- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,580,817

NHỚ NGƯỜI TRƯỞNG NAM CỦA THI SĨ HOÀNG CẦM

19 Tháng Năm 202110:35 CH(Xem: 1455)
NhoNguoi-MaiAnNguyenAnhTuan

 

Mai An Nguyễn Anh Tuấn
NHỚ NGƯỜI TRƯỞNG NAM CỦA THI SĨ HOÀNG CẦM

 


Xuân này, tôi trở lại một vùng quê Kinh Bắc xưa...

 

Tôi chợt cồn cào nhớ đến một nhà nghiên cứu văn hóa quê gốc Song Hồ, Thuận Thành, Bắc Ninh.

 

Đó là anh Hoàng Kỳ.

 

Tôi thuộc thơ của thi sĩ Hoàng Cầm từ nhiều năm trước khi biết đến Hoàng Kỳ - người con trai đầu của cụ. Qua nhà thơ Thanh Kim, phóng viên báo Bắc Giang, tôi được gặp anh lần đầu tại thư viện của thị xã Bắc Giang (tỉnh Hà Bắc cũ). Mới gặp, anh có vẻ lịch sự xã giao, thậm chí như hơi đề phòng- thói quen hình thành trong một hoàn cảnh gia đình đầy sóng gió đã ảnh hưởng sâu đậm tới cuộc đời anh... Nhưng dần dà, cái vỏ ngoài ấy đã biến mất hẳn sau nửa giờ trò chuyện, khi anh hiểu rõ rằng: trước mặt anh là một "con mọt sách", đang muốn tìm hiểu về văn hóa vùng Kinh Bắc... Với tư cách là phó giám đốc thư viện, anh đã nhiệt tình tìm giúp tôi những tài liệu cần thiết- đầu tiên là cuốn Địa chí Bắc Giang. Anh không mệt mỏi giải thích cho tôi vài tồn nghi khoa học- như một nhà nghiên cứu thứ thiệt, và với nguồn cảm hứng của một nhà thơ về một vùng đất dày đặc trầm tích văn hóa & lịch sử... Anh mời tôi đến thăm nhà anh, một ngôi nhà nhỏ nằm trong hẻm dốc ở rìa thị xã. Chị Vân vợ anh, một phụ nữ hiếu khách trong vẻ nhẫn nhịn lặng lẽ quen thuộc của người Kinh Bắc, chị chào tôi một câu rồi xin phép quay đi, lúi húi với đàn gà đàn lợn...

 

Khi đó, đang thực hiện một bộ phim tài liệu về Học vấn đất Kinh Bắc xưa & nay, tôi đã trân trọng mời anh cùng tham gia, và cũng để anh có thêm chút thu nhập. Anh hồ hởi nhận lời. Thế là, hai anh em chúng tôi và đồ nghề quay phim trên một chiếc xe máy phân khối lớn đã rong ruổi qua nhiều vùng quê Kinh Bắc... Chúng tôi đã đi dọc sông Đuống - một chi lưu quan trọng của sông Cái, và theo dòng sông "Nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ" của thi sĩ Hoàng Cầm để đến với "cái nôi sinh thành dân tộc Việt Nam" như cố học giả Nguyễn Văn Huyên đã chứng minh trong luận văn tiến sĩ của mình hơn bảy mươi năm trước, đến với vùng huyền thoại gắn với lai lịch dân tộc Việt: Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Phật bà Man nương, đến với Luy Lâu- trung tâm Phật giáo lớn nhất nước ta thời cổ đại… Chúng tôi không chỉ một lần đứng nhìn bao quát cả một vùng non nước trải rộng đến chân trời- quê hương của nhiều danh nhân văn hoá kiệt xuất, là vùng học vấn khoa bảng hàng đầu đất nước, nơi góp phần minh chứng cho chân lý của nhà bác học Lê Quý Đôn - đốc đồng Kinh Bắc năm 1764: "Phi trí bất hưng" (Không có trí thức thì Quốc gia không thể hưng thịnh được). Ông nội cụ Lê Quý Đôn là Thượng thư Bộ công, quê gốc ở huyện Đông Ngàn (huyện Tiên Sơn, Bắc Ninh nay) đã đưa gia đình về lập nghiệp ở huyện Duyên Hà (nay là Hưng Hà, Thái Bình), ở đó còn tấm bia ghi rõ: Họ Lê trước đây/ Vốn từ Kinh Bắc/ Chuyển đến Duyên Hà/ Nối đời đại đức.

 

Kinh Bắc xưa có nhiều dòng họ cha truyền con nối đỗ đạt cao, đặc biệt có tới 102 vị đại khoa làm sứ thần (cả nước có 307 vị). Nhiều vị trở thành các nhà văn hoá, các tác giả tên tuổi- như Huyền Quang, Hàn Thuyên, Thái Thuận, Nguyễn Gia Thiều, Phạm Thái, Cao Bá Quát, v.v. Vùng đất này đã từng có nhiều người thầy dạy dỗ con em dân thường trở thành văn nhân, nhà khoa học nổi tiếng, và cũng từng có thày dạy vua và thái tử như: Lê Văn Thịnh, Nguyễn Cư Đạo… Hàng chục tiến sĩ, trạng nguyên người Kinh Bắc đã làm tế tửu Quốc Tử Giám (tương đương hiệu trưởng trường đại học nay) như Vũ Quốc Nguyên, Nguyễn Thiên Tích, Nguyễn Nhân Thiếp, Thân Nhân Trung, v.v. Hoàng Kỳ đã đưa tôi tìm đến các văn chỉ & đền thờ họ Phạm, họ Nguyễn ở Kim Đôi có tới 6,7 đời đỗ đại khoa, dòng họ Nguyễn ở Vân Điềm có 7 đời đỗ tiến sĩ, họ Ngô ở Vọng Nguyệt có 6 đời đỗ tiến sĩ; rồi tới những làng có 3, 4, 5 đời tiến sĩ: họ Quách ở Phù Khê, họ Nguyễn ở Tam Sơn, họ Nguyễn ở Đại Bái, họ Nguyễn ở Nghĩa Lập... Đến đâu Hoàng Kỳ cũng nhiều có bạn bè quý trọng anh, tận tình giúp đỡ nhóm làm phim. Trong những ngày điền dã quay phim vất vả đó, anh đã chăm chút lo toan cho tôi như đối với một đứa em trai thân yêu của mình. Có lần, tôi muốn tìm một khung cửi dệt có "con cò mấp máy suốt năm canh" như nữ sĩ Hồ Xuân Hương miêu tả để quay phim - khi mà các khung cửi truyền thống đã bị dẹp bỏ, Hoàng Kỳ đã cùng các bạn anh mò mẫm khắp làng để tìm cho ra một khung cửi có con cò gỗ phủ bụi ở một góc nhà, động viên gia đình khôi phục lại, lau chùi sạch sẽ, lại có người ngồi dệt; và con cò gỗ lại "mấp máy" hiển hiện những mảnh đời âm thầm làm lụng của bao người vợ, người mẹ, người em gái vùng Kinh Bắc cho chồng, cho con, cho anh dùi mài đèn sách... Trước hàng chục em bé đeo khăn quàng đỏ đến thăm Văn Miếu Bắc Ninh rậm rịt cỏ dại (lúc đó chưa được xây tường bao quanh và chưa khang trang như bây giờ), anh đã nhiệt tình giảng giải cho các em (cho cả cụ thủ từ và tôi nữa) những hiểu biết cặn kẽ của anh về các tấm bia Kim bảng lưu phương, đọc vanh vách danh sách 10 vị đỗ ở khoa thi Minh kinh bác học đầu tiên ở nước ta mà người đứng đầu danh sách là thí sinh Lê Văn Thịnh - sau đó là vị thái sư danh tiếng bị hàm oan suốt 900 năm!...

 

Một buổi sáng, chúng tôi rời huyện Thuận Thành để sang huyện khác giữa khi các sân trường đang vắng lặng, chỉ còn văng vẳng tiếng giảng bài, đọc bài từ các phòng học lộng gió và thơm ngát hương đồng; trong khi đó, các mẹ các chị vẫn đang cặm cụi trên những mảnh vườn, thửa ruộng, chắt chiu từng nong tằm, hạt lúa, củ khoai... Những cô bé cậu bé rời trường học lại bắt tay phụ giúp cha mẹ chăn trâu, cắt cỏ, bóc sắn, học bài...và mơ ước tới những chân trời xa. Hàng trăm năm nay, các tiến sĩ cử nhân của những vùng quê Kinh Bắc đã lớn lên như thế trong lời ru ngọt ngào, trong mồ hôi mặn đắng tần tảo nuôi con, nuôi em ăn học... Tâm lý coi trọng học vấn, coi trọng trí thức, coi trọng nhân tài đã hàng ngày được củng cố, trở nên bền chắc và cao quý. "Bạc đầy nong không bằng cong chữ"-"nhân bất học bất tri lý" (Người mà không học thì không biết được lẽ phải)... Ngay cả khi nền Hán học chính quy đã bộc lộ những mặt bảo thủ phản động, thì những truyền thống lành mạnh về giáo dục và học vấn vẫn được nhân dân trân trọng giữ gìn. Thời phong kiến, Nhà nước chỉ tổ chức chu đáo bậc học và các kỳ thi tuyển cao cấp, còn trên thực tế, do lòng hiếu học của nhân dân, các bậc sơ học và trung học hầu như do nhân dân ở các cấp làng xã lo liệu. Truyền thống hiếu học và nền học vấn "khai tâm" ấy đã đi vào tranh dân gian Đông Hồ với hình tượng "Thầy đồ cóc", "Tiến sĩ chuột vinh quy" thấm đượm tâm hồn trào lộng dân gian, đi vào tục thi đọc mục lục, tục kéo cờ chạy chữ, đi vào thế ứng xử: "Mồng một thì về quê cha/ Mồng hai quê mẹ, mồng ba quê thầy"... Trong gần 300 hương ước còn lại của Kinh Bắc xưa, sự học là một trong những điều khoản được coi trọng hàng đầu. Có một hương ước quy định: "Khi làm sổ dự toán thu chi của làng nên tùy theo tình hình tài chính mà dự định một số tiền để trợ cấp tiền giấy bút cho những học trò nhà nghèo mà học hành tấn tới thành tài"... Theo chân anh Hoàng Kỳ, những địa danh trở thành biểu tượng của lòng hiếu học cảm động đất Kinh Bắc đã găm vào tâm trí tôi trong nhiều năm tháng dài: Đại Mão, Mão Điền, Thanh Khương, Song Hồ, Kim Đôi, Vọng Nguyệt, Tam Sơn, v.v.

 

Tôi học được ở Hoàng Kỳ sự chu đáo tận tụy đối với công việc, nhất là công việc có liên quan đến tri thức sách vở. Anh tôn trọng sự chính xác của tư liệu, rất ghét sự đại khái qua loa. Đằng sau dòng chữ nhỏ li ti và chân phương của anh trên những trang viết là cả một tinh thần lao động say mê, căng thẳng... Anh cắm cúi đọc và dịch lắm lúc quên cả bữa ăn. Hình như, đến thời kỳ được tiếp xúc với kho tư liệu sách vở và ngấm "men" của nó, anh đã lao vào cái thế giới mênh mông vừa kỳ vĩ huyền ảo vừa đẫm lệ máu ấy để bù đắp lại những năm tháng dài sau khi tốt nghiệp đại học ngoại ngữ ngồi ghế đá chờ việc, không dám gặp gỡ ai để tránh cái nhìn thương hại cho con một người từng mắc án "Nhân văn Giai phẩm" và phải chịu án tù vì họa "văn tự"(1)... Nhưng cũng chính "văn tự" đã cứu sống cho ý nghĩa cuộc đời Hoàng Kỳ, và anh đã coi tri thức như một thứ Tôn giáo mới!

 

Khi về Hà Nội làm biên tập viên báo Sức khỏe & Đời sống, anh cũng đem cả cái vốn đọc vốn học suốt bao năm vùi mình ở thư viện vào các lĩnh vực nâng cao sức khỏe mọi người... Và anh khảo cứu trong kho thư tịch cổ để rút ra không chỉ bài học ứng xử cho bản thân, mà còn giúp cho nhiều thế hệ độc giả- trong đó có học trò của anh là tôi- cái lý do tồn tại để không trở thành "một khối nặng vô ích của trái đất"- theo cách nói của văn hào Nga N. Gogol... Trong những ngày đi dọc ngang đất Học vấn Kinh Bắc đó, anh đã kể cho tôi nghe về mấy đề thi Tiến sĩ thời xưa, như ở khoa thi Giáp Tuất (1694): "Hãy bàn về các bậc hào kiệt" - nghĩa là bàn về các nhân tài xuất sắc, và ở khoa thi Canh Thìn (1700): "Kế sách xây dựng một quốc gia bền vững" (Khoa này, cả nước có 19 người đỗ, trong đó có 3 tiến sĩ người Kinh Bắc). Anh giở sổ tay đọc một đoạn chép về cách dùng nhân tài trong luận văn Tiến sĩ của Lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Trực tại khoa thi năm Nhâm Tuất (1442, Kinh Bắc đỗ 5 Tiến sĩ trong 33 Tiến sĩ cả nước): "Tiến cử người quân tử, lui bỏ kẻ tiểu nhân, ấy là bản tâm của bậc Thánh nhân trị nước. Trị nước lấy nhân tài làm gốc, dùng người lấy chữ tín làm đầu. Bệ hạ muốn quân tử tiến, tiểu nhân lùi thì không gì bằng gần gũi bề tôi khí tiết, xử dụng kẻ sĩ chính trực..."

 

Dường như dưới suối vàng, nhà nghiên cứu văn hóa Hoàng Kỳ vẫn đang cặm cụi viết những dòng chữ đẹp dành cho cõi đời này: Hào kiệt thì đời nào cũng có, và dù bị kẻ tiểu nhân, lũ độc ác tìm cách hãm hại tiêu diệt, các bậc nhân tài bao giờ cũng được lòng dân che chở. Còn những người có trách nhiệm xây dựng một Quốc gia bền vững nếu không biết trọng thị những bậc nhân tài như thế, nếu không biết quý trọng những người dân dám xả thân để bảo vệ nhân tài, họa diệt vong của một Quốc gia ắt đang cận kề...

 

Anh Hoàng Kỳ ơi! Đã được cùng anh "Cúi lạy Mẹ con trở về Kinh Bắc"(2) năm nào, giờ đây em xin có một nén nhang thơm tưởng nhớ anh và nhẩm lại vài bài học vỡ lòng về Tri thức dưới bóng lâu đài Học vấn trên quê hương anh...


Mai An Nguyễn Anh Tuấn

____________________________

1. Xin đọc bài của nhà thơ Hoàng Hưng: http://www.songtho.net/.../ba-muoi-nam-ve-kinh-bac...

2. "Về Kinh Bắc" (1959 – 1960) của Hoàng Cầm

 

( Trong tập CHÂN DUNG &TẠP LUẬN sẽ in)

 

Ảnh: Với các thầy giáo Thuận Thành ( ô Hoàng Kỳ đội mũ)

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1164)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1220)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1906)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5940)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5933)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13322)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30277)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81348)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20314)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
26 Tháng Chín 20219:17 CH(Xem: 178)
những sớm mai tắt nghẹn / thơ giúp tôi cất tiếng nói / thoát ra từ những khung cửa khác nhau / cuộc hẹn hò cùng hoa trắng / đến sự chia tay với thư xanh / những bạn thơ văn hào sảng / mỗi số phận viết lên một đời người / tuổi xế chiều đem lại bao dung / và chữ nghĩa khiến chúng ta gần lại