- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

XÍ XÓA MỘT CHIÊM BAO

10 Tháng Giêng 20209:18 CH(Xem: 38651)

XOA CHIEM BAO-INT
Ảnh internet


Đàn ông Mỹ sao lắm người tên John thế. John Wayne, John Kennedy, John Lennon, John McCain… gặp ông Mỹ, em cứ gọi đại là John, bảy mươi lăm phần trăm là trúng phóc.” Cô gái giụi đầu vào vai chồng, hít hà mùi thuốc cạo râu phảng phất trên vai áo anh, châm chọc.

Bóp nhẹ bờ vai vợ, người đàn ông xoay đầu qua, cọ cằm vào đỉnh đầu phủ làn tóc mượt mà của vợ, hít hà, “Chính xác.”

“Tại sao anh lại tên John?” Cô gái hỏi.

“Mẹ anh thích đọc Phúc Âm của thánh John.”

“Thì ra thế.” Câu hỏi đã xưa, câu trả lời đã cũ nhưng lần nào cô gái cũng gật đầu thích thú. Và mẫu đối thoại bao giờ cũng dừng lại ở đó. Nhưng lần này, chồng cô kéo dài cuộc đối thoại, “Còn em, sao em lại tên là Jenny?”

Cô gái ngập ngừng. Tại sao mình lại chọn cái tên ấy nhỉ. Hình như một phần cũng vì thấy lũ bạn, đứa nào cũng có tên tiếng Anh. Chắc vậy. Bạn của cô đang từ Loan, Ngọc, Cúc, Bích, Hạnh… bỗng một sớm một chiều biến thành Loanne, Nancy, Caite, Bianca, Hanna… hết ráo.

“Vì sao em chọn tên Jenny?” Lay nhẹ vai vợ, người đàn ông lập lại câu hỏi.

Cô gái cố nhớ nhưng không được. Và cô cũng không hiểu vì sao mình đang từ Tằm - con tằm nhả tơ của ca dao ấy - bỗng thành Jenny. Hai cái tên chẳng liên hệ xa gần gì với nhau hết. Rồi cô chợt nhớ ra. Cuốn phim coi từ băng hình thuở xa lắc xa lơ nào. Cô thì thầm, “Em thích cô Jenny trong phim Love Story.”

Người đàn ông phì cười, “À, cái cô Jenny ranh mãnh ấy.” Anh ngưng một giây rồi tiếp tục thắc mắc, “nhưng em đâu có ranh mãnh như cái cô Jenny ấy. Em hiền khô.”

Cô gái ngượng ngập mỉm cười. Chồng cô không thấy cái cười ngượng ngập ấy nên vẫn tiếp tục châm chọc, “Suốt trong cuốn phim chả thấy cô Jenny ấy khóc lần nào, còn em tối nào cũng khóc.”

Câu nói của chồng làm hai má cô nóng bừng. Cô nuốt nước bọt một cách khó khăn. Nếu chồng cô ngồi đối diện với cô, thế nào anh cũng thấy hai má cô đỏ hồng. Nhưng hai người đang ngồi bên nhau, trong hàng ghế chữ H, khoảng giữa thân máy bay, nhìn qua khung cửa chữ nhật, thấy được một phần cánh máy bay và khoảng trời xanh biếc, nên anh không thấy được cái màu gấc chín trên hai má cô.

“Chuyến này đi Việt Nam về là không khóc nữa nhé, Jennifer của tôi!”

Chồng cô thì thầm bên tai cô. Anh bóp nhẹ bờ vai cô để kết thúc câu nói.

Chồng của cô vẫn thường gọi cô là “Jennifer của tôi”, My Jennifer, my Jennifer. Nghe dễ thương và đầm ấm, nhưng cô thích được gọi là Jenny hơn. Lý do đơn giản là nếu bảo viết trọn tên của cô, cô sẽ cứ loay hoay với Jeniffer, Jenniffer hay Jenifer, và không biết chắc chữ nào mới đúng là tên của mình.

“Không khóc nữa nhé, Jennifer của tôi!” Chồng cô nhắc lại.

Cô thì thầm, “Yes, sir.”

Người đàn ông xoay đầu nhìn qua khung cửa sổ. Máy bay đang bay qua một đám mây trắng đục. Cô gái nhắm hờ hai con mắt cay sè vì mất ngủ. Hình ảnh những con đường đông kín khách bộ hành hiện ra trong óc cô. Những xe bán thức ăn vặt bên lề đường. Tiếng còi xe, tiếng người réo gọi nhau, tiếng mời chào, tiếng chửi bới. Âm thanh láo nháo trong đầu cô. Lâu lắm mới lại có dịp về lại quê nhà. Và chẳng bao lâu nữa là sẽ lại được nhai cóc, ổi, xoài, me; được ăn bò bía, uống nước mía rồi.

“Hồi này không thấy em chiêm bao,” chồng cô gợi chuyện.

Cô gái mở hé con mắt, “Tại em không kể anh nghe.”

“Sao vậy?”

“Thì cũng chừng đó chuyện.”

Chừng đó chuyện?”

“Bọn trẻ con.”

The kids. Hai chữ tiếng Anh vắn tắt tóm gọn những chiêm bao cô thường gặp. Bầy trẻ con tíu tít trong những chiêm bao không đầu đuôi. Có một nơi – như khung cảnh trong một cuốn phim cũ rích, cứ chiếu đi chiếu lại - cứ dạt vào giấc mơ cô. Một nơi đầy trẻ con. Những đứa trẻ quấn quýt bên cô. Chúng nó chờ cô đến. Những đứa bé chống tay bên khung cửa sổ, rõi con mắt chờ. Chưa gặp thì mong đợi. Gặp thì níu kéo, không cho về. Những đứa bé quay mặt đi như thẹn thùng, khi cô mở miệng toan hỏi chúng một đôi câu. Những đứa bé nhìn không rõ mặt. Những chiêm bao không đầu đuôi.

“Đúng ra em phải là cô giáo.” Chồng cô rì rầm, “Mình thương trẻ con, trẻ con quý mến mình, hai điều lý tưởng cho nghề giáo.”

Cô gái khẽ nhúc nhích, sửa lại thế ngồi, “Em không thích làm cô giáo.”

Người đàn ông lặng thinh nhưng cô gái biết chồng cô đang kiên nhẫn chờ một lời giải thích. Tính của anh ấy là như thế. Chuyện gì cũng hỏi cho ra lẽ. Bắt chờ bao lâu cũng chờ. Có phải đó là đức tính chung của những người đàn ông Mỹ hay chỉ là nét riêng của chồng, cô không biết được.

Vì vậy, sau một lúc lặng thinh, cô giải thích, “Em chán bọn con nít lì lợm, phá phách. Đánh tụi nó thì không được.”

Hai người ngưng trò chuyện. Không gian chùng xuống trong tiếng rì rầm của động cơ máy bay. Sau hàng chục giờ bó gối trong một xó chật hẹp, cả hai cùng ê ẩm. Chợt chồng cô ngồi thẳng người dậy, cánh tay rời khỏi bờ vai vợ, “À, anh hiểu rồi.”

Cô gái xoay qua, nhìn chồng. Khuôn mặt anh nhìn ngang đẹp như một pho tượng vị tướng thời La Mã xưa, nhất là cái sống mũi gồ cao.

Cô che miệng ngáp dài, “Gì anh?”

“Jennifer của anh muốn có một baby.”

Cô gái chớp mắt. Cô bối rối. Lấy chồng biết bao lâu rồi mà nghe chuyện con cái – ngay cả khi những câu ấy từ miệng chồng nói ra – cô vẫn thấy ngượng ngùng. Cô cắn môi mặc cho những ý nghĩ lao xao trong đầu. Cô nhớ vài đứa bạn có chồng ngoại quốc. Họ có những đứa con lai thật đẹp. Những đứa trẻ lai, như sản phẩm pha chế hai sắc thái, dường như thiên nhiên luôn chọn lọc để giữ lại những nét tinh anh nhất. Không gian tĩnh lặng trong tiếng rì rào của động cơ máy bay. Tiếng ngáy ngắt quãng của người khách nào phía sau lưng họ nghe xa xôi, trúc trắc như tiếng một chiếc máy cày bị ngộp xăng.

“Có con lúc này chưa được, Jennifer à.”

“Tại sao?” cô gái buột miệng hỏi.

Người đàn ông quay qua vợ, nghiêng đầu sát mặt nàng, “Em còn bé xíu, làm sao biết nuôi con.”

“Ha!” Cô gái phì cười. “Bé xíu? Anh có nhớ tuổi em không?”

“Em còn baby.”

“Em ngoài ba mươi rồi, chắc anh quên.”

Người đàn ông lắp bắp, “Ba mươi... ba mươi... thì... thì cũng vẫn là em bé.”

“Mình lấy nhau cả chục năm rồi, anh nhớ không?” Cô gái nói, rành mạch như đang trải cả một trang tường trình của một phần đời mình trước mặt người đàn ông mười ba năm trước đã lặn lội từ nước Mỹ no đầy về tận cái xứ sở nhiệt đới ốm o, xin cưới nàng – con bé nửa quê nửa tỉnh có cái tên cũng nửa quê nửa tỉnh là Tằm, con tằm đến chết vẫn còn vương tơ trong ca dao ấy mà - làm vợ. “Mười ba năm rồi đó.” Cô nói.

Người đàn ông tròn hai mắt, “Ờ nhỉ, mười ba năm.”

Cô gái cười, “Bạn em nói đúng. Đàn ông ở đâu cũng giống nhau. Không bao giờ nhớ ngày sinh của vợ, không bao giờ nhớ ngày cưới của hai người.”

Chồng cô nheo mắt, tiếp lời cô, “Và chỉ nhớ ngày ly dị.” Rồi anh quay vội qua, nghiêng đầu, hôn miết lên má vợ. Cái hôn nói với cô rằng Anh đang trêu chọc em đó, Jennifer à. Cô gái bật cười, nhoài người vươn cánh tay sang chồng, bấu lấy làn da dưới lớp áo thun mỏng. Người đàn ông  ngồi yên, đón nhận những cấu xé dịu dàng.

Rồi anh cầm lấy bàn tay vợ, “Mình sẽ làm một em bé ở Việt Nam. Con mình sẽ made in Vietnam.”

Cô phì cười. Những móng vuốt từ đầu những ngón tay cô nới lỏng. Ý nghĩ khôi hài nhưng tuyệt vời. Tuần trăng mật ở quê nhà. Cô thầm nghĩ.

Kéo dài cái khoảnh khắc yên lặng cho những ý nghĩ ấm áp ấy thấm sâu vào từng tế bào, cô gái mơ màng đón bắt những hình ảnh dễ thương trong trí tưởng. Người đàn ông tóc vàng cao lớn đi bên này, người đàn bà tóc đen nhỏ nhắn đi bên kia (đôi giầy cao gót đến gần một gang tay vẫn không đẩy cô cao hơn được tầm vai của người đàn ông) và đứa bé đi giữa, một tay nắm tay người đàn ông, một tay nắm tay người đàn bà. Nắng mạ vàng cái khung hình hạnh phúc. Đó là hình ảnh J & J của tương lai. J & J là Jenny và John đấy. Cô biết trong đầu chồng cô cũng có cùng hình ảnh. Chỉ khác đứa bé của cô là con gái, còn đứa bé trong đầu của chồng cô là con trai. Điều khác biệt duy nhất giữa hai người. Cô thích có con gái để chưng diện cho nó. Chồng cô thích con trai để chơi dã cầu với nó. Hình ảnh ấy có trong giấc mơ của cô từ cái thời mười lăm, mười bảy, thuở mơ ước lấy được người chồng không lê la quán nhậu, không đày đọa vợ con. Có điều những người đàn ông như thế tìm đâu ra ở đất nước mình.

“Con đầu lòng của mình sẽ mang hơi hướm quê mẹ,” chồng cô thì thầm.

Cô gái lặng thinh. Con đầu lòng. Con đầu lòng. Những chữ chạy nhảy tung tăng trong đầu cô. Chồng cô chờ một sự biểu đồng tình từ cô. Anh lại bóp nhẹ vai cô như thầm nhắc. Nhưng cô vẫn im lặng, dán mắt vào màn hình chữ nhật nhỏ nhắn gắn vào lưng ghế người phía trước, nơi đường gạch nối hình ảnh chiếc máy bay màu nâu với thành phố quê nhà chỉ còn một khoảng ngắn.

“Hồi mười bảy tuổi anh làm gì?” Cô gái bỗng hỏi.

“Mười bảy tuổi?”

“Có gì đặc biệt kể em nghe.”

Người đàn ông ngẩn ra một giây rồi thong thả kể cho vợ nghe về những ngày anh còn đi học. Những buổi party đẫm mùi khói cần sa, những trận túc cầu ê ẩm thân mình, và cả những cây bút thử thai có hai cái vạch song song màu đỏ.

“Hư hỏng!”

“Chỉ thoáng qua thôi mà.”

“Vẫn hư hỏng.”

“Còn em, hồi mười bảy tuổi em làm gì, kể anh nghe với?”

Cô gái giật mình.

“Mười bảy tuổi chắc em nhỏ xíu,” chồng cô gợi ý.

Cô gái vẫn lặng thinh. Và mặt cô bừng nóng.

“Mười bảy tuổi em chắc hiền khô; chẳng có cần sa hay thuốc ngừa thai đâu nhỉ.” Chồng cô nói, với một nụ cười.

Cô gái thì thầm, như chỉ nói cho một mình cô nghe, “Năm mười bảy tuổi của em… chẳng có gì đáng nói.”

Người đàn ông lại bóp nhẹ bờ vai vợ. Hết bóp rồi lại xoa như những buổi tối xoa dầu nóng cho vợ lúc vợ than mỏi hai vai. Và anh không hiểu tại sao vợ mình đang chuyện trò tíu tít như đứa bé được bố mẹ dẫn đi Disney World, bỗng dưng buồn ủ rũ. Anh sợ những cơn buồn ủ rũ kéo dài hàng tuần lễ của vợ. Anh sợ những triệu chứng mà bác sĩ gia đình bảo là dấu hiệu của chứng trầm cảm: buồn bã, mất ngủ, hay khóc và lên cân. Jennifer của anh đã vài ba lần đi qua những đoạn đường quanh co ấy. Chuyến về thăm lại quê nhà này, anh hy vọng, sẽ là phương thuốc giúp giải tỏa chứng bệnh nhập nhằng như hồn ma lâu nay không ngừng ám cô vợ bé bỏng của anh.

Bước ra khỏi phi cơ, họ lọt ngay vào cái khung ngột ngạt của đất trời nhiệt đới và chìm lỉm vào vũng âm thanh náo động của đô thị. Cô gái kỳ kèo thật lâu với người tài xế tắc xi. Xa quê hương lâu lắm rồi nhưng cô vẫn còn giữ được cái lanh lẹ, khôn khéo của những người ngày đêm phải đương đầu với những gian xảo, lọc lừa.

“Nói thằng Mỹ cao như cây cột đình kia khiêng cái va-li lên xe mau đi,” người tài xế tắc xi đứng phía cuối xe, phì phèo điếu thuốc, nhấm nhẳng.

Cô toan nói với chồng nhưng anh đã loay hoay dùng tay gạt những thứ lặt vặt – ly uống nước, chai lọ, hộp vuông, dây câu bình điện xe, giấy vụn rải đầy trong cốp xe đã mở sẵn - qua một bên, và nhấc bổng cái va-li bỏ vào cốp xe.

Chiếc xe luồn lách ra khỏi khu đậu xe phi cảng, lao vào con đường chật ních xe cộ. Những con đường nồng mùi khói xe.

Chồng cô chỉ cái đồng hồ cạnh tay lái, hỏi người tài xế một câu tiếng Anh. Người tài xế nhìn thẳng phía trước, lặng thinh. Cô gái lập lại câu hỏi của chồng, “Sao không mở đồng hồ vậy anh?”

“Hư mẹ nó rồi,” người tài xế trả lời, cộc lốc.

Cô xoay qua vắn tắt giải thích cho chồng. Anh gật gù trong lúc con mắt dán vào khung cảnh hai bên đường. Bàn tay anh nắm lấy cổ tay vợ như sẵn sàng kéo cô lẫn vào đám đông nhộn nhịp bên đường. Cô gái hồi hộp nhìn hai bên khi chiếc xe luồn lách giữa dòng xe cộ, và nín thở khi xe chạy ào qua một ngã tư lúc ngọn đèn giao thông còn đỏ chói.

“Bố mẹ em có biết mình về thăm không?” Chồng cô hỏi nhỏ vào tai cô.

“Một bất ngờ.” Cô trả lời ngắn, gọn.

“Bố mẹ sẽ vui.” Chồng cô nói bằng tiếng Anh như hai người vẫn thường trò chuyện. Chỉ có hai chữ “Bố Mẹ” thì anh dùng tiếng Việt. Cách phát âm ngọng nghịu của chồng làm cô buồn cười. Cả tuần nay cô cố tập lại cho anh những chữ quen thuộc mà buổi đầu đi hỏi vợ anh đã thuộc nằm lòng. Chao bó, chao me, bó mè khoe khoong?

Cô với tới trước bảo người tài xế ngừng trước một cửa tiệm tạp hóa. Người tài xế cằn nhằn nhưng cũng luồn lách tìm cách cho xe ngừng lại bên lề đường, bất chấp tiếng còi xe láo nháo chung quanh. Cô bảo chồng chờ trong xe và chạy vội vào trong cửa tiệm. Tiếng điện thoại di động reo vang cùng lúc cô ra tới. Cô mở cửa lủi nhanh vào chỗ ngồi trong lúc người tài xế vừa trả lời điện thoại vừa lái xe nhập vào dòng xe cộ. Những câu đối thoại một chiều. Kẻ nào đó ở đầu dây bên kia rủ rê. Đầu dây này người tài xế vừa xoay dọc xoay ngang tay lái, vừa hằn học sủa vào ống nghe điện thoại. Mẩu đối thoại khiến cô nhíu mày. May mà chồng cô không biết tiếng Việt. Nhậu cái con mẹ gì được. Đang có khách, đi thế đéo nào được. Đang chở vợ chồng thằng Mỹ ở phi trường về. Đại loại những câu không đầu đuôi như thế. Và dấu chấm sau mỗi câu là một tiếng chửi thề và một cú đảo đầu xe, tránh xe khác hoặc tránh người đi bộ đầy ngoạn mục. Chồng cô không hiểu mẩu đối thoại nên anh chỉ vừa nắm cổ tay vợ vừa thích thú nhìn ra đường phố náo nhiệt chung quanh.

Xe chạy hoài, chạy mãi. Cuối cùng thắng gấp ở chân một chiếc cầu gỗ bắc ngang con sông đen ngòm.  

“Phải đây không?” Người tài xế gắt.

Cô gái nhấp nhổm nhìn qua cửa sổ. Cô ngó ngang ngó dọc. Khúc đường đầy những nếp nhà cao thấp không đều. Không chút hình ảnh quen thuộc nào. Những chân cầu gỗ đen đúa, vênh vẹo. Bờ nước dập dềnh rải rác những đứa trẻ sắn quần tới bẹn, mò mẫm tìm bắt thứ gì đó dưới dòng nước ngầu đục.

“Sao thấy lạ quá.” Cô lẩm bẩm.

“Dưới chân cầu là ở đây chứ còn chỗ đéo nào nữa.” Người tài xế nói.

Không để ý đến ngôn ngữ sừng sẹo của người tài xế, cô gái săm soi nhìn những trụ chân cầu bằng gỗ lỗ chỗ, như thể đã mục ruỗng bên trong và sẵn sàng sụm xuống. “Chắc đúng! Chắc chỗ này…”

Chồng cô nắm lấy tay cô, “Chuyện gì vậy? Everything’s okay?”

Cô đẩy cánh cửa, ló đầu ra ngoài, “John, mình xuống đây.” Và cô nghiêng đầu nói với người tài xế, “Anh chờ tụi em một chút…”

“Không,” người tài xế ngắt ngang. “Trả tiền, người ta còn phải đi.”

Cô hấp tấp mở cái túi xách lấy tiền trả trong lúc chồng cô kéo cái va-li ra khỏi cốp xe.

Sau vài phút nhì nhằng chuyện tiền bạc với người tài xế, cô gái lê từng bước xuống bờ cỏ lề đường. Những bước chân cô nặng nề, như thể những nhúm cỏ dưới chân đua nhau níu gót giầy cô lại. Chồng cô  hì hạch lôi cái va-li có bánh xe trên lớp cỏ úa vàng, ngơ ngác hỏi, “Mình đi đâu đây?”

Cô gái không trả lời, mắt nhìn trước nhìn sau tìm kiếm. Chồng cô lếch thếch theo sau. Những con mắt người qua đường dán vào họ. Đám trẻ con lếch thếch nghểnh cổ nhìn. Những con mắt trẻ thơ làm cô bối rối. Cô đi tới sát bờ nước. Nước sông đen ngòm, bập bềnh rác rưởi. Những bụi cây rậm lá mọc lan cả xuống nước. Chồng cô dáo dác nhìn cô. Nắng sớm vắt ngang vai áo cô một vạch vàng óng ả. Cái mát dịu sớm mai còn thấp thoáng trong không khí. Cô mở cái túi mua đồ trong tiệm tạp hóa ban nãy, lấy ra một bó nhang đỏ thẫm và một bao diêm. Cô rút một cây nhang ra khỏi bó, rồi đứng im suy nghĩ. Rồi cô rút thêm hai cây nữa, quay qua đẩy cái bọc vào tay chồng. Rồi cô loay hoay quẹt diêm và mồi ngọn lửa vào đầu những cây nhang. Cô đăm đăm nhìn ba đầu nhang cháy đỏ, tỏa ra sợi khói mỏng trắng đục. Phía sau sợi khói trắng như sương mù sớm mai ấy, lờ mờ bóng chồng cô, đang trố mắt nhìn.

Cô xoay người nhìn xuống dòng nước. Nước đen nhập nhòa bóng một khung trời xanh thẫm. Những giọt nước mắt ứa ra, lăn dài trên má cô. Ba cây nhang nằm giữa hai bàn tay chắp lại. Cô lầm thầm khấn vái. Chồng cô tròn con mắt ngạc nhiên. Rồi anh lại sát bên, đặt tay lên vai vợ. Everything’ll be okay. Everything’ll be okay. Anh thì thầm trong tóc cô. Chồng cô vẫn vậy, mỗi lần cô buồn, anh chỉ có mỗi một câu trấn an. Everything’ll be okay.

Nước mắt vẫn tràn trề hai má, cô đứng như pho tượng. Gió khẽ vờn sợi tóc trên trán cô. Gió sớm mai hây hây hai má lạnh tê vì nước mắt. Khung cảnh chung quanh cô tan lẫn vào nhau. Rồi gió ngưng thổi. Mây trên cao ngừng trôi. Âm thanh đọng lại. Cả một trời tĩnh lặng. Những sợi tóc ngừng bay.

Rồi khoảnh khắc trầm mặc trôi qua. Những đám mây lại lững lờ trôi. Gió ban mai lại hiu hiu thổi. Những sợi tóc trên trán cô gái lại phất phơ bay.

Chồng cô bóp nhẹ bờ vai cô, “Everything’ll be okay!

Cô không trả lời, hai bàn tay vẫn nhịp nhàng vái lạy, môi vẫn mấp máy những lời thì thầm chỉ một mình cô hiểu. Rồi cô quỳ một chân xuống nền đất ẩm sát bờ nước, cắm những cây nhang xuống đất, đứng dậy, chùi nước mắt, kéo tay chồng, “Mình về thôi.”

Chồng cô một tay kéo chiếc va-li, một tay đặt trên vai cô, lặng thinh.

“Hy vọng chúng nó không còn phá em nữa.” Cô nói nhỏ.

Chồng cô cúi đầu xuống, sát mặt cô, “Ai phá em?”

“Bọn trẻ.”

Chồng cô ngẩn người ra một lúc rồi ngập ngừng, “Bọn trẻ trong chiêm bao?”

Không trả lời câu hỏi của chồng, cô chỉ xuống bờ đất đen xỉn, nơi vạt nước dập dềnh những cọng rác và lá cây rã mục, thì thầm, “Em bỏ ở chỗ này!”

Chồng cô nghiêng đầu, ngóng câu giải thích kế tiếp. Giọng cô ngậm ngùi, “Biết làm sao được. Lúc ấy em chưa đầy mười bảy tuổi. Đêm hôm ấy mưa to lắm.”

“Mà… sao?” Chồng cô lắp bắp.

Cô vẫn lầm thầm nói, như chỉ cho một mình cô nghe, “Chẳng biết lúc em đi rồi nó có khóc không. Mà chẳng biết có ai nghe nó khóc không nữa. Nó chưa có tên nên lúc vái, em chẳng biết gọi nó là gì, mà em cũng ngại xưng là mẹ… Chắc nó cũng xí xóa cho em.” Cô lập lại hai chữ mà ngày chưa lấy chồng, hầu như ngày nào cô cũng nghe mẹ cô nói: Xí xóa. Xí xóa cho nó đi mà!

Rồi cô lẩm bẩm, “Chẳng biết bây giờ nó ở đâu.”

Chồng cô gằn giọng, “… nào?”

“Mà cho dù ở đâu thì chắc rồi cũng tha thứ cho em, phải không anh?”

Chồng cô buông cái va-li, dùng cả hai tay níu lấy vai áo vợ, sôi nổi như đang cố giải thích một điều vượt ra ngoài khung vuông trí tưởng tượng của con người, “Ừ, sẽ tha thứ cho em. Ai cũng sẽ tha thứ cho em…”

Và anh gằn giọng, “Nhưng… là ai?”

“Con em chứ ai vào đây nữa,” cô gắt.

Rồi cô gái có cái tên rất Việt Nam – Tằm, con tằm nhả tơ – và cái tên rất Mỹ - Jenny, như cô Jenny trong phim Love Story - lại sụt sùi, đưa tay gạt nước mắt, và thì thầm như chỉ nói cho một mình cô nghe, “Nó sinh thiếu tháng. Chẳng khóc lóc gì hết. Không khóc thì người ta biết đâu mà tìm!”

Ngày Từ Mẫu 2018

Hoàng Chính

Ý kiến bạn đọc
07 Tháng Hai 202010:24 CH
Khách
Thưa anh Hoàng Chính,
Anh vẫn khỏe chứ, phải khỏẻ để mà tiếp tục viết, tôi cũng hay đọc bài của anh, thich văn phong, văn mạch của anh. về văn chương thì tôi tôn anh là sư phụ. còn văn chương của tôi thì được xếp vào loại sư tử! Thật rõ chán phải không anh?
Anh ở Canada thì phải ? Tôi cũng vậy, trước đây đi làm nên bỏ dở vài quyển, nay viết cho xong, nếu như anh cho phép tôi gởi cho anh nhận xét và góp ý với tôi thì ôi thôi, cám ơn anh lắm lắm, tôi có cái tên nằm ngay trên đầu mọi người cứ tối đến ngửa cổ lên trời là anh nhìn thấy thằng tôi: NGÂN HÀ
Tôi biết anh bận lắm, nhưng anh cố gắng nhé.
Chúc anh khỏe re.
Ngân Hà.
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 1425)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
28 Tháng Hai 20263:32 SA(Xem: 1252)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
28 Tháng Hai 20262:58 SA(Xem: 1217)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 1718)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
19 Tháng Hai 202611:49 CH(Xem: 2240)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 1950)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 2128)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 2104)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
10 Tháng Hai 20263:12 SA(Xem: 1323)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
08 Tháng Hai 202610:45 CH(Xem: 2215)
Xuân đến rồi sao chẳng thắm hoa / Đây đổ quyên / Đây rừng Bà Nà / Xuân chưa thắm nhưng lòng đã thắm / Bốn mùa mưa nắng bốn mùa hoa
16 Tháng Tám 2025(Xem: 7623)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14736)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 13518)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14060)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 1717)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
13 Tháng Hai 20262:55 CH(Xem: 1950)
Tháng Hai / ru nhẹ tình thơ / khẽ nâng vạt tóc / ngủ nhờ trên vai / Tóc thơm một đóa / trăng cài / Đêm quỳnh / thoảng mộng mơ hoài trong ta
13 Tháng Hai 20262:13 CH(Xem: 2128)
Inoue Seigetsu (1822−1887) là người có học thức cao và là chuyên gia về thư pháp. Vì vậy, ông được các nhà bảo trợ nghệ thuật giàu có chào đón và thường đến thăm các nhà thơ và học giả, dạy kèm các nhóm thơ haiku và giảng dạy Nho giáo. Seigetsu đã viết khoảng 1.700 bài thơ haiku. Ông ngưỡng mộ Basho nhưng vẫn có phong cách riêng.
13 Tháng Hai 202611:18 SA(Xem: 2104)
Tháng chạp ấm áp ngọn đèn / Cơn mưa tha hương lao xao song cửa / Như có tiếng vó ngựa hồng tan vỡ / Bóng mẹ ngồi thao thức cánh nhân duyên
(Xem: 1252)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 2240)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 1567)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 2057)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 1424)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
07 Tháng Hai 202610:25 CH(Xem: 2224)
Trường tiểu học Sunshine Elementary. Một buổi sáng như bao buổi sáng khác, cô giáo Lopez viết lên bảng đề luận: “Viết Về Nước Mỹ.” Lớp học lập tức xôn xao bàn tán. Có đứa quay qua hỏi bạn, có đứa chống cằm nhìn ra cửa sổ như tìm kiếm điều gì . Riêng Khang chỉ nhìn hàng chữ trắng trên nền bảng xanh . Em không hỏi, cũng không biết mình sẽ viết gì. Nhưng khoảnh khắc rất đỗi bình thường ấy lại in sâu vào trí nhớ em.
07 Tháng Hai 20269:31 CH(Xem: 2788)
Chiếc xe đò nhỏ lừ đừ chạy vào bến vắng đang thiu thiu ngủ dưới ánh nắng đã lợt màu của chiều ba mươi Tết. Đây là chuyến xe cuối cùng trong ngày, trong tháng, trong năm cũ. Bến xe vắng hoe. Giờ này còn ai ra đây làm gì nữa. Tiếng xe thắng mạnh trước khi ngừng hẳn lại khiến một vài hành khách đang ngủ vật vờ giật mình choàng tỉnh dậy. Ai nấy đều đứng cả lên, quơ tay lấy hành lý và lục tục ra khỏi xe.
26 Tháng Mười Một 202511:06 CH(Xem: 4381)
Cô bé Lò Thị Chang đã sống ở chỗ cao nhất trên mái nhà sàn của một gia đình Thái đen gồm 5 người suốt ba ngày đêm. Nước lũ ngập vào bản em từ hôm ấy đến tối nay chỉ rút được chút ít, rồi như trêu ngươi, làm lộ rõ hơn các mái nhà sàn và các ngọn cây cao đang chơi vơi tô điểm cho những xác trâu bò, gà lợn nổi lềnh phềnh - tựa cuộc “trình diễn” chưa bao giờ có của bản em giữa đất trời xám xịt…
28 Tháng Hai 2026(Xem: 1217)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
10 Tháng Hai 2026(Xem: 1323)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 1811)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
07 Tháng Hai 2026(Xem: 2378)
Bụt trong văn hóa Việt Nam là một hiện thân vừa nhân hậu vì hay cứu khổ giúp đời mang hình ảnh đức Phật, vừa là vị thần linh có quyền phép trấn tà, trừ vọng mang hình ảnh thần thánh. Đó là biểu tượng hiền thần, hỷ thánh trong nếp sống tinh thần dân gian Việt Nam. Hễ nơi nào có đau khổ, bất công, nguy khốn là có Bụt hiện lên cứu cấp. Người Việt đi vào đời bằng Bụt, rồi đi sâu vào đạo bằng Phật.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 10204)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 26698)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 33303)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 33322)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 8014)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 10378)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 1717)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 3339)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 3300)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 3168)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
(Xem: 3512)
Trong phiên bản Dream Pop này, bài thơ Mỹ Hương được khoác lên một lớp không khí mờ ảo và chậm rãi, như bước chân ai đó đi giữa màn sương lạnh của San Francisco. Giọng nam trầm thì thầm, hoà vào reverb dày và những lớp ambient pads lơ lửng, tạo cảm giác như một ký ức đang tan ra trong ánh đèn vàng trên cầu Golden Gate.
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 4967)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 4515)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 5856)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.