- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,577,725

NHÌN NHAU TRONG ĐÊM

07 Tháng Hai 202011:53 CH(Xem: 4892)


chan troi - le minh phong
Chân Trời - tranh Lê Minh Phong

NHÌN NHAU TRONG ĐÊM

 

đôi mắt mỏi mệt không thể nhìn xuyên đêm

bóng đêm làm chúng ta mù lòa

hãy im lặng như thiền sư ngồi nghe tiếng côn trùng

nhớ lại đêm trừ tịch

chờ nghe tiếng thú đầu tiên mừng năm mới

ở đây ta chẳng nghe gì cả

trên cao độ của ngọn đồi chỉ có tiếng mưa rỉ rả

ngôn ngữ của im lặng

đôi lúc là ngôn ngữ của bỏ rơi

những người biết sử dụng lời nói đã im tiếng

nhân danh sự tĩnh lặng của triết học

tất cả cúi đầu, úp mặt

sự sòng phẳng chỉ là một hoài niệm đâu đó

dành cho kẻ thơ ngây

và cho kẻ mau quên một thuở nọ lang thang tìm đất hứa

 

xin nhặt sợi tóc em màu đen

trên bàn tay nổi gân bắt đầu run khi cầm lấy một vật

chứng tích của tuổi xế chiều bóng lặng

những cơn gió thổi ngang đời

nhắc nhở những tâm giao và hạnh ngộ

đang tan dần theo nhịp thời gian không gì cưỡng lại

đọc hai lần bài thơ đứt đoạn

hát ca cho những cũ xưa trôi theo năm tháng

tiếng hát của chim, tiếng kêu của thú

như tâm hồn chúng ta ngày mùa đông chẳng còn gì để nói

ngoài ánh mắt nhìn nhau qua màn sương

trong đáy ly cà-phê có những hình hài đọng lại

chúng ta cùng thức với nhau đêm nay

đếm sao trời và đọc lời kinh

thắp nén nhang thờ kính

cố chọn trong lòng một điều gì nhắc lại

thật xa và thật gần

có lẽ sau cùng

chỉ là nét buồn tổ tiên

nơi đất nước cũ xưa ngày hư hao giông bão …

 

thy an

 

 

CÓ NGHE CHĂNG MÙA ĐÔNG

 

có phải chăng mùa thu đã dứt

khi ta đứng một mình bên sông

nghe gió thổi mạnh

tóc bay, thơ rụng

áo vàng phất phơ và đôi tay run run chẳng nên lời

hình như vẫn còn nghi ngờ mùa đông chưa đến

khi buổi chiều mây xuống thấp

và mặt trời ẩn mặt trên thành phố ô nhiễm bụi đường

có phải chăng những tiếng kêu thật nhỏ

vang lên trong tâm hồn

mùa đông những ký ức trở mình

lá vàng, lá đỏ

xào xạc dưới chân

 

miếng bánh ngon, ly cà phê ngọt

khi rượu, khi trà

trong tĩnh lặng, hương vị của bao dung chảy qua miệng

tạm quên những khắc khổ bực mình

im lặng nhìn nhau không nói

con chim nhỏ bay qua đầu thanh thản

nhắc nhở chúng ta còn bên nhau

ngày ba bữa êm đềm, tuổi già trườn nhẹ

thứ hạnh phúc cảm nhận trong đơn lẻ

mỗi người giữ riêng trang trọng

ngồi bên nhau trầm ngâm

tuổi xế chiều như hoàng hôn trên núi giỡn mây

xòe tay đếm lại bạn bè bao nhiêu ngón

cười nói như trong chuyện cổ tích

mai này không kịp tiễn chia tay

 

có nghe chăng mùa đông

thổi qua cánh đồng rơm rạ

thúc dục ta tìm hơi ấm

cho kịp khi trời bão

chiều thắp lửa tiền nhân

rót vào tim những tiếng kêu im lìm

nhắc nhở những tinh anh đang cạn kiệt

hơi thở và sự sống của người và quê hương

 

ngày yêu dấu ơi xin đừng già

trên những dấu ấn của thiên thu…

 

thy an

 

 

NỖI BUỒN CHỨA ĐẦY PHỨC TẠP

  

con chim bồ câu sà vào lồng ngực

kêu hai tiếng hòa bình làm tim đau nhói

từ lâu không nghe loại âm thanh này

vì tâm trí bị giam sau bức tường dày kín

 

có ai đến sau lưng đâm thêm nhát dao

không cứng, không mềm, nhưng thật đau

vết đau làm máu chảy

máu khô nhanh như mưa mùa đông rơi bên thềm

 

gạo lúa không đủ nuôi bầy ngựa ký ức

rong ruổi bao năm vẫn chưa kiệt lực

bờm ngựa đẹp hơn tóc rối

gió thổi bên rừng nghe xôn xao

 

nỗi buồn chứa đầy những phức tạp

mong chút lửa trên ngọn đồi ghi dấu sử thi 

nhiều khi trong bất tận miếu đền nấc tiếng

nhớ tráng sĩ năm xưa ôm kiếm rỉ buồn buồn

 

như hạt bụi ven đường nằm trên rơm rạ

tiếng nói cười chung quanh khi lạ khi quen

con đường góc phố đã quá nhiều dị dạng

tìm mãi không ra buổi cụng ly hào sảng năm nào

 

ừ về đó đi qua khu chợ nhỏ

ngôi nhà màu xanh với khung cửa mọc rêu

còn chút gì đó vấn vương đời mỏi mệt

cất tiếng kêu như con chim đen cánh rũ chân tường

 

thy an

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 994)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1070)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1779)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5807)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5799)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13157)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30001)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81102)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20217)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
14 Tháng Chín 20218:20 CH(Xem: 323)
Tay Giắng quờ quạng vơ vào ngực áo chị, miệng khô khốc nhóp nhép như bé con đòi bú. Giắng nhắm nghiền mắt thều thào: “nước ước…”. Chị nhìn quanh, cả phòng chả có cái gì gọi là nước. Cái xô nhựa đựng nước nấu ăn cũng khô rang lăn lóc góc phòng. Chị tắc lưỡi vén áo lên, kề bầu ngực căng mọng sữa vào miệng Giắng bóp nhẹ. Một tia sữa trắng thơm nức phun xuống đôi môi khô nứt. Giắng nhóp nhép nuốt. Rồi nuốt ừng ực. Chị áp cả bầu vú vào miệng Giắng. Nắn. Hết bầu này sang bầu kia. Giắng vẫn nhắm nghiền mắt nuốt. Khuôn mặt dần hồng lên. Chị nhìn xuống, mãn nguyện… / Giắng mở mắt ra. Nhìn. Hồi lâu. Bỗng òa khóc, ôm chầm lấy chị nức nở: “Chị ơiiiiii…”