- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,470,137

BÀI THƠ CHO THÁNG TƯ

23 Tháng Tư 20208:11 CH(Xem: 1058)


TRANG SAI GON -UL
Trăng Sài Gòn - ảnh UL

Bài thơ cho tháng tư


những hoài vọng rũ nhau ra đi

tháng tư trời mưa rỉ rả

những con đường đi xa thành phố

khung cửa đục, mắt hoen mờ

con chim đen trú lạnh

dẫm lên từng ô vuông ký ức

em đã lục lạo và thấy gì trong đó

một đoạn thơ tình

một câu nhạc hay

biết đâu bài ca dao cho quê hương đang lần hồi mai một ?

*

ân tình như giọt sương đọng trên cây

run buồn theo bước chân thời gian

những chiếc lá phù du rơi trên thảm cỏ

chu kỳ đi lại

như con ốc nhỏ băng qua và trở về từ biển

ngậm hạt muối bỏ lên đầu người

biến thành mái tóc muối tiêu trời chiều ẩn hiện

từng chuyến xe điện màu vàng chạy thật gần nhau

nhưng muôn đời vẫn song song chẳng bao giờ gặp

*

mưa rơi hắt hiu trên cửa kiếng

giấc mơ chập chờn bao nhiêu điều trống rỗng

chợt tỉnh dậy ê a  năm ba lời kinh

gác chuông nhà thờ lên đèn

thấp thoáng bóng ai chạy qua cửa

không lời nhắn nhủ

trí óc đầy ắp, bão hòa ẩn dụ về tình yêu và sự sống

pha trộn dối lừa và thất vọng

không ai có thể hiểu được người trước mặt

cho nên em hãy trở về

ngồi yên dưới những bức tượng đã đổi màu

để hiểu rằng đá cũng hao mòn

và mặt trời sẽ vô cùng cần thiết để hâm nóng những hoài bão

đã một thời trong trắng nhất

*

ta vẫn ngồi làm thơ trong đêm

chữ rơi rụng trên bàn phím, xôn xao âm vang kỳ lạ

hàng rào sắt, trẻ em nghèo, đàn bà căm phẫn

những khuôn mặt vô tội và bàn tay bạo lực

những con kiến nằm khóc trong hang

quên đi ngôn ngữ loài người đang biến dạng thê thảm

rác từ trong tư tưởng rải đầy trên văn chương

ca tụng người đóng kịch trên khán đài

hí trường đầy bích chương biểu ngữ

 

 

*

bài thơ con cóc hay con công nằm im trên giấy

ca ngợi những thí dụ về thủy chung và lòng yêu nước

những ngôi đền thật xưa và cao ốc thật mới

chứa những bí mật và biến chuyển to lớn

thơ nằm im, co quắp trong ngôn ngữ

chân thật trở thành hoài niệm xa vời trong đầu

và thời hiện đại, con người bỗng trở về huyền sử

ngu mê đánh vần để tìm lại ý nghĩa của từng chữ từng câu

*

căn phòng nhỏ với bốn tường trắng

gió thổi nhẹ lung linh ẩn ngữ

dán trên lưng ngựa thần bay qua huyễn ảo

chơi vơi tấm lụa đào trong gió

những anh hùng lơ lửng trên trời

cuộc dạo chơi bắt đầu từ những câu hỏi một mình

đi vào dòng tư tưởng của tháng tư miên man…

 

thy an

 

 

 

Ngày mai trên những hoang tàn

  

ngày mai trên những hoang tàn

sẽ có loài hoa mọc từ đá

thẳng đứng như cọc nhọn

thách thức những bạo lực cuồng ngông

và dòng sông sẽ trôi ra biển

cuốn theo tất cả những ác mộng

 

ngày mai trên những hoang tàn

con đường dẫn lên ngọn đồi đầy mộ

sẽ xanh cỏ và xóa những vết xe

câu thơ buồn treo trên nhánh như một chứng tích

những niềm vui thức dậy

lay động người tri kỷ nhiều năm khóc trong bóng tối

 

ngày mai trên những hoang tàn

thời gian không thể đi ngược

nhưng ký ức sẽ chạy lùi về quá khứ

không phải để khóc than

hay khơi dậy hận thù

mà gọi những hồn thiêng trở về từ cánh rừng vạn thọ

 

ngày mai trên những hoang tàn

bay qua miếu đền sẽ có đám mây phiêu lãng

an ủi dỗ dành những con người ngủ yên

trong bao thập kỷ lạ xa

thoáng trong gió tiếng kêu của mẹ của cha

hãy ngẩng cao đầu xứng đáng với những thiết tha mong đợi

 

ngày mai trên những hoang tàn

cầu vồng bảy sắc thánh hóa tình yêu quê hương

ngút ngàn thiên đường của những hoài bảo

ngàn sao chiếu xuống những góc đời hào sảng

một thời ray rứt quan san

ngồi xuống đây rót chén rượu cạn nguồn tâm đắc…

 

thy an

nắng tháng ba Canh Tý 2020

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 2830)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 6788)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
06 Tháng Bảy 20153:00 SA(Xem: 3596)
Ngày 4/7/1407, tại Kim Lăng, kinh đô đầu tiên của Đại Minh từ 1368 tới khoảng năm 1421, Chu Lệ hay Đệ [Zhou Li] miếu hiệu Thành Tổ (Ming Zhengzu, 17/7/1402-22/8/1424) họp triều thần, chấp thuận lời xin của “1120” kỳ lão xứ Giao Châu [An Nam] hơn hai tháng trước là “con cháu nhà Trần đă chết hết không người thừa kế…. Giao Châu là đất cũ của Trung Hoa xin đặt quan cai trị, để sớm được thánh giáo gột rửa thói tật man di.” (1) Hôm sau, 5/7/1407, Chu Lệ ban chiếu thành lập “Giao Chỉ Đô Thống sứ ti” [Jiaozhi dutong tusi], một đơn vị quân chính cấp phủ hay tỉnh [Provincial Commandery]. (2) Và, như thế, sau gần 500 năm tái lập quốc thống dưới tên Đại Việt—hay An Nam, từ 1164/1175—nước Việt trung cổ tạm thời bị xóa tên.
06 Tháng Tám 20204:13 CH(Xem: 309)
một chút tóc cũng rối bời mây hạ / một chút bàn tay vẫy bỗng hiền khô / một chút bờ vai thong dong phố thị / một chút mắt môi thảng thốt đợi chờ /
06 Tháng Tám 20203:58 CH(Xem: 246)
Đừng vì anh / hãy mê mải cánh chim / giông giống nụ hôn ố vàng rơi bay mùa lá /
06 Tháng Tám 20203:37 CH(Xem: 380)
Có thể bây giờ nơi xa đó Ngày chỉ vừa lên trong nắng mai Giọt sương còn đọng long lanh ướt Và café nóng tỏa khói bay.
06 Tháng Tám 20203:32 CH(Xem: 427)
Quên rồi em đã quên tôi / Tháng giêng qua ngõ còn cười tháng hai / Phai thu lạnh sắc trang đài / Trăng ba vòng nguyệt đau hoài cùng trăng
06 Tháng Tám 20202:43 CH(Xem: 339)
Trăm năm ở tạm chốn này \ Trần gian sinh ký đọa đày bể dâu \ Trầm thăng bao nỗi cơ cầu \ Nợ nần chưa dứt nỗi sầu cưu mang \
01 Tháng Tám 202012:48 SA(Xem: 769)
tình yêu một lần có thật thức dậy từ con mắt bình minh cơn mưa đầu mùa nồng nàn cầu vòng hò hẹn
29 Tháng Bảy 202012:55 SA(Xem: 413)
Có dăm hạt thóc cũng vừa / Đơm bông trên đỉnh thượng thừa đêm qua / Chúng sinh đại địa sơn hà / Theo nhau bước xuống chuyến phà đại bi./