- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,580,831

MƯA KỶ NIÊM

10 Tháng Sáu 20216:03 CH(Xem: 1190)
hinh-anh-mua-buon-155-1
Mưa buồn- ảnh tác giả cung cấp

Thái Thanh

MƯA KỶ NIỆM

 

Tháng 6. Sài gòn buổi chiều thường mưa. Mưa to lắm, mây đen kịt kéo nhanh làm tối cả bầu trời, nhìn xa xa sau màn nước mưa mù trời những đoàn xe trên đường cao tốc xuôi ngược nối dài nhau trên con đường quốc lộ xa tắp mịt mù.

 

Nơi tôi ở bây giờ đất còn trống khá nhiều nên cây cỏ xung quanh xanh xanh như một thảo nguyên nhỏ. Đứng trên tầng cao nhìn mưa rơi rơi từ xa, mịt mờ trắng xóa. Những con đường vắng thưa thớt bóng người đi qua và dòng sông nước vẫn lặng lờ. Tôi nhớ xa xôi có người đã từng ví von bên tai tôi " Dù cho sông cạn đá mòn tình cảm này không hề thay đổi". Ngày ấy, tôi cứ nghĩ sông khó mà cạn lắm chứ, nhưng không, dòng sông nơi tôi ở cứ cạn rồi đầy liên tục trong ngày. Lòng người cũng vậy không có gì là mãi mãi với thời gian. Cái mà dễ thay đổi nhất trên đời này nghiệm ra rằng đó chính là tình cảm; những lời yêu xưa chỉ là ví von trong lúc cảm xúc còn đong đầy nên chả trách gì nhau khi người dễ quên nhau...

 

Thế nhưng dẫu đã vào tuổi thu vàng tôi vẫn còn mơ mộng, vẫn yêu những cơn mưa chiều gợi nhớ ngày xưa. Mưa đối với tôi luôn lưu giữ lại trong tận đáy lòng ăm ắp kỷ niệm... Thời gian và tuổi chiều cũng đã làm tôi đánh rơi bớt dần mọi thứ, chỉ còn mù mờ trong trí những mùa mưa bên những người thương năm cũ.

 

Tôi thích lời bài hát "Một cõi đi về" của Trịnh " Nghe mưa nơi này lại nhớ mưa xa. Mưa bay trong ta bay từng hạt nhỏ...". Tôi nhớ mưa xa ở thành phố nhỏ thời thiếu nữ xa xôi ngày ấy mỗi chiều tan học. Tôi nhớ những cơn mưa phơ phất ngoài trời cái thuở ngu ngơ còn che nghiêng cây dù tím cho khỏi ướt vạt áo dài trắng tinh khôi. Tôi nhớ ánh mắt sâu thẳm đợi chờ của người xưa từng làm cuống quýt bước chân đi cô học trò nhỏ ngày thơ. Nhớ khung cửa sổ lớp học những ngày mưa nhìn ra hàng dương liễu sũng nước như reo trong gió và nhớ cả tiếng sóng biển ngoài xa từ khung cửa sổ ấy nghe vọng về.Tôi nhớ những cơn mưa buốt lạnh ở quê tôi mỗi chiều tôi vội vã trở về nhà với mẹ với các con của mình. Ngày ấy tôi thường nấu canh tôm với rau mồng tơi và làm cái món mắm cá thu chưng thịt ba chỉ với hột vịt rắc tiêu thơm cay nóng, cả nhà quây quần cùng ăn bên mâm cơm ấm cúng. Nhớ những ngày mưa lụt, Lịch huyết bị cay mắt trôi theo nước, chợ bán đầy Lịch mẹ tôi mua vê um với bắp chuối, chuối chát ngon ơi là ngon.

 

Thời ấy tôi ở chợ Đầm thành phố Qui nhơn, mùa mưa nước không rút kịp nên ngập lênh láng như một dòng sông mênh mông là nước. Buổi sáng thức dậy nghe tiếng rao " bánh mì nóng dòn đây !" tôi cùng con gái đứng ở ban công cột tiền thả xuống cho những người ngồi trên cái thúng tròn ấy để mua bánh mì ăn... Chờ khi nước rút, tôi lại ra chợ buôn bán kiếm tiền nuôi con. Có khi buổi chiều ở chợ về tôi phải gởi xe đạp vì không thể lội qua nước chảy xiết vì mưa. Tôi nhớ mẹ, nhớ day dứt hình ảnh mẹ tôi ngày ấy khi các con tôi vào Sài gòn học đại học chỉ còn mỗi mình mẹ ở nhà. Lội qua đầm nước mênh mông, mình tôi bê bết nước và bùn đất chưa kịp tắm gội tôi phải đỡ cho mẹ tới chỗ khô ráo. Nhà tôi ngày ấy, ở dưới thì nước lụt ngập ở trên thì dột, mẹ tôi đứng vịn chặt cái thành cầu thang tương đối khô ráo chớ không dám đi sợ té ngã, chỉ có mình mẹ ở nhà, mẹ phải tự bảo vệ mình để khỏi làm phiền cho con... Thương mẹ quá, thương đến đứt lòng cho mẹ mà tôi cứ mãi còn bôn ba ở giữa chợ đời không cận kề bên mẹ... Cuộc sống dần đỡ hơn khi tôi sửa được cái nhà, khi người ta làm cống rút nước... thì mẹ không còn nữa.

 

Mùa mưa ở Qui nhơn thường kéo dài lê thê liên tục đến mấy ngày với cái lạnh se da nhưng mưa Sài gòn hay đổ bất chợt... Cũng xuyến xao lòng tôi không ít. Ngày ấy, mẹ mất, tôi sống một mình buôn bán chắt chiu tiền gởi cho con đi học. Cho đến ngày tôi vào Sài gòn dự lễ tốt nghiệp của con. Tội nghiệp, nó là đứa con gái bé nhỏ chịu thương chịu khó cùng với mẹ trong những ngày mua bán tảo tần ở quê. Nó đậu Đại học Bách khoa Sài gòn một cái trường danh tiếng khó đậu mà suốt năm năm trời mẹ nó chưa hề vào thăm con cho biết được trường. Lần này có hai cái vé mời đặc biệt dành cho ba mẹ vì nó tốt nghiệp loại giỏi nên bà mẹ quê tôi phải đi vào thôi... Dự xong lễ chiều đó nó mượn chiếc xe máy của cậu đưa mẹ ra bến xe Miền đông để về. Không có dấu hiệu gì báo trước nhưng xe đi được một khúc thì mưa đổ xuống nhanh như trút. Đoạn đường còn dài đứng đụt mưa thì sẽ trễ xe, nó tắp vào mua hai cái áo mưa tiện lợi, lính quýnh thế nào mà mẹ nó là tôi đánh rơi cái áo xuống đất. Giữa dòng xe cộ chạy ngược xuôi hối hả, đường Sài gòn nước ngập chảy xiết trôi phăng cái áo đi mà bên đường không còn ai bán áo nữa. Con bé cởi phăng cái áo cho mẹ trùm, nó đi ướt dưới mưa, dưới cái lạnh của gió ngược chiều qua những con đường rộng rồi nó len lõi vào hẻm cho gần, trời vô tình vẫn cứ đổ mưa, mưa to như trút... Cuối cùng cũng đến được bến xe, tôi co ro ngồi trên xe nhìn qua ô cửa kính, xe chạy... bóng đứa con gái bé nhỏ vẫy vẫy tay xa dần mà đứt ruột. Hồi đó cả hai mẹ con đều chưa có điện thoại di động nên không gọi được cho con để biết nó đã về được nhà trọ an toàn chưa. Lòng mẹ se lại vì thương, thương con vô bờ bến trong đời...

 

Bây giờ tất cả đã là kỷ niệm. Tuổi đã về chiều tôi dần quên hết chỉ còn nhớ mơ hồ về những chuyện xa xưa còn lưu lại dành cho những ngày mưa rơi xuống đời tôi mênh mang thương nhớ vô vàn...

 

Sài gòn tháng 6/ 2021

 

Thái Thanh

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1165)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1220)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1908)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5940)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5941)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13322)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30278)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81349)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20314)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
26 Tháng Chín 20219:17 CH(Xem: 179)
những sớm mai tắt nghẹn / thơ giúp tôi cất tiếng nói / thoát ra từ những khung cửa khác nhau / cuộc hẹn hò cùng hoa trắng / đến sự chia tay với thư xanh / những bạn thơ văn hào sảng / mỗi số phận viết lên một đời người / tuổi xế chiều đem lại bao dung / và chữ nghĩa khiến chúng ta gần lại