra là người Việt Nam đã là định mệnh rồi.

Trịnh Công Sơn đã từng viết:

Mẹ ngồi ru con

đong đưa võng buồn

đong đưa phận mình

Mẹ ngồi ru con tiếng hát lênh đênh

Tiếng khóc của mẹ  Việt Nam sẽ còn lênh đênh đến bao giờ?

7. Cao Bằng

thanhpho CAO BANG
Thành phố Cao Bằng- ảnh Internet



Từ phố cổ Đồng Văn Hà Giang qua quốc lộ 4C, chúng tôi đến Cao Bằng một thành phố nằm giáp ranh biên giới Quảng Tây (Trung Quốc). Đường xa hun hút, với đoạn đường đèo 198km mà chúng tôi phải vật vã đến thành phố lúc chiều buông. Khách sạn Hương Sen nằm sau con phố đi bộ, trước mặt là dòng sông chảy lững lờ, tôi không biết sông Bằng, hay sông Hiến, tôi chỉ thấy dòng nước đục dưới ánh chiều tà.

Cao Bằng là thành phố miền Đông Bắc sầm uất, văn minh hơn những nơi khác. Tôi ngạc nhiên khi dạo phố đêm nơi này, nó không giống như những thành phố du lịch mà tôi đã từng đến. Nơi đây họ dành nguyên con đường đi bộ để tổ chức các trò chơi dân gian cho người dân giao lưu cùng nhau vào tối cuối tuần thứ 6 và thứ 7. Bạn có thể nhìn thấy trò chơi trẻ con ngày nhỏ bạn đã từng chơi như nhảy lò cò, chơi  ô quan, chơi đánh cờ cá ngựa, chơi đánh nẻ, chơi nhảy dây, chơi kéo co, đi cà kheo, chơi xếp ô chữ… Một góc đầu đường còn có loại hình giải trí mới cho các em  học sinh cấp 2, cấp 3 với những điệu nhảy hip hop sinh động. Khuya hơn một chút sẽ mở nhạc khiêu vũ cho lứa tuổi thanh niên và trung niên. Bạn dễ dàng mời một bạn nhảy không quen trong điệu chachacha vui nhộn.

Thành phố về đêm mát lạnh, mọi người dân đều túa ra đường.

Tôi cũng sà vào chơi nẻ với mấy cô bé, lâu rồi cầm hòn đá thảy lên để bắt những thanh đũa tay tôi lóng ngóng, tụi nhỏ nhìn tôi cười giòn, cô gái người nước ngoài cũng châù rìa xin chơi ké, bên cạnh bà mẹ trẻ cùng cô con gái đang chơi ô quan, hai bé trai đánh cờ cá ngựa với một ông già, hàng đàn trẻ nít chơi nhảy dây, chơi kéo co, và tất cả được tổ chức trật tự có kỷ luật. Có lẽ đây là phố đi bộ nơi vui chơi cộng đồng lành mạnh nhất, hiệu quả nhất mà tôi từng thấy. Tôi hỏi một người mẹ trẻ, các trò chơi trên phố đi bộ này tổ chức bao lâu rồi. Cô nói mới làm từ đầu tháng 10 năm nay thôi chị, được 2 tháng rồi, tụi trẻ con thích lắm, cứ cuối tuần là mọi người dẫn con ra ngoài này chơi.

Tôi ngồi trên vỉa hè ăn chén chè trôi nước còn bốc khói, xuýt xoa vì gió lạnh, ngắm những người dân đang vui chơi mà ao ước giá như thành phố nào cũng có được một người quản lý văn hóa có tầm nhìn nhân văn như vậy thì hay biết bao. Thay gì dành phố đi bộ chỉ để kinh doanh buôn bán đặc sản, và những thức ăn vặt, người ta đã chú ý hơn đến đời sống tinh thần, tạo một sân chơi lành mạnh vào cuối tuần.

Buổi sáng Cao Bằng nắng nhẹ nhưng ra ngoài tôi phải choàng một khăn len mỏng, sáng thứ 7 người ta dậy muộn vì cuối tuần ngủ nướng, đường phố vẫn còn thưa thớt. Nghe cô chủ khách sạn giới thiệu món bánh cuốn đặc sản vùng núi chúng tôi tìm đến. Bánh cuốn ở nơi này giống như bánh ướt ở miền Nam, nhưng bánh cuốn Cao Bằng đặc biệt nhất ở nước dùng. Không như người miền xuôi, chấm bánh vào nước mắm chua ngọt, người Cao Bằng nhúng bánh cuốn trong thứ nước dùng ninh từ xương. Cũng bởi lẽ đó nên nhiều người cũng gọi bánh cuốn Cao Bằng là bánh cuốn canh, để phân biệt với loại bánh cuốn chấm nước mắm của người miền xuôi. Nước canh ninh từ xương heo từ tối hôm trước, nên khi chan ra bát là thấy rõ hương tủy xương ngọt lịm. Mỗi bát nước dùng lại được thêm vào vài thìa thịt băm nhuyễn, rắc chút hành hoa. Có nơi tráng bánh cuốn  cho thêm lòng đỏ trứng gà, khi ăn còn thêm một cây chả và măng chua làm kim chi nữa. Món này lạ, ăn để biết nhưng có lẽ không hợp lắm với khẩu vị tôi.

8. Thác Bản Giốc

du-lich-minh-anh-cao-bang-thac-ban-gioc-3
  • Thác BẢN GIỐC được xem là một trong 6 thác nước đẹp nhất thế giới. Ảnh: Cuma Cevik Photography



Anh Nguyên Minh chủ biên tạp chí Quán Văn, sau một tuần ngồi xe vượt đèo đã thấm mệt, nhìn anh yếu sức chúng tôi lo lắng, khuyên anh hôm sau ở lại thành phố nghỉ ngơi đừng đi Bản Giốc. Xe anh gồm vợ chồng họa sĩ Lê Ký Thương, người được cả đoàn lo nhất vì họa sĩ Cóc đã một lần cấp cứu trong đợt đi Miền Tây Nam Bộ nhưng kỳ này anh lại ung dung tự tại, chị Kim Cúc đột quỵ nằm viện một tháng mới ra viện cũng hăng hái đi, vì vậy chị Mỹ Lệ nữ tướng Quán Văn, vợ chồng anh Sông Ba, anh Đặng Châu Long biệt phái đi xe này để lo chu toàn cho các yếu nhân.

Nhưng sáng nay, tôi ngạc nhiên khi thấy anh Nguyên Minh tươi tỉnh ngồi ăn sáng  từ sớm, anh không chịu ở lại nghỉ ngơi, anh nói chuyến đi này thác Bản Giốc là địa điểm quan trọng nhất anh không thể bỏ qua, không gì riêng anh, mọi người cùng đều suy nghĩ như vậy.

Anh Đặng Châu Long chưa đến đã buồn và lòng thì nao nao, anh viết: “buồn và nao nao nghĩ đến ngày mai, mai đã sang Cao Bằng ngùi thăm Bản Giốc, Trùng Khánh vốn xa lạ ngày nào bỗng trở nên thân thiết bởi bi tráng sự đời.”


Thác Bản Giốc thuộc địa phận xã Đàm Thủy, huyện Trùng Khánh sát biên giới Trung Hoa là một thác nước cao hùng vĩ và đẹp nhất của Việt Nam gồm có hai phần, phần thác phụ nằm hoàn toàn trên lãnh thổ Việt Nam, phần thác chính nằm giữa biên giới Việt – Trung, được phân chia ranh giới bởi dòng sông Quây Sơn chảy phía dưới; Phần thác chính rộng khoảng 100 mét, cao 70 mét và sâu 60 mét, nhìn từ xa thác đổ xuống trắng xóa nguyên sơ, như dải lụa trắng vắt ngang núi rừng, tạo nên một nét quyến rũ.


thác Bản Guốc
Tác giả Ban Mai và thác Bản Giốc



Chúng tôi đến thác Bản Giốc lúc giữa trưa, ngay từ xa đã nghe thấy tiếng thác nước réo. Du khách có thể ngồi trên những vạt cỏ xanh mát dưới tán cây ngắm dòng thác đỗ xuống từ trên cao tung bọt trắng xóa, bên cạnh là túi hạt dẻ Trùng Khánh dẻo thơm còn bốc khói. Địa điểm này là nơi chúng tôi chờ đợi, mỗi người đều có một tâm trạng khi nhìn ngọn thác hùng vĩ của mình bị cắt đi một phần lãnh thổ so với cột mốc Pháp – Thanh ký công ước từ năm 1887. Nếu nhìn từ phía dưới chân thác Bản Giốc, phần thác phụ bên trái 1 tầng hoàn toàn thuộc chủ quyền Việt Nam, phần thác chính bên phải gồm 3 tầng,  nửa phía tây thuộc chủ quyền của Việt Nam tại xã Đàm Thủyhuyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng; nửa phía đông của thác bên phải thuộc chủ quyền của Trung Quốc tại thôn Đức Thiên, trấn Thạc Long, huyện Đại Tân, thành phố Sùng Tả của khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây. Thác nước này cách huyện lỵ Trùng Khánh khoảng 20 km về phía đông bắc, cách thủ phủ Nam Ninh của Quảng Tây khoảng 208 km. Theo trang Wikipedia, thác Bản Giốc là thác nước lớn thứ tư thế giới trong các thác nước nằm trên đường biên giới giữa các quốc gia (sau thác Iguazu giữa Brazil-Argentina, thác Victoria giữa Zambia-Zimbabwe và thác Niagara giữa Canada-Mỹ).

Dưới chân thác Bản Giốc là mặt sông rộng, phẳng như gương. Hai bên bờ là những thảm cỏ, vạt rừng xanh ngắt. Mặt sông Quây Sơn này hai bên Việt Nam và Trung Quốc cùng sử dụng, cùng khai thác du lịch chung. Cùng một bước chân, nhưng khi tôi đứng giữa hai đường biên, thân tôi ai xẻ làm đôi.

Hầu như chúng tôi đều chỉ muốn đứng bên thác phụ nằm trên lãnh thổ của mình, chụp hình và thư giản, không ai bảo ai đều không muốn sang thuyền để qua thác chính  vì không muốn cứa vào nỗi đau. Anh Đặng Châu Long thì “Tôi cứ chụp, chụp nhưng không chụp thác lớn, tôi không muốn lòng đau thêm. Không thể buông, vì sẽ không còn níu lại. Chiếc vũng nhỏ của thác nhỏ, cái hồ đầy của thác lớn cứ phô ra đấy lòng nào còn vui. Tôi chợt nhớ câu hát của ai đó vẳng trong tôi: “Lòng sầu thiếu phụ ngậm ngùi ải quan”. Bây giờ không thấy ải quan đâu.

Tịnh Thy thì kêu gọi mọi người “Hãy uống một ngụm nước đầu nguồn thiêng liêng của tổ quốc”.

Trúc Hạ thì chia xẻ: “Nước mát trên tay, ngọt trên miệng mà sao chúng tôi lại cùng cảm nhận được vị đắng trong lòng của nước?!...”

Tôi ngồi trên vạt cỏ ngắm dòng thác hùng vĩ tung bọt trắng xóa từ xa, mà nghĩ đến hàng ngàn năm trước, triệu năm trước khi dòng thác này được tạo dựng, đã có bao thể chế đến rồi đi, đã có bao dân tộc sở hữu được chúng. Và rồi cũng là hư vô. Ranh giới của một đất nước đôi khi nằm nhiều ở chính lòng người.

Tiếng hát của Thái Thanh trong bài “Tình ca” của Phạm Duy réo rắt suốt đường về mà lòng tôi trống rổng:

“Tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời, người ơi
Mẹ hiền ru những câu xa vời
À à ơi! Tiếng ru muôn đời
Tiếng nước tôi! Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui
Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi

… Tôi yêu biết bao người

Lý, Lê, Trần… và còn ai nữa

Những anh hùng của thời xa xưa

Những anh hùng của một ngày mai…”

Nghe bài hát mà thấy lòng xót xa, hùng khí của tiền nhân nay biết tìm nơi đâu.

BAN MAI

17/01/2020

Tham Khảo:

http://trian.vn/tin-tuc/chien-truong-xua-3571/cuoc-chien-bao-ve-bien-gioi-phia-bac-dong-doi-khong-quen-ngay-gio-tran-vi-xuyen-469109

https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A1c_B%E1%BA%A3n_Gi%E1%BB%91c

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Chín 20262:41 SA(Xem: 141)
Trong một lần trao đổi, bạn tôi hỏi đã đọc “Animal Farm” của George Orwell chưa? Tựa đề tập truyện ngay tức khắc làm tôi liên tưởng đến nhà văn Cung Tích Biền với những câu chuyện huyền ảo về Xứ động vật của ông. Với Cung Tích Biền “ Văn chương có thể huyền ảo, nhưng trách nhiệm của Nhà văn không thể là một hư ảo” và ông đã sống như vậy.
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 206)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
11 Tháng Chín 202611:04 CH(Xem: 323)
chợt nghe như lá rơi ngoài cửa / dịu dàng đem tới một làn hương / đã làm chiếc ghế nghiêng qua cửa / khi bóng chiều buông xuống mặt đường
10 Tháng Chín 202612:47 SA(Xem: 587)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
10 Tháng Chín 202612:22 SA(Xem: 459)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2645)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 1770)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 1436)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2536)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 2036)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 1878)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11747)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18349)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17371)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
11 Tháng Chín 202611:04 CH(Xem: 319)
chợt nghe như lá rơi ngoài cửa / dịu dàng đem tới một làn hương / đã làm chiếc ghế nghiêng qua cửa / khi bóng chiều buông xuống mặt đường
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2536)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2654)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 4032)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
(Xem: 587)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
(Xem: 2036)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 3831)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 3324)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2644)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 2544)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 2918)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 2893)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
14 Tháng Chín 2026(Xem: 141)
Trong một lần trao đổi, bạn tôi hỏi đã đọc “Animal Farm” của George Orwell chưa? Tựa đề tập truyện ngay tức khắc làm tôi liên tưởng đến nhà văn Cung Tích Biền với những câu chuyện huyền ảo về Xứ động vật của ông. Với Cung Tích Biền “ Văn chương có thể huyền ảo, nhưng trách nhiệm của Nhà văn không thể là một hư ảo” và ông đã sống như vậy.
10 Tháng Chín 2026(Xem: 459)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1770)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1436)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 4691)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14919)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 31049)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 37821)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12757)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 14051)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 5300)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 7852)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 6912)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 7334)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 8292)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
14 Tháng Chín 20262:19 SA(Xem: 206)
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936 tại Quảng Nam, Cung Tích Biền thuộc thế hệ nhà văn hứng chịu và tham dự trực tiếp nội chiến. Theo học Văn Khoa Huế, Luật Khoa Sàigòn trước khi bị động viên rồi trải qua nhiều đơn vị pháo binh, thiết giáp của quân lực VNCH cho đến ngày giải ngũ vì thương tích năm 1973, nhà văn khởi đăng truyện ngắn đầu tiên trên tuần báo Nghệ Thuật vào năm 1966.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 9910)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 9103)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi