- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

CON CHUỘT NHẮT TẬT NGUYỀN

02 Tháng Mười Một 20193:22 CH(Xem: 44533)

photo KIEN NGO
Photo by Kien Ngo
Chú mua cây quạt đi chú; mua dùm con...”

Tôi trở về. Hai mươi năm sau tôi mới trở về. Chợ Bến Thành, thời trẻ chưa lần nào ghé qua. Lẩn thẩn thế nào mà lại lạc vào đây. Chắc tại nắng gắt, đôi giầy mòn gót đưa tôi trốn vào đây chăng. Ngoài kia trời trong nhưng oi. Và nắng bong da. Trong này, những chiếc quạt vắt vẻo trên trần ném chút gió ong óng vào khoảng hành lang hẹp.

“Trời nóng, chú mua dùm con cây quạt đi chú.”

Tôi cúi xuống. Một con bé loắt choắt bám lấy chân. Bàn tay chỉ còn ngón cái xùi lên như cái dùi trống, bốn ngón kia dính vào nhau chằng chịt những xớ thịt xám ngắt. Hai cái dùi trống kẹp chắc một chiếc quạt nan. Thấy tôi để ý tới, hai con mắt hạt nhãn lấp lánh những tia vui. Hai cái dùi trống cử động, chiếc quạt mở ra. Hình gì thế này. Tôi không dám nhìn vào đôi hạt nhãn long lanh. Tôi chăm chú vào tranh vẽ trên nền quạt giấy. Con bé mở rồi xếp những nan quạt một cách thiện nghệ như đang làm ảo thuật. Hình gì thế nhỉ. Những nan quạt khép mở. Hình ảnh nhập nhòe. Chùa Một Cột. Đúng là Chùa Một Cột. Vua nào đó nhà họ Lý năm xưa đã có công xây lên ngôi chùa cho hậu thế có cảnh mà vẽ vào những tranh sơn mài, lên những tà áo, vào những chiếc quạt giấy bán rong trên đường phố.

“Chú mua dùm con cây quạt đi chú. Trời nóng chú ơi.”

Thì trời nóng. Cũng may mà ban nãy còn có những cơn mưa bóng mây. Tôi rờ rẫm những nan quạt mỏng như giấy. Tôi chần chừ. Sẽ làm gì với cái quạt mỏng như đồ chơi thế này. Tôi không nhìn Chùa Một Cột nữa. Khẽ đẩy con bé sang một bên, tôi dợm bước. Con bé lẻo mép; con chuột nhắt tật nguyền lẵng nhẵng đi theo tôi. “Chú ơi!”

Tôi bước chậm lại, “Bao nhiêu?”

“Mười lăm ngàn chú ơi.”

Tôi chớp mắt, đếm thầm. Mười lăm ngàn tiền Việt Nam là bao nhiêu tiền Canada nhỉ. Một trăm đồng Canada hôm qua đổi được một triệu mốt tiền Việt Nam. Vậy thì mười lăm ngàn tiền Việt Nam là bao nhiêu tiền Canada. Tôi dốt toán từ hồi còn đi học. Ông thầy toán gọi lên bảng hai đứa học trò, một trai một gái. Vạch phấn trắng ngăn đôi cái bảng đen. Biên giới thọ thọ bất thân. Một đề toán chung.

“Mua dùm con nghe chú.”

Con mắt hạt nhãn long lanh. Bao nhiêu tuổi mà bé như con chuột nhắt. Đã thế lại còn tật nguyền. Tôi không dám nhìn vào đôi hạt nhãn long lanh. Để chú tính cái đã. Tôi lầm thầm. Chung một đề toán. Đứa con trai và đứa con gái. Thầy đọc cái đề. Hai đứa cùng giải trên bảng, trước mặt bàn dân thiên hạ. Cả lớp hồi hộp. Chỉ sai một cái dấu là bàn tay của ông thầy chắc như cái vồ vỗ lên lưng rát bỏng. Con trai thì như vậy. Con gái, thầy đánh lên mông. Chắc cũng rát bỏng. Tôi chưa có dịp hỏi bất kỳ cô bạn học nào đã từng bị thầy đánh xem có rát như cái vỗ lên lưng những đứa học trò con trai ốm o xương cốt.

“Chú mua dùm con.” Con chuột nhắt nhắc nhở, cái quạt nan mở ra, đóng lại. Hình ảnh Chùa Một Cột nhập nhoè như khung cảnh trên màn ảnh lúc đoạn phim sắp đứt.

“Có mười lăm ngàn, chú ơi. Chưa tới một đô Mỹ mà chú, mua dùm con đi chú.”

Tôi nhìn quanh. Một cô bán hàng nhìn tôi, cười. Quầy hàng thời trang phụ nữ. Tôi biết nhờ hàng chữ Shop Thời Trang vằn vèo trên tấm bảng chữ nhật treo ở lối vào. Những chiếc áo ngực ren đen đung đưa mỗi lần chiếc quạt máy xoay qua, ném cho một vụn gió.

“Chưa tới một đô Mỹ mà chú,” con chuột nhắt tội nghiệp léo nhéo bên tai. Hai cái dùi trống cặp chiếc quạt nan, dúi vào tay tôi.

Tôi liếc nhìn cô bán hàng. Nụ cười vẫn còn đó. Cái mụn ruồi nhảy nhót trên cánh môi trái. Chắc cô cười tôi dốt toán. Ngày xưa mà như vậy, bàn tay thầy đã vỗ vào lưng. Rát bỏng.

Tôi bối rối luồn bàn tay vào túi quần, mò mẫm từng tờ giấy mềm nhũn. Tờ giấy bạc nhỏ nhất là tờ hai chục ngàn. Tôi rút ra một tờ. Giấy hai chục ngàn màu xanh. Tia sáng nào lấp lánh trong đôi mắt trẻ thơ. Con chuột nhắt kẹp cái quạt nan vào nách, để bàn tay dùi trống thọc vào cái túi ni-lông nhàu nát.

“Để con thối tiền cho chú.”

“Khỏi.”

“Khỏi hả chú?” Con chuột nhắt ngơ ngác.

“Khỏi thối tiền.”

“Dạ, cảm ơn chú.” Con chuột nhắt dúi chiếc quạt nan vào tay tôi.

Tôi khẽ đẩy nó ra, “Khỏi.”

“Sao vậy chú?” Mây mù chợt giăng trong con mắt trẻ thơ. Chút sợ hãi thất thần. Bé con, không bán được món hàng, tối về có được ăn cơm không? Tôi thầm nghĩ.

“Giữ dùm chú.”

Tôi đẩy nhẹ con chuột nhắt qua một bên. Chiều rồi. Tôi còn bao nhiêu chỗ phải đi. Nghĩ cũng buồn cười. Ngày xưa ở Sài Gòn hai mươi mấy năm trời mà chưa một lần bước chân vào chợ Bến Thành. Bây giờ thì ghé thăm cứ như là khách lạ.

“Chú ơi!”

Gì nữa đây, con bé lẵng nhẵng này.

“Không mua nữa mà!”

“Hỏng có,” con chuột nhắt nhanh nhảu.

“Vậy cháu muốn gì?” Tôi vừa hỏi vừa liếc cô gái trong quầy hàng quần áo thời trang phụ nữ. Bao nhiêu áo quần xanh xanh, đỏ đỏ. Bao nhiêu là áo nịt ngực ren trắng trắng, đen đen. Cái mụn ruồi trên khóe môi lăng xăng khóe cười.

“Con giữ dùm chú rồi biết chú ở đâu mà trả.” Con chuột nhắt liến thoắng cái miệng.

“Khỏi trả.”

“Khỏi trả hả chú?”

“Khỏi.”

Con bé cười và xoay người lẩn thật nhanh vào đám đông. Bây giờ tôi mới nhận ra cái đầu tóc rối bù, chiếc áo vải hoa lòe loẹt rộng thùng thình có miếng vá hình vuông màu tím to như bàn tay sau lưng. Con chuột nhắt mang trên lưng khoảnh vườn có hoa tím nở giữa loài hoa dại.

“Mua quần áo đi anh.”

Tiếng cô gái trong quầy hàng thời trang phụ nữ vọng ra. Cái giọng đăng đắng vị cà phê pha đặm làm những bước chân người đàn ông sựng lại.

Người đàn ông nhìn những chiếc áo ngực ren đen, “Tôi đâu mặc được những thứ này.”

Cô gái uốn éo thân người, luồn lách giữa những sạp quần áo, thoăn thoắt bước về phía người đàn ông. Những bước chân nhún nhảy. Chiếc mụn ruồi rung nhẹ như giọt nước lăn tăn. Mái tóc buông vào không gian lâng lâng mùi vải mới quyện chút hồ thơm tho như trang vở người học trò buổi đầu niên khóa.

“Thì mua cho bạn gái.”

Người đàn ông lúc lắc cái đầu. Những quầy hàng sặc sỡ vải vóc xoay vòng vòng. Tôi thấy chóng mặt. Thì ra người đàn ông là tôi. Tôi ngúc ngắc cái đầu. Bạn gái. Tôi có bạn gái không nhỉ. Anh đi bao lâu. Người con gái nào hỏi thế lúc đi với tôi ra phòng bán vé trung tâm dịch vụ du lịch. Biết có an toàn không mà đi. Ánh mắt nào ngại ngần. Ánh mắt người con gái. Ánh mắt theo tôi tới tận chốn này.

“Mua quần bò này đi anh.” Cô gái vung vẩy ống chiếc quần jeans xanh nhạt treo trên sợi dây dăng ngang trần hàng quán, “Mua cho bạn gái đi anh.”

Nhớ cẩn thận. Người con gái nào bên kia đại dương đã dặn dò như thế.

“Em nghĩ size này vừa chị ấy đó anh.”

Cô gái tháo hẳn chiếc quần jeans từ cái móc treo trên trần xuống. Cái size của người con gái ấy thế nào nhỉ. Cái người đã dặn dò tôi ấy mà. Tôi ngẫm nghĩ. Chiếc quạt trần ném ra những vuông gió mỏng mảnh. Những vuông gió mỏng mảnh đẩy đưa những chiếc bọc ni-lông loạt xoạt.

Cô gái bán hàng nhìn lướt những mặt hàng trên sạp, bốc lên một món và nhanh nhẹn gỡ chiếc áo ngực ren đen ra khỏi cái bọc nhựa. Và một tay mảnh áo ngực một tay chiếc quần jeans, cô ướm hai thứ ấy lên ngực tôi. Tôi đứng sát quầy hàng, không còn chỗ nào để tháo lui. Mùi vải mới nồng nàn. Cô dựa sát người tôi. Cái đầu có những sợi tóc ngã màu vàng nâu. Mái tóc nồng mùi thứ dầu thơm lạ lẫm. Những sợi tóc chạm nhẹ lên má tôi.

“Em cũng cao bằng chị ấy phải không nào? Để em thử dùm chị ấy nhé.”

Tôi lắp bắp. Tôi nghe tôi nói gì đó. Cũng có thể tôi chẳng nói gì. Chỉ có những lời lao xao trong đầu. Và môi tôi mấp máy.

“Anh coi cửa tiệm dùm em, em thử mấy thứ này cho anh xem.”

Cô gái quay mặt thoăn thoắt bước đi. Chiếc bóng thon gọn ấy mất hút sau bức vách. Tiếng soạt của chiếc màn vải thô kéo ngang, che kín cái khoảng vuông hẹp tối tăm. Tôi đứng ngẩn ra đó. Tôi bối rối nhìn quanh. Vài người khách đi qua, nhìn những món hàng gói trong giấy bóng kính xếp cạnh nhau trên mặt quầy hàng. Tôi trở thành kẻ canh giữ quầy hàng. “Cái áo này bao nhiêu vậy chú?” Giọng một người đàn bà. Tôi bối rối. “Hả chú?” Tôi lúng túng. Tôi nói, “Hình như có ghi giá ngoài cái bọc mà chị.” Người đàn bà cầm chiếc áo gói trong bọc giấy bóng kính lên, lật qua, lật lại, chăm chú nhìn. Rồi người đàn bà đặt món hàng xuống. “Mắc thấy mụ nội!” Và vùng vằng bước đi.

Chiếc màn cửa lay động. Cô bán hàng bước ra. Ngực đầy. Mông cũng đầy và cặp chân thon. Cái áo ngực ren đen bên dưới chiếc áo thun trắng và chiếc quần jeans màu xanh nước biển ôm gọn thân hình.

“Vừa khít đó anh.” Cô nói, giọng reo vui.

Tôi nhìn. Tôi không biết nói gì. Về bên đó, nhớ cẩn thận. Người con gái nào dặn dò như thế lúc đưa tôi ra phi trường.

“Anh mua cho bạn gái nhé,” cô gái nhắc.

Tôi gật đầu. Tôi biết làm gì khác hơn là gật đầu. Chiếc áo ngực ren đen vun đầy hai đồi ngực. Chiếc quần Jeans tô đặm những đường nét hình học không gian thời trung học. Cô gái tung tăng bước vào cái khung hẹp góc quán. Tiếng loạt xoạt lại vang lên lẫn trong tiếng còi xe ngoài phố.

“Anh ấy ơi.” Từ trong góc hẹp, tiếng cô gái vọng ra. Tôi giật mình. Ở đây ngoài tôi ra đâu còn ai khác. Chắc anh ấy là tôi. Tôi nhìn quanh để trấn an tôi, và tôi lầm lũi bước về phía cái khoảng hẹp hình vuông ở góc quán. Tôi đứng lại ở lằn vạch vô hình. Tôi đếm những bông hoa vàng trên tấm màn màu tím. Những bông hoa làm tôi hoa cả mắt. Chợt tấm màn bị gạt qua một bên. Cô gái chỉ cho tôi cái móc gài trước ngực trên mảnh áo ngực ren đen đang ôm cứng hai bộ ngực trắng như ngọc thạch. Tôi dán mắt vào nốt ruồi son. Nốt ruồi son tròn như đồng hai mươi lăm xu Xứ Tuyết, trên cái vòm cong bên trái. Gần chỗ của trái tim.

Nốt ruồi son không biết nhảy nhót như nốt ruồi trên cánh môi trái, nhưng biết phập phồng theo nhịp đập trái tim.

“Em quên nói anh là loại áo ngực của Hồng Kông gài móc phía trước chứ không phải ở phía sau như loại áo ngày xưa. Nhớ nói chị ấy...”

Tôi chớp mắt. Tôi gật đầu lí nhí cảm ơn. Và tôi vội vã xoay người len lỏi giữa những sạp hàng, bước ra phía trước. Bởi cô gái vừa bắt đầu gỡ chiếc áo ngực ấy ra khỏi khung da thịt bán thân màu cẩm thạch chói chang mắt nhìn.

“Anh mua luôn một cặp cho chị ấy nhé,” cô gái thuyết phục.

Tôi vội vã gật đầu.

Xếp gọn ghẽ chiếc áo ngực ren đen, cẩn thận nhét vào trong cái bọc ni-lông, chung với hai chiếc quần jeans, cô gái giúi gói hàng vào tay tôi. Chiếc mụn ruồi lại nhảy nhót trên cánh môi, “Em đã thử kỹ rồi đấy, chắc chắn là vừa với chị ấy.”

Ra tới đầu con phố, tay ôm chắc gói hàng có hai chiếc quần jeans và hai chiếc áo ngực ren màu đen, tôi cố nhớ lại xem mình có bạn gái hay không. Nốt ruồi son theo tôi suốt quãng đường. Nốt ruồi son lượn lờ như cánh diều giữa vùng trời lộng gió.

Về tới khách sạn tôi vẫn nghĩ không ra tên cái người mà mình sẽ đem hai chiếc áo ngực ren đen và cái quần jeans này về làm quà. Và lúc trả tiền tôi cũng quên hỏi giá cả bao nhiêu. Và hình như lúc tôi trả tiền cô bán hàng đòi đô Mỹ, tôi nhớ đoạn này bởi lúc nhìn những đồng tiền Canada, cô ấy hỏi tiền nước nào vậy anh.

Tôi mở khóa, đẩy cánh cửa, luồn nhanh vào phòng để tránh cái nóng hừng hực ngoài hành lang. Tôi quăng cái bọc có hai chiếc quần jeans và đôi áo ngực ren đen xuống giường. Tôi gỡ bỏ áo quần như kẻ vừa ngã vào vũng hóa chất độc hại tháo bỏ lớp da. Mồ hôi dán vải áo lên lưng tôi. Tôi lột, tôi gỡ, tôi tháo cuống cuồng. Tôi mở vòi nước lạnh. Tôi bước ngay vào giữa cơn mưa phùn lạnh toát. Cái lạnh nhắc nhớ những ngày mùa đông Xứ Tuyết. Cái lạnh nhắc nhớ những chuyến đón đưa nghiêng ngả trong bão tuyết. Hình như có một người con gái yêu tôi. Tôi đoán vậy.

Đêm xuống vội. Tôi mở tất cả những ngọn đèn trong phòng khách sạn. Tôi vặn máy điều hòa không khí tối đa. Tôi đứng bên cửa sổ nhìn xuống phố phường bên dưới. Muộn lắm rồi nhưng đường phố vẫn náo nhiệt người qua lại và tiếng còi xe vẫn láo nháo liên hồi. Tôi mở ti vi. Đang có chương trình đố vui gì đó. Người dẫn chương trình đặt câu hỏi. Một bé gái ngập ngừng câu trả lời. Khán giả vỗ tay rào rào. Người dẫn chương trình gật gù, tay xua tới tấp như đuổi ruồi. “Đáp án của em chỉ đúng một nửa.” Tôi nghểnh cổ nhìn. Người này đặt câu hỏi, người kia trả lời. Sao lại có án với lệnh gì ở đây. Mãi tôi mới ngộ ra. Ý anh ta muốn nói: Câu trả lời của em đúng một nửa.

Chán! Tôi tắt ti vi. Tôi nằm dài ra giường, dỗ giấc. Giờ này ở xứ sở bên kia trái đất đang là trưa mùa hạ, và đang có một người ngồi đếm thời gian.

Mà người đó có thật hay chỉ là tôi tưởng tượng ra đấy thôi.

Bất chợt ánh sáng tan biến. Những bóng đèn tối mù. Tiếng rì rầm của máy lạnh tắt ngấm. Cúp điện mất rồi. Tôi nói một mình. Tôi nhổm dậy, ngóng qua cửa sổ. Đường phố bên dưới chỗ sáng, chỗ tối đan vào nhau. Ánh đèn xe kẻ vạch trên mặt nhựa. Tôi trở về giường. Tôi thả tôi xuống mặt nệm. Xuôi tay, xuôi chân. Làm gì được bây giờ. Cố giỗ giấc. Mai còn nhiều việc phải làm. Tôi nhìn đăm đăm khoảng trần nhà lờ mờ ánh đèn chiếu lên từ dưới phố. Tôi tỉnh táo như thể đã uống hàng chục ly cà phê pha đặm. Tôi nhắm chặt hai mắt. Phố phường vẫn nhộn nhịp. Những ngã tư đường vẫn rõ nét trong trí tưởng. Những quầy hàng vẫn tràn xuống mặt đường. Những người gánh hàng rong vẫn mắt trước mắt sau. Những bàn tay vẫn tua tủa mọc lên như những cành khẳng khiu. Những tấm vé số vẫn xòe ra như chùm lá đầu cành. Những gã áo quần nửa công an nửa dân thường vẫn lom lom con mắt sắc. Con chuột nhắt vẫn có những ngón tay xùi lên như dùi trống. Cái mụn ruồi vẫn tinh nghịch nhảy nhót. Nốt ruồi son vẫn nôn nóng phập phồng.

Tôi ngồi bật dậy, tháo tung gói hàng. Tôi chọn cái áo ngực ren đen. Tôi úp hai dốc đồi lên hai con mắt khô lạnh. Tôi nhắm mắt dỗ dành giấc ngủ. Tôi bơi lội lặng lờ như con cá an phận trong khung lưới ren đen. Mùi vải mới thơm non. Mùi vải mới gây gây, lạ lẫm. Nốt ruồi son nhún nhẩy. Nốt ruồi son nhòe nhẹt như giọt mực loang lổ dưới mưa.

Chợt, con ruồi, con muỗi, con dán, con chuột nào đó bò lên cổ tôi. Tôi ngồi bật dậy. Sợi dây chiếc áo ngực ren đen vướng ở vành tai. Tôi vuốt mặt, vuốt cổ. Chỉ là những dòng chảy ngoằn ngoèo của mồ hôi. Ngứa ngáy, nhột nhạt.

Tôi bò dậy, đứng bên cửa sổ đón chút gió. Con phố mịt mù bên dưới. Vài bóng người lướt đi dưới những lùm cây. Cái đồng hồ ở đầu giường mất điện nên không còn chỉ giờ. Dường như tôi đã ngủ được ít nhiều bởi dưới kia phố đã vắng xe cộ. Tôi chùi những giọt mồ hôi đang từ thái dương bò xuống cằm. Biết vậy hồi chiều đừng trả lại chiếc quạt nan cho con chuột nhắt tật nguyền.

Cơn khát sấy khô cổ họng. Chắc phải mò xuống phố kiếm thứ gì ăn. Hay kiếm cái gì đó uống. Nơi này chắc không có giờ giới nghiêm.

Tôi thả bộ đi dài con phố. Hơi nóng vắt lên vai nặng trĩu. Tôi nhìn quanh bóng tối. Những khung cửa sắt đóng kín. Tiếng cười rúc rích trên vỉa hè. Tiếng chửi thề lanh lảnh của đứa con gái nào đó vang vọng trong đêm. Tôi đảo mắt nhìn quanh. Tôi nhớ hồi chiều bắt gặp một xe bán đủ loại nước giải khát trên khúc đường này. Tôi cần một thứ gì đó vừa lạnh vừa ngọt. Tiếng con mèo nào đó gào vang đêm vắng từ một ngõ hẻm tôi vừa đi qua. Tôi rảo bước trên vỉa hè lam nham những mảnh gạch vỡ. Những giấy vụn, những lon nước, những ống hút bằng nhựa lao xao dưới gót giầy. Tôi vướng vào một chiếc dép đứt quai ai đó quăng trên lề đường.

“Mua quạt hông chú? Trời nóng, chú ơi.”

Giọng nói quen vọng ra từ xó tối. Tôi bật người quay lại. Trong cái xó tối tăm bên lề đường, tôi thấy một đống người lúc nhúc vắt lên nhau. Như những con chó nhỏ trong cái ổ của một lứa mới lọt lòng mẹ. Một cái bóng mọc lên từ cái ổ chó con ấy. Hai ba giờ sáng rồi mà ổ chó con còn thức. Tôi thầm nghĩ.

Con bé chạy nhanh đến bên tôi. Cái đầu tóc rối bù, chiếc áo vải hoa rộng thùng thình. Chiếc quạt nan xòe ra thật điệu nghệ. Hệt như người ta làm ảo thuật. Tôi ngỡ ngàng nhìn nó. Những ngón tay xùi lên như cái dùi trống.

“Mua dùm con cái quạt đi chú.”

Hai con mắt long lanh trong bóng đêm. Hai con mắt đẹp. Hai con mắt lôi xềch xệch tôi về cái thời thơ ấu. Những dùi trống sần sùi khép mở thật nhanh những nan quạt. Chùa Một Cột nhấp nhóa ánh đèn đường. Tôi không dám nhìn lâu vào hai con mắt ấy. Nhưng tôi dám chắc không đôi mắt của bất kỳ hoa hậu Việt Nam nào đẹp bằng đôi mắt con chuột nhắt tật nguyền trên đường phố của một Sài Gòn đã cũ ấy. Ánh mắt ấy tỏa sáng những khung hình một thiếu nữ. Không còn chiếc áo vải hoa rộng thùng thình có miếng vá hình vuông màu tím to như bàn tay ở sau lưng, không còn ngón tay dùi trống. Một thiếu nữ tươi cười của buổi lễ tốt nghiệp nào đó, trong một trường đại học nào đó, ở một tương lai nào đó. Như ở xứ sở đang cưu mang tôi chẳng hạn.

“Cháu thích Canada không?” Kẻ nào đó trong tôi buột miệng.

“Chú nói chi con hổng hiểu.” Con bé tròn xoe con mắt, hỏi.

Tôi giật mình. Và tôi lắc đầu quầy quậy.

“Không có chi, Ơ... Bán cho chú một cái quạt.”

Con chuột nhắt chợt reo lên mừng rỡ, “À, con nhớ rồi, hồi chiều chú nhờ con giữ dùm cây quạt...”

01 tháng 07, 2019

Hoàng Chính

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 1087)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
11 Tháng Bảy 20265:19 CH(Xem: 1261)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
11 Tháng Bảy 20262:04 CH(Xem: 1151)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1460)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
08 Tháng Bảy 20265:41 CH(Xem: 1352)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1524)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1923)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 2001)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20264:45 CH(Xem: 1810)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1800)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10491)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17319)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16388)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16849)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1524)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 2001)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1971)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2756)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 1261)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 1352)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 1810)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 1551)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 1087)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1460)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1923)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1800)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 1151)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3276)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3268)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3821)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2367)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14010)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30123)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36254)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 11740)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13137)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 3041)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 4361)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 4311)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4799)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 5378)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8464)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7865)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10781)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.