- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

BÉ SIU

26 Tháng Giêng 20203:45 CH(Xem: 40911)
Lanh Qua- anh Le Dung
Lạnh quá - ảnh Lê Dung


Đêm thị trấn đã tới lúc tĩnh lặng.

          Những tiếng trao đổi khẽ khàng bằng tiếng Mông, tiếng Dao ở hành lang khách sạn hình như càng làm tăng thêm sự tĩnh lặng của cao nguyên. Khi những người bán hàng rong cuối cùng tìm chỗ ngủ qua đêm, cũng là lúc hắn chậm rãi tháo cục ắc quy vừa xạc xong, lắp vào máy quay, bật chế độ quay hồng ngoại rồi bước ra ngoài cửa phòng khách sạn, thận trọng bước qua những người dân tộc ngồi nằm ngổn ngang. Hắn tìm quanh quẩn một cách vô thức, mặc dù hắn biết rõ không thể tìm thấy người mà hắn muốn tìm ở quanh khách sạn này...

          Đường phố Sapa chìm trong thứ ánh sáng mờ ảo của đèn cao áp lẫn sương mù. Thỉnh thoảng có một hai khách du lịch trở về khách sạn, hoặc một đôi nam nữ Dao đỏ đứng tự tình bên gốc cây. Khí lạnh từ trên đỉnh Fanxipan tràn về thung lũng từng đợt. Hắn hơi co ro, khép chặt lại cổ áo. Hắn đi, lúc thì như người mộng du, lúc thì ra người như cố ý tìm kiếm một ai đó.

          Đã hơn hai ngày nay, cô bé ấy cố tình lẩn trốn hắn... Sương trắng chơi vơi để lộ ra những vùng tối mịt hun hút như các lỗ đen trên thiên hà.

          Đêm nay cháu ở đâu, bé Siu?

          Đây là lần thứ hai hắn có mặt ở Sapa để thực hiện một bộ phim về du lịch. Lần trước hắn chúi mũi vào quay tư liệu, hỏi han, ghi chép. Hắn không có phút rỗi rãi để thưởng thức cảnh đẹp, để thư giãn, nghỉ ngơi như mọi khách du lịch. Bù lại, hắn được các ấn tượng mới mẻ tràn ngập hắn. Hắn vốn không lạ gì cuộc sống của người Mông, người Dao, người Thái vùng Tây Bắc - nơi hắn từng gắn bó gần hết tuổi trẻ với nghề dạy học. Nhưng đây là cuộc sống đồng bào dân tộc ở một vùng du lịch nổi tiếng! Hắn đã thu góp được những tư liệu xác thực, những hình ảnh đẹp, những ý tưởng lý thú cho một bộ phim mà hắn tự an ủi: đây không chỉ là một bộ phim làm theo đơn đặt hàng, mà còn là một bộ phim của riêng hắn. Và mặc dù chưa có dịp được làm khách du lịch Sapa nhưng hắn sẽ là người hạnh phúc hơn tất cả những du khách của Sapa! Lần này, sau mấy tháng, trở lại Sapa để thu nhập những tư liệu hình ảnh còn thiếu, hắn đã có đủ tự tin.

        Nhưng hắn đã bị hụt hẫng, hoang mang, ngay khi xe hợp đồng du lịch hắn đi nhờ dừng lại trước một khách sạn, chứ không phải ở bến xe khách như lần trước. Cả một đám đông bu lại quanh cửa xe. Lớp đầu tiên là những nhân viên nhà hàng khách sạn sấn xổ đưa cácvidít, lớp thứ hai là những phụ nữ dân tộc tay ôm những xấp vải thổ cẩm nặng trĩu chen chúc nhau, lớp thứ ba là những cô bé dân tộc cũng cầm đồ thổ cẩm đang đùn đẩy, giành giật nhau để tiếp cận đối tượng. Và giữa cái đám đông đủ lứa tuổi, đủ loại sắc tộc quần áo đang nháo nhác kêu gọi mời chào bằng tiếng dân tộc, tiếng Kinh lơ lớ, tiếng Anh giả cầy lẫn tiếng Anh khá chuẩn kia, hắn phát hiện ra một cô bé khoảng bảy tuổi, cũng chính bởi sự rụt rè và bé bỏng của em. Em bị lọt thỏm giữa đám người đang sôi sục lên. Thoạt tiên, em có vẻ hoảng sợ. Nhưng sau đó, ánh mắt em ngời sáng một niềm quyết tâm cao độ. Em cũng cố chen chúc với đám con gái lớn tuổi hơn để có thể luồn sâu vào vòng trong. Nhưng rồi em bị gạt bắn ra phía ngoài cùng. Em đứng nhìn, mặt xịu xuống như vừa bị mắng oan.

        Hắn cố lách nhanh ra phía ngoài đám đông, tới gần em bé, không để ý tới những lời chèo kéo và những đồ vật nhiều màu đang bay lượn tứ phía... Đôi bàn tay còn thấp thoáng vết chàm xanh lét đang giữ chắc mấy sợi thổ cẩm và mấy vòng tay giả bạc hạ xuống trước bụng- nơi đeo lủng lẳng túi đựng đồ lép kẹp bằng vải chàm. Thấy hắn đến gần, em bé thảng thốt trước dịp may, em giơ hai bàn tay cầm đồ lên, ngước đôi mắt cầu khẩn. Em làm điều đó như một thứ bản năng, một thói quen, và thốt lên một câu tiếng Anh ngọng nghịu chưa kịp trở thành thói quen: “Please”.

       Hắn kín đáo ra hiệu cho em bé đi theo mình ra chỗ khác. “Cháu mấy tuổi ?”. “Bảy tuổi”. “Cháu tên gì?”. “Siu”. “Nhà cháu ở đâu?”. “Xa lắm”... Cứ thế, em cộc lốc trả lời hắn. Và tình bạn giữa hắn và em bé bắt đầu từ đó. Không hẳn vì hắn đã mua cho em những hai sợi thổ cẩm để em buộc cả hai cổ tay hắn, hay vì mấy cái bánh mỳ ngọt bọc giấy bóng- suất ăn đêm trên toa tàu nằm Hà Nội - Lào Cai hôm trước mà hắn tiện tay quơ theo để phòng bị... Dường như, có một nỗi xót xa dịu dàng nào đó ở hắn khiến em bé tin cậy. Hắn những muốn kể cho em nghe chuyện những em bé dân tộc nhặt từng cánh hoa ban rụng đem về nấu cho cả nhà ăn ngày giáp hạt, chuyện những lán cỏ canh nương để mấy em bé chui ra chui vào như những con thú nhỏ, chuyện con gái hắn đòi mua thêm một đôi giày để làm phong phú thêm cho bộ sưu tập giày dép tuy còn mới nhưng lạc mốt và hắn đã chiếu lên cái đoạn băng về một lớp học vùng cao mùa rét trống huyếch cả tường lẫn mái, mười lăm bộ quần áo chàm phong phanh và mười lăm đôi bàn chân đất nứt nẻ...

Nhưng hẵng cứ từ từ, em bé còn chưa sõi tiếng phổ thông. Thật ra, hắn cũng tỉnh táo đề phòng bởi một kinh nghiệm cay đắng của lần đi trước: hắn đề nghị một cô bé gái trạc 13 tuổi thổi kèn lá đồng để hắn quay phim, cô bé đã mặc cả thẳng thừng: “Xong rồi, ông mua cho tôi chứ ?” Hắn đã phải mua chiếc kèn lá đồng ấy với giá đắt gấp bốn lần trong chợ Sapa. Chưa hết, cô bé còn kỳ kèo đòi hắn mua áo thổ cẩm, không được, đòi mua cho một gói kẹo bán dọc đường, thoả mãn rồi thì cười nhạo hắn với một câu chào điệu nghệ “Good bye!”

        Nhưng với bé Siu, hắn đã nhanh chóng hiểu rằng em chưa bị nhiễm thói “chợ búa” của những cô bé lớn tuổi hơn đã bắt đầu có sự táo tợn gần đến độ trâng tráo... Như một thứ giao ước ngầm, cứ chiều tối, hắn lại ra phía nhà thờ để tìm gặp bé Siu. Mấy ngày qua, tình thân mật giữa hắn và bé Siu mỗi lúc một tăng thêm. Tới lúc, khi hắn dắt em đến những gánh hàng hoa quả, bánh kẹo, em đã biết lắc đầu từ chối thứ này và chỉ tay vào thứ khác mà em thích. Em kể mỗi ngày em bán được trung bình mười lăm nghìn đồng, trừ đi bốn nghìn cho hai bữa cơm bụi. Hắn đã quay chộp được quán cơm bụi dưới mức bình dân ấy. Nhờ giời, những người đàn bà và trẻ con bán rong may mắn có được một quán cơm của riêng mình, giá một suất chỉ bằng một phần tư lon Coca. Em cũng chỉ cho hắn chỗ em hay ngủ qua đêm: một cái hiên của chợ Sapa... Một lần, hắn bắt gặp em đứng lặng trước gian hàng đồ chơi gần nhà thờ. Những con rối, những con búp bê gỗ đủ hình dáng màu sắc làm em mê mẩn. Em ở cái tuổi mà trẻ gái bắt đầu thích chơi búp bê hơn mọi thứ đồ chơi khác! Ống kính máy quay của hắn di chuyển tới gần và đột ngột xoay trực diện mặt em, em mới giật mình. Rồi cười ngượng nghịu. Hắn giơ con búp bê kiểu Nga Matriốtka lên, mở bụng từng lớp ra. Em cười tít mắt. Nhưng khi hắn dúi vào tay em: “Chú mua cho cháu đấy”, thì em rụt tay lại tựa phải bỏng. Hắn ngạc nhiên “Sao vậy?”. Em chỉ bặm môi lại. Gặng hỏi mấy lần, em mới thốt lên vẻ hốt hoảng: “Đắt lắm đấy”. Hắn chợt vỡ lẽ. Hẳn không ít lần, giống như nhiều trẻ gái ở Sapa, quên hẳn mớ hàng đồ chơi thủ công rẻ tiền mình đang có, em đứng trước gian hàng búp bê công nghiệp sang trọng để mơ ước... Sáng nay, trên khu du lịch Hàm Rồng, hắn đến gần một chiếc đu xinh xắn, trẻ con du lịch đang tươi cười ngồi đu cho bố mẹ chúng chụp ảnh. Những chiếc đu ở một nơi đẹp như chốn bồng lai kia đâu đã phải để dành cho những cô bé cậu bé như em! Đôi chân hắn lê từng bước trên hàng trăm bậc đá diễm lệ.

      Lần trước tới đây, hắn đã mê mải quay những giọt sương sớm đọng trên lá sa mu, trên những cánh hoa lan, hoa sương rồng và liên tưởng chúng với một truyền thuyết vùng cao Sapa. Bộ phim du lịch của hắn không thiếu những chi tiết long lanh quyến rũ như thế... Hắn đã thoáng hy vọng nhìn thấy bé Siu đi cùng những người dân tộc ôm đồ thổ cẩm trong dòng người hớn hở kia. Thỉnh thoảng cũng có vài em bé gái dân tộc cỡ tuổi Siu hoặc nhỏ hơn, nhưng là đi theo mẹ để tập dượt cái công cuộc thuyết phục túi tiền của khách du lịch!... Chính lúc đó, hắn trĩu xuống trong một nỗi ân hận. Quả là có đôi lần hắn phản ứng bực dọc vô lý với bé Siu. Đang đi với hắn, nhìn thấy một khách du lịch sang trọng, nhất là khách Tây thì em bỏ hắn, chạy vụt đến, cố nở một nụ cười dễ thương, bập bẹ vài câu tiếng Anh học lỏm, giơ đồ lưu niệm lên một cách kiên nhẫn. Mặt hắn sa sầm, hắn hùng hổ bước tới kéo tay em đi, trước những con mắt ngạc nhiên. Em chống cự một cách yếu ớt rồi lại cun cút đi theo hắn. Nhưng hắn dã làm gì vậy? Hắn có quyền gì? Hắn bực bội với chính hắn... Vài lần hắn đi qua cái Gallery ở phố chính, hắn nhìn vào ngắm những bức tranh, cái thì siêu thực lập thể, cái thì ra mặt “sú-vơ-nia”. Có mấy bức chân dung sơn mài, sơn dầu loại chân chỉ dễ nhìn, vẽ những cô gái nhỏ. Hắn có cảm tưởng anh họa sĩ trẻ này, con ông chủ Gallery Sapa đã chọn chính bé Siu làm mẫu. Đêm nay hắn chợt nhớ đến một bức chân dung vẽ theo lối ấn tượng hậu hiện đại ở Gallery ấy. Gương mặt một cô bé dân tộc được tút-tát những mảng sơn dầu tối sẫm bằng những vệt panh-xô lớn. Loại tranh nào diễn tả đúng thực chất của bé Siu và chúng bạn của em đây ?...

         Hắn cứ miên man với những ý nghĩ quái đản khi xục xạo vô vọng tìm kiếm ở khắp các hẻm tối, nơi có những người dân tộc đang ngủ li bì sau một ngày làm việc và hát hò... Anh chàng họa sĩ kia, nhờ khai thác mảng dân tộc độc đáo, tìm tòi bút pháp lạ, chịu khó vẽ lại có “đầu ra” tại một khu du lịch có tiếng, đã bán được khá nhiều tranh, lại được in vựng tập trong nước và nước ngoài, cũng đoạt vài giải thưởng mỹ thuật châu Á. Thực là một quy trình khép kín, đáng vì nể, đáng được giới nghệ sĩ, giới lý luận lẫn giới kinh doanh văn hóa nghệ thuật phải nghiên cứu học hỏi. Và nền văn hóa đặc sắc của họ cũng đã được trân trọng đưa vào các khu bảo tàng. Trên cổng trời Hàm Rồng Sapa chẳng đã có một khu bảo tàng văn hóa dân tộc như thế là gì! Hắn chợt nảy ra một ước muốn: rồi đây, cả những hàng lưu niệm rẻ tiền và nhỏ xíu nọ cũng sẽ được bày trong một tủ kính sang trọng- như một vật chứng về cuộc vật lộn mưu sinh thấm mồ hôi nước mắt của những em bé gái Sapa!

        Chiều hôm đó, hắn đã thuyết phục được bé Siu đưa về thăm nhà em. Một chiếc xe Minkh chở hai chú cháu trên con đường lởm khởm những đá cuội, đá núi dài gần chục cây số. Một bên là vực thẳm, một bên là núi đá dựng đứng. Tay lái của anh thanh niên người Mông thật cừ khôi, nhưng cũng khiến hắn nhiều lúc hoảng hồn. Tới một chỗ có hẻm xuống vực, anh xe ôm dừng lại, bảo sẽ đợi. Hắn đi sau bé Siu, theo một lối mòn xói lở vì mưa lũ, đá ngổn ngang. Hắn giơ máy quay để ghi lại lúc thì bước chân thoăn thoắt, lúc là cái dáng bé nhỏ giữa núi rừng. Đây là con đường em vẫn đi bộ để ra thị trấn Sapa từ lúc gà chưa gáy. Em đi về nhà mình như chim sổ lồng, không giống những lúc thẹn thò hay vờ bạo dạn trước những vị khách nước ngoài to vật như hòn núi. Sau những đoạn dốc toàn đá là đá, làng Mông hiện ra, và đến những đoạn ngập bùn, ngập phân trâu ngựa. Bé Siu có vẻ vui lắm, vì đã mấy hôm không về. Tiền đâu mà đi xe ôm và mua quà cho các em! Hắn lặng đi trước sự hớn hở của bé Siu lúc chia quà cho hai đứa gái nhỏ lít nhít chạy theo chị và cho đứa em tí hỏn trên tay mẹ. Người mẹ trẻ cười với hắn bằng khuôn mặt đã bắt đầu héo úa vì công việc nặng nhọc và sinh nở. Còn ông bố trò chuyện với hắn bên bếp lửa phải nhờ đến bé Siu phiên dịch thêm. Ngôi nhà đơn sơ và ấm cúng của người Mông bỗng tràn ngập tình thương mến với cuộc trở về chốc lát của bé Siu! Dù chỉ có nửa giờ đồng hồ, mẹ em cũng không bỏ qua việc dạy dỗ con gái trở thành một phụ nữ Mông đích thực: chị đã bắt con phải luyện mấy đường thêu trên thổ cẩm... Tới giờ lên đường, người mẹ nhét thêm vào túi dết của con gái những hàng hoá nhỏ đủ một cơ số để bán trong vài ngày tới. Rồi hắn và bé Siu lại vội vã ra đi. Hắn nhìn lại ngôi nhà Mông truyền thống bằng tre nứa, chỉ có mái phibrô ximăng là hiện đại, và chúng kết hợp với nhau để tôn thêm cái nghèo của một gia đình đông con, sinh sống trông vào mấy mảnh ruộng bậc thang, vài nương ngô sắn cheo leo...

         Tối mịt, hắn và bé Siu mới có mặt ở thị trấn. Không như mọi lần, em từ chối hoặc chạy trốn mỗi khi hắn dắt tay em bước qua ngưỡng cửa nhà hàng, lần này em ngoan ngoãn theo hắn vào ngồi ở một bàn ăn có thắp nến. Hắn để em ngồi đối diện. Khách Tây, khách ta và các nhân viên phục vụ trố mắt lên nhìn. Em ngồi lúng túng, nhưng khi bắt đầu uống lon Coca bằng ống hút, em tự nhiên hơn. Em ăn một cách chăm chú, từ tốn, mút kỹ từng chân xương cá, ăn tới đâu gọn tới đó trên đĩa cho tới khi gần hết con cá sốt. Hắn có dịp quan sát kỹ hơn đôi bàn tay nhỏ có những móng cáu bẩn, những vết nhuộm chàm như máu tụ sắp tan, mái tóc bết nhiều ngày không gội chải. Bỗng có tiếng huýt sáo, em quay ngoắt lại. Ngoài cửa là một tốp thiếu nữ dân tộc tuổi từ 13 đến 16 đứng nhìn vào chằm chằm, vẻ vừa chế giễu vừa đe dọa. Bé Siu xấu hổ, cúi gằm mặt. Bất giác, em vùng đứng dậy, chạy vọt ra ngoài, tay vẫn đang cầm lon Coca. Một đứa con gái ra dáng đàn chị nhất chìa tay ra, chủ động cầm lấy lon Coca dở, hớp một hơi rồi đưa cho những đứa trẻ khác chuyền tay nhau. Rồi nó ghé tai nói cái gì đó với bé Siu, vẻ rất bí mật. Sau đó, nó lôi bé Siu đi xềnh xệch. Em hốt hoảng nhìn hắn như cầu cứu. Hắn chạy ra túm lấy bả vai bé Siu níu lại. Đứa con gái cầm túi xắc đỏ đập mạnh vào tay hắn, rít lên: “Cái lão già này!”. Hắn bỗng nhận ra đứa con gái, còn nó thì nhận ra hắn từ lúc nãy. Mấy lần hắn đã ghi hình cái cảnh nó tuôn ra những câu tiếng Anh sành sỏi với khách du lịch, cứ thấy hắn chĩa máy quay tới là nó quay lại gầm gừ. Mặc dù hắn chưa già chút nào, việc gọi hắn là “lão già” là cách trả đũa thích đáng nhất chăng? Lúc này, không hiểu vì sợ hãi hay vì uy lực che chở của người chị cả trong đồng bọn mà bé Siu đã phục tùng vô điều kiện. Cả bọn dắt tay em chạy đi thật xa. Bé Siu quay lại một thoáng nhìn hắn lần cuối. Phải, đó là lần cuối cùng hắn nhìn thấy bé Siu. Chắc hẳn em đã được một bài học vì sự “chơi trèo”, phản bội lại đồng bọn- mặc dù những đứa lớn tuổi hơn em vẫn có quyền đàng hoàng ngồi uống Coca cùng khách Tây, một khi được mời. Hình như có một thứ luật lệ bất thành văn nào đó giữa những đứa trẻ bán hàng rong ở Sapa, chúng có đẳng cấp, có quy định về sự bảo vệ lẫn nhau, và cả sự trừng phạt nữa.

        Đã hai ngày và ba đêm, hắn đi tìm bé Siu quanh nhà thờ, quanh các biệt thự nhiều dáng vẻ, quanh những con đường âm u rợp bóng cây ăn quả và hoa, hoặc những con đường tấp nập mua bán. Khi chỉ còn đôi ba người phụ nữ dân tộc đang cố gạ bán thêm chút hàng để sau đó ngủ vạ vật qua đêm, thì lúc này, em ở đâu, trong các góc chợ, các hành lang khách sạn, nhà hàng, hay bất kỳ một góc khuất nào có mái che?... Đêm tối Sapa được lấp đầy bởi tiếng khèn dìu dặt và tiếng hát thầm thì của nam nữ Mông, Xá Phó, Dao đỏ... Nỗi lo lắng của hắn thì không gì lấp nổi. Em bé của hắn đi đâu? Hắn biết chắc là em chưa thể về nhà một khi túi đồ hàng chưa xẹp lại.

      Trước mặt hắn, từ trong một khách sạn tối om chuệnh choạng bước ra một ông khách Tây ngà ngà say, có hai cô bé dân tộc trạc 15-16 tuổi, đứa dắt tay đứa kéo thắt lưng. Ông khách để chúng nhảy lên bá vai, ôm cổ, hôn chùn chụt. Những câu tiếng Anh xã giao trong khung cảnh ấy sao mà ngọt ngào đáng sợ khiến hắn rùng mình. Hắn đi sau ba người suốt con đường vắng vẻ dài nửa cây số, máy quay cứ thế chạy trong một nỗi uất hận khó hiểu. Bé Siu của hắn lẽ nào sẽ trở thành một thiếu nữ thớ lợ, thành thạo nghệ thật mơn trớn kẻ có tiền như thế kia?...

       Hắn đi theo ba người qua sân vận động, rồi tiến đến phía nhà thờ. Bất chợt một cô bé quay ngoắt người lại, trừng mắt lên, nhe răng ra gào bằng tiếng dân tộc. Thật không may cho hắn, hắn đã từng học được vài câu nguyền rủa độc địa nhất cũng như vài câu dân ca say đắm nhất của họ từ hơn hai chục năm trước ở vùng tự trị Thái - Mèo cũ! Hắn sững lại như bị một cú giáng trúng đầu. Hắn kiệt sức. Hắn gượng quay trở về khách sạn. Máy quay đeo lủng lẳng trước ngực vẫn chạy, ở chế độ đen trắng, hắn không biết rằng hắn đã vô tình tạo ra những hình thù kỳ dị của mặt đất lúc tối lúc sáng lắc lư theo bước chân, lối dẫn vào Thập Điện Diêm phủ.

        Hắn ngồi phịch xuống ghế, tu hết một cốc nước lạnh. Đập vào mắt hắn là mấy tờ bản thảo của hắn phác những ý tưởng lời bình cho bộ phim tương lai. Hắn thẫn thờ cầm lên một tờ, lướt nhìn như thể may ra hắn sẽ tìm được một gợi ý nào chăng về chỗ ẩn náu của bé Siu.

        ... “Có vị cao tăng Việt Nam trước khi lên đường thăm quan Tây Tạng đã tìm cách lên đỉnh Fanxipan lấy cho được một cây gậy trúc phất trần sống ở độ cao trên ba nghìn mét này làm vật cầu may, bùa hộ mệnh để đến với quê hương xa xôi của các vị Lạt Ma Tây Tạng và các vị Đại sư đã từng đi vào truyền thuyết về các khả năng kỳ diệu vô tận của con người. Phải chăng, không chỉ vị Đạo sư nọ mà mỗi chúng ta cũng có thể tìm thấy ở “mái nhà Việt Nam”kia hình bóng của Tây Tạng huyền bí?”... “Tu viện dòng Tâm Đan xây dựng dở tại ngoại vi thị trấn Sapa là một công trình kiến trúc đá đồ sộ nằm lẫn giữa sương mù và cây, đá. Chính sương mù đã tạo ra một thứ rêu phong đặc biệt màu đỏ tía trên những bức tường đá nham nhở, thứ rêu gắn với một truyền thuyết vùng cao về một mối tình đẹp nhưng dang dở”... “Bãi khắc đá cổ xưa với những dòng chữ lạ, những hình vẽ, những sơ đồ bí ẩn mà theo truyền thuyêt là văn tự hoặc giao ước của một nền văn minh cổ đại, từng làm bất kỳ du khách nào tới đây cũng phải ngẩn ngơ và ao ước được giải mã chúng...” Hắn là một trong những người có ao ước như thế. Nhưng chính hắn thì không giải mã được bản thân mình. Những bí ẩn của đêm Sapa cứ chập chờn trong óc hắn, có lẽ còn khó giải mã hơn những hình thù kỳ lạ trên đá kia!...

       Sự tức giận và tuyệt vọng lúc nãy dần dần được thay thế bằng nỗi xót xa. Hắn thấy cồn cào thương bé Siu. Một ý nghĩ chợt đến: hắn sẽ thuyết phục chủ đầu tư để làm một phim du lịch dành riêng cho các em bé dân tộc ở ngay Sapa, giúp các em hiểu và tự hào với chính mảnh đất quê hương mình. Phải, hắn sẽ kể cho các em nghe về những giọt lệ của nàng Tiên Đá nghe chàng Mây bày tỏ giấc mộng đẹp, nơi đất và trời gặp gỡ... Điều an ủi hắn là, dù bé Siu có thuộc vào tầng lớp nghèo khổ nhất ở vùng đất du lịch này, em vẫn là một trong những cội nguồn tạo ra các truyền thuyết làm say lòng người trên vùng cao Sapa, như từ hàng trăm, hàng ngàn năm nay... Hắn bất giác nhìn xuống hai cổ tay hắn. Hai sợi thổ cẩm do chính tay bé Siu buộc. Với hắn, giờ đây cái vật chứng thương mại này đã được hoàn lại ý nghĩa nguyên thủy: đó là biểu tượng cho sự cầu may, chúc phúc, theo đúng một phong tục đáng yêu của đồng bào miền núi... Hắn nảy ra quyết định sẽ kể lại câu chuyện này cho con gái hắn nghe. Và hắn bất giác gọi thầm: “Siu ơi! Giờ này cháu đang ở đâu?

Mai An Nguyễn Anh Tuấn

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
10 Tháng Chín 202612:47 SA(Xem: 201)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
10 Tháng Chín 202612:22 SA(Xem: 122)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2307)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 1499)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 1368)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2371)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 1878)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2521)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
07 Tháng Tám 202610:29 CH(Xem: 1768)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 2276)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 1768)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11681)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18260)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17306)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2371)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2521)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 3796)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 3824)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
(Xem: 201)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
(Xem: 1877)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 3527)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 3159)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2307)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 2276)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 2426)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 2623)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
10 Tháng Chín 2026(Xem: 122)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1499)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1368)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 2542)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 4370)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14840)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30986)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 37636)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12687)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13994)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 5030)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 7491)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 6634)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 7034)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 7968)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 9718)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 8944)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11841)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.