- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,578,792

BỎ KHÔNG MỘT CHỖ NGỒI

08 Tháng Chín 20219:26 CH(Xem: 680)
 
PhamQuangTrung BW
Chân dung Phạm Quang Trung

 

Thơ   

Phạm Quang Trung  

BỎ KHÔNG MỘT CHỖ NGỒI  

 

 

LTS: Phạm Quang Trung tuổi Giáp Ngọ sinh quán Sài gòn, dạy học ở Việt nam và tiếp tục ở Mỹ.

Anh tốt nghiệp Sư Phạm ở quê nhà và tốt nghiệp Cử nhân ban khoa học Kỹ sư ở Mỹ. Hiện sống và làm việc tại Aurora, bang Colorado, Hoa kỳ.

Chúng tôi hân hạnh gởi đến quí độc giả và văn hữu những thi phẩm của tác giả Phạm Quang Trung.

Tạp Chí Hợp-Lưu

 

 

 

TÂM DỊCH

 

hai ba bốn lòng mưa đầy hơi thở

dòng luân hồi giọt máu trở về tim

cơn hấp hối ngọn đèn mờ mặc niệm

tám chín mười chân lầm lũi qua đêm

 

hẹn một buổi mà năm trời bão nổi

hoa lá tàn đâu cần thiết lọ chung

đứng chờ nhau đà tàn kiếp tận cùng

buồn thân thế thấp hèn như cỏ lụn

 

ở nơi chốn có công viên lá rụng

gieo hạt nhân chờ nẩy ngọn tinh khôi

bầy sẻ nhỏ đói mềm nằm mục tội

đời thì thôi đá ném vỡ tơi bời

 

hai tư sáu số chẵn ừ dễ nhớ

lúc ra về lại dò dẫm vô duyên

chừng ngó lại mái đầu sương dễ sợ

ơi có gì ngoài trí nhớ không tên

 

khép kín cổng nhốt giang hồ lặng lẽ

bốn tường vuông dựng đứng vách giam thân

mở mắt trừng xuyên thấu cuộc phù vân

và hơi thở dường như đà chậm lại

 

chuông điện thoại vọng vang từ âm phủ

vội trùm chăn gói kín mùa thương đau

chưa kịp về mà vội đã mau mau

rời thành phố tan hoang chiều xóm đạo.

 

Phạm Quang Trung

 


BỎ KHÔNG MỘT CHỖ NGỒI

 

chỗ em ngồi hôm nay

tôi hôm qua đợi cổ dài như chim

trò ú tim chạy trốn tìm

em con nít nhỏ nỗi niềm mong manh

 

quán này đây góc phố quanh

dăm ba phiến gỗ đã xanh xao hờn

có tiếng cười có môi hôn

có trăm hò hẹn mượt hồn cỏ hoa

 

thứ sáu rồi và đôi ta

có lần liền cánh có xa mịt mù

kéo lại gần những viễn du

nghe dư âm rót vào thu hững hờ

 

ở chỗ em ngồi trong mơ

cuối tuần thứ sáu nhà thờ chuông ngân

một khoảng đời tưởng là gần

mà xa tay vói bao lần đành thôi

 

giờ đây hai đứa đôi nơi

em ra biển rộng im lời trùng dương

tôi leo lên đỉnh nhớ thương

nghìn năm mây trắng còn vương chỗ ngồi

 

Phạm Quang Trung

 

 

NHỮNG NGÀY NHỚ NHA TRANG

 

buổi sáng mở tờ báo đọc

cafe và mùi biển nồng

cửa phòng mở toang vô hướng

hải âu bay vào hư không

 

vắng em ừ dăm ba buổi

dẹp bỏ mấy phong thơ xưa

ra ngồi đầu đường xó chợ

chỗ nào cũng ghé lại chờ

 

này mưa đổ thêm vài trận

cho thấm đời nhau mấy lần

tri âm ghé vào ta hỏi

tri kỷ của ta là ai?

 

quen ai ở xóm chài này

qua lại đôi ba lần thôi

lại nghe hết mùa biển nổi

em à em là ai đây!?

 

rét mướt mưa dầm xuống đất

ngẩn mặt nói với trời cao

tri âm hồ dễ tri kỷ

chén rượu còn nguyên hôm nào

 

buổi chiều đi tìm nỗi nhớ

nấp trốn võ sò trống trơ

tìm theo dấu chim muộn khổ

cánh bườm trắng vết đường tơ

 

vắng em ừ dăm ba buổi

ra chơi vọc bóng hoàng hôn

xa xa dấu thuyền ngư phủ

lịm dần lịm dần cô đơn

 

Phạm Quang Trung

 


BÀI HAIKU SAI NHỊP

 

từ người đàn bà không hề có thật

mài mực gieo vần bài kệ haiku

em nhón gót tập tành trò thỉền đạo

mưa gió nổi lên trời đất âm u

 

hãy mở cổng tùng này giây sám hối

con chữ hồ nghi chưa kịp nở hoa

rót một giọt trà cánh hoa đào ngọt

con oanh đứng hát ngoài trời xa xa

 

chọn riêng bóng tối chỗ ngồi ấn tượng

hoan lạc cười cười miệng đỏ san hô

dâng chút tình mê saké mỹ nữ

cúi xuống thật gần đời sống mầu tô

 

nhạc dạo cung đàn cho ngây hơi thở

phút ấy cuồng điên lời nói điêu ngoa

bưóc lại gần đây cơ hồ mệt lã

những cuộc hoang đàng còn lạ chi ta

 

thôi nhé ta về quên câu hò hẹn

bài thơ gượm mãi chưa xong đôi dòng

tiễn nhau ra đứng đầu sông gió lộng

dúi vào tay hờ dăm chuyện rêu rong

 

từ người đàn bà không hề có thật

bài kệ haiku lem dấu chân hài

cửa động thiền môn hoa vàng mấy độ

còn rơi mấy cánh ô buồn trên tay

 

Phạm Quang Trung

 


ĐỂ YÊN TÔI THỔI MÙI LAN

 

ôm mặt trời

chôn chân đồi

gam màu cọ bút tô bôi vội vàng

duổi rong theo mùa điêu tàn

vốc tay cát bụi chiều hoang vu dài

lầu chuông gác thánh lạ thay

con bồ câu nhỏ bỏ bay hoang đường

về ngang hái nhánh thiên hương

thành xưa cổ tích  tơ vương nhiệm phần

mưa reo nhạc khánh ngoài sân

áo thu mộ khúc mây Tần xa xa

ôm hình hài

ơi bao la

 

rừng vàng dạo khúc âm ba nặng nề

xuống đồi giấu kín đam mê

môi son chín đỏ còn tê vết hờn

chân trời nét kẻ cô đơn

người về mấy dặm trống trơn phụ phàng

tầng rêu xanh dúm cỏ vàng

mọc đầy tâm trí muộn màng hồ tan

để yên tôi thổi mùi lan

còn nguyên tưởng nhớ tóc nàng năm xưa.

 

Phạm Quang Trung

 

 

MỘT SÁNG CHƯA YÊN

 

hái một nụ hoa còn

ngậm sương mai từ độ

bụi tro nương kiếp người

nhà thờ gióng tiếng chuông

 

nhặt mân côi từng hạt

sáng hôm nay lạ thường

chim ra ràng đứng khóc

ngó lại thấy mà thương

 

hái từ em một đoá

nở trong gian nguyện đường

bài thánh thư hồ tưởng

nằng nặng nơi đáy tim

 

nhặt viên tròn đá cuội

lăn miệt mài chưa yên

ghé nhà xưa lần cuối

cài cánh hoa u phiền

 

Phạm Quang Trung

 


LỤA ĐÀO

 

những cánh hoa nở muộn màng

sân khuya ai hát lênh lang sợi buồn

khép mi giọt lệ xa nguồn

tử sinh từ độ đoạn trường thế nhân

 

ôm chăn chiếu lạnh có cần

đôi khi hương tóc phủ trần gian đau

lẻn vào đêm mùi ngọt ngào

còn đây riêng mảnh lụa đào phất phơ

 

ngón tay ve vuốt cung hờ

bờ vai cánh hạc chiều mơ hồn gầy

hôn sâu da thịt ngất ngây

cho hờn son phấn cho đầy phù vân

 

ngồi tô vẽ nét ân cần

vẽ từ ký ức võ vàng xanh xao

màu hổ phách chén rượu đào

ô hay có nụ hoa nào nguyên khôi

 

giây rung động phút tàn hơi

mưa lên nhân ảnh rã rời cô liêu

cánh chim đưa tiễn sắc chiều

ơn em còn lại đôi điều ngàn xưa

 

Phạm Quang Trung

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1069)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1138)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1826)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5867)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5839)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13181)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30066)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81205)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20237)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
18 Tháng Chín 20215:41 CH(Xem: 364)
hai người trò chuyện / hơi ấm mặt trời mơn trớn / cửa bên trong người đàn bà hé mở / miền đất từ lâu không dung nạp sự sống / dòng nước chảy ngang nảy hạt / cong về ánh sáng quên lòng đất tối