- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,470,808

NHÌN NHAU TRONG ĐÊM

07 Tháng Hai 202011:53 CH(Xem: 1587)


chan troi - le minh phong
Chân Trời - tranh Lê Minh Phong

NHÌN NHAU TRONG ĐÊM

 

đôi mắt mỏi mệt không thể nhìn xuyên đêm

bóng đêm làm chúng ta mù lòa

hãy im lặng như thiền sư ngồi nghe tiếng côn trùng

nhớ lại đêm trừ tịch

chờ nghe tiếng thú đầu tiên mừng năm mới

ở đây ta chẳng nghe gì cả

trên cao độ của ngọn đồi chỉ có tiếng mưa rỉ rả

ngôn ngữ của im lặng

đôi lúc là ngôn ngữ của bỏ rơi

những người biết sử dụng lời nói đã im tiếng

nhân danh sự tĩnh lặng của triết học

tất cả cúi đầu, úp mặt

sự sòng phẳng chỉ là một hoài niệm đâu đó

dành cho kẻ thơ ngây

và cho kẻ mau quên một thuở nọ lang thang tìm đất hứa

 

xin nhặt sợi tóc em màu đen

trên bàn tay nổi gân bắt đầu run khi cầm lấy một vật

chứng tích của tuổi xế chiều bóng lặng

những cơn gió thổi ngang đời

nhắc nhở những tâm giao và hạnh ngộ

đang tan dần theo nhịp thời gian không gì cưỡng lại

đọc hai lần bài thơ đứt đoạn

hát ca cho những cũ xưa trôi theo năm tháng

tiếng hát của chim, tiếng kêu của thú

như tâm hồn chúng ta ngày mùa đông chẳng còn gì để nói

ngoài ánh mắt nhìn nhau qua màn sương

trong đáy ly cà-phê có những hình hài đọng lại

chúng ta cùng thức với nhau đêm nay

đếm sao trời và đọc lời kinh

thắp nén nhang thờ kính

cố chọn trong lòng một điều gì nhắc lại

thật xa và thật gần

có lẽ sau cùng

chỉ là nét buồn tổ tiên

nơi đất nước cũ xưa ngày hư hao giông bão …

 

thy an

 

 

CÓ NGHE CHĂNG MÙA ĐÔNG

 

có phải chăng mùa thu đã dứt

khi ta đứng một mình bên sông

nghe gió thổi mạnh

tóc bay, thơ rụng

áo vàng phất phơ và đôi tay run run chẳng nên lời

hình như vẫn còn nghi ngờ mùa đông chưa đến

khi buổi chiều mây xuống thấp

và mặt trời ẩn mặt trên thành phố ô nhiễm bụi đường

có phải chăng những tiếng kêu thật nhỏ

vang lên trong tâm hồn

mùa đông những ký ức trở mình

lá vàng, lá đỏ

xào xạc dưới chân

 

miếng bánh ngon, ly cà phê ngọt

khi rượu, khi trà

trong tĩnh lặng, hương vị của bao dung chảy qua miệng

tạm quên những khắc khổ bực mình

im lặng nhìn nhau không nói

con chim nhỏ bay qua đầu thanh thản

nhắc nhở chúng ta còn bên nhau

ngày ba bữa êm đềm, tuổi già trườn nhẹ

thứ hạnh phúc cảm nhận trong đơn lẻ

mỗi người giữ riêng trang trọng

ngồi bên nhau trầm ngâm

tuổi xế chiều như hoàng hôn trên núi giỡn mây

xòe tay đếm lại bạn bè bao nhiêu ngón

cười nói như trong chuyện cổ tích

mai này không kịp tiễn chia tay

 

có nghe chăng mùa đông

thổi qua cánh đồng rơm rạ

thúc dục ta tìm hơi ấm

cho kịp khi trời bão

chiều thắp lửa tiền nhân

rót vào tim những tiếng kêu im lìm

nhắc nhở những tinh anh đang cạn kiệt

hơi thở và sự sống của người và quê hương

 

ngày yêu dấu ơi xin đừng già

trên những dấu ấn của thiên thu…

 

thy an

 

 

NỖI BUỒN CHỨA ĐẦY PHỨC TẠP

  

con chim bồ câu sà vào lồng ngực

kêu hai tiếng hòa bình làm tim đau nhói

từ lâu không nghe loại âm thanh này

vì tâm trí bị giam sau bức tường dày kín

 

có ai đến sau lưng đâm thêm nhát dao

không cứng, không mềm, nhưng thật đau

vết đau làm máu chảy

máu khô nhanh như mưa mùa đông rơi bên thềm

 

gạo lúa không đủ nuôi bầy ngựa ký ức

rong ruổi bao năm vẫn chưa kiệt lực

bờm ngựa đẹp hơn tóc rối

gió thổi bên rừng nghe xôn xao

 

nỗi buồn chứa đầy những phức tạp

mong chút lửa trên ngọn đồi ghi dấu sử thi 

nhiều khi trong bất tận miếu đền nấc tiếng

nhớ tráng sĩ năm xưa ôm kiếm rỉ buồn buồn

 

như hạt bụi ven đường nằm trên rơm rạ

tiếng nói cười chung quanh khi lạ khi quen

con đường góc phố đã quá nhiều dị dạng

tìm mãi không ra buổi cụng ly hào sảng năm nào

 

ừ về đó đi qua khu chợ nhỏ

ngôi nhà màu xanh với khung cửa mọc rêu

còn chút gì đó vấn vương đời mỏi mệt

cất tiếng kêu như con chim đen cánh rũ chân tường

 

thy an

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 2856)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 6811)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
06 Tháng Bảy 20153:00 SA(Xem: 3615)
Ngày 4/7/1407, tại Kim Lăng, kinh đô đầu tiên của Đại Minh từ 1368 tới khoảng năm 1421, Chu Lệ hay Đệ [Zhou Li] miếu hiệu Thành Tổ (Ming Zhengzu, 17/7/1402-22/8/1424) họp triều thần, chấp thuận lời xin của “1120” kỳ lão xứ Giao Châu [An Nam] hơn hai tháng trước là “con cháu nhà Trần đă chết hết không người thừa kế…. Giao Châu là đất cũ của Trung Hoa xin đặt quan cai trị, để sớm được thánh giáo gột rửa thói tật man di.” (1) Hôm sau, 5/7/1407, Chu Lệ ban chiếu thành lập “Giao Chỉ Đô Thống sứ ti” [Jiaozhi dutong tusi], một đơn vị quân chính cấp phủ hay tỉnh [Provincial Commandery]. (2) Và, như thế, sau gần 500 năm tái lập quốc thống dưới tên Đại Việt—hay An Nam, từ 1164/1175—nước Việt trung cổ tạm thời bị xóa tên.
06 Tháng Tám 20204:13 CH(Xem: 492)
một chút tóc cũng rối bời mây hạ / một chút bàn tay vẫy bỗng hiền khô / một chút bờ vai thong dong phố thị / một chút mắt môi thảng thốt đợi chờ /
06 Tháng Tám 20203:58 CH(Xem: 401)
Đừng vì anh / hãy mê mải cánh chim / giông giống nụ hôn ố vàng rơi bay mùa lá /
06 Tháng Tám 20203:37 CH(Xem: 533)
Có thể bây giờ nơi xa đó Ngày chỉ vừa lên trong nắng mai Giọt sương còn đọng long lanh ướt Và café nóng tỏa khói bay.
06 Tháng Tám 20203:32 CH(Xem: 564)
Quên rồi em đã quên tôi / Tháng giêng qua ngõ còn cười tháng hai / Phai thu lạnh sắc trang đài / Trăng ba vòng nguyệt đau hoài cùng trăng
06 Tháng Tám 20202:43 CH(Xem: 480)
Trăm năm ở tạm chốn này \ Trần gian sinh ký đọa đày bể dâu \ Trầm thăng bao nỗi cơ cầu \ Nợ nần chưa dứt nỗi sầu cưu mang \
01 Tháng Tám 202012:48 SA(Xem: 810)
tình yêu một lần có thật thức dậy từ con mắt bình minh cơn mưa đầu mùa nồng nàn cầu vòng hò hẹn
29 Tháng Bảy 202012:55 SA(Xem: 442)
Có dăm hạt thóc cũng vừa / Đơm bông trên đỉnh thượng thừa đêm qua / Chúng sinh đại địa sơn hà / Theo nhau bước xuống chuyến phà đại bi./