- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

CHUYỆN CHÉP Ở BỆNH VIỆN

21 Tháng Chín 201912:15 SA(Xem: 48042)

NguyenThanhSon
Nhà văn Nguyễn Thanh Sơn


LTS: Lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu. Nguyễn Thanh Sơn đang sinh sống ở Bình Định. Kỹ sư nông nghiệp, hưu non. Chúng tôi hân hạnh gởi đến quí độc giả và văn hữu truyện ngắn “Chuyện Chép Ở Bệnh Viện” của Nguyễn Thanh Sơn.

 

Tạp Chí Hợp Lưu

 

Hắn bị đụng xe vào buổi chiều và đưa vào phòng cấp cứu của một bệnh viện huyện.Hắn hôn mê từ đó cho đến sáng hôm sau mới hồi sức nhưng vẫn ở trong trạng thái mê tĩnh. Đôi mắt khẻ lay động, cơ thân muốn rướn lên nhưng có một sức mạnh vô hình trì níu lại, đôi môi khô khốc, hắn khao khát được một vài giọt nước , tôi bón cho hắn từng giọt từng giọt và tay luôn nắm bóp trên vầng trán, vùng ngực gây cho hắn cảm giác êm dịu, ru vào giấc ngủ chập chờn

***


   Mây bồng bềnh như những cục bông xốp lửng thửng trôi trên dòng sông trắng, hắn đưa tay nắm mây, vuốt nhẹ. Cảm giác mát lạnh chạy khắp toàn thân và hắn như bơi trong không gian yên tĩnh, thoảng mùi hương nhẹ của một buổi sáng thanh sạch, hắn hít sâu vào lòng ngực và như theo quán tính hắn đi tìm mùi hương lẫn trong làn khói sương mỏng mảnh, trong đám cây xanh rậm rạp, chân dẫm lên đám cỏ mịn mơ hồ làm bẹp dí những viên phân mịn màng, ẩm ướt của những con bọ hung mới đùn lên hồi đêm. Bơi theo mây, nương theo gió hắn lần về chốn cũ. Hồ dễ hơn năm năm trời mới có dịp về quê xưa, bởi công việc níu kéo, lại đường xa rong ruổi. Nhưng lần này hắn thấy nhẹ tênh, quên hết chuyện phàm trần, bỏ sau lưng cuộc chơi đỏ đen đen đỏ, chỉ còn đây không gian đặc sệt gió mây, cả một trời mênh mông.

Trở về xóm nhỏ chiều nay
Đò xưa bến cũ như ngày tôi xa
Dòng sông mỗi độ nhạt nhòa
Tình quê hương vẫn đậm đà trong tôi.

Hắn ngẫm ngợi câu thơ ngẫu hứng, lòng lâng lâng nỗi niềm hoài cảm, u huyền. Hắn vội vàng cho kịp chuyến đò, mùa này nước lớn nếu để lỡ chuyền phải đợi lâu lại không may cho một chuyến đi.
Lại lỡ chuyến rồi, dòng nước mênh mông mà bến thì hoang vắng quá. Cái ánh sáng đầu ngày dọi xuống dòng sông lấp loáng, nhưng hắn không ấm nóng chút nào mà cảm cái lạnh như xé vào gan ruột. Hắn đợi ở mé sông , hai tay nghịch nước, nghe đâu đây có tiếng nước róc rách vỗ vào mạn thuyền. Bến sông này đã gợi cho hắn bao kỷ niệm của thời thơ ấu, bởi nhà hắn chỉ cách bến đò này một quãng ngắn trong một thị trấn nho nhỏ, mà ở đó, có những con người hiền hòa, nhân hậu, có những ước mơ giản dị là được sống một cuộc đời thanh sạch , đẹp đẽ.
Ngồi đợi hơi lâu, nóng ruột. Hắn đưa tay lên miệng làm loa, gọi đò:”Ớ đò,bác Năm ơi cho cháu sang sông với…”Tiếng gọi của hắn loang loáng trôi theo dòng nước , tan vào mênh mông, bởi chỉ còn hắn mới nhớ bến đò này, thời bây giờ ai lại đi đò, với người dân ở vùng này, bến đò đã rơi vào hoài niệm xa xưa.
Loanh quanh một hồi hắn cũng lần về quê mẹ. Nhà cũ, vườn xưa bây giờ tiêu điều, hoang vắng quá, nhưng hiện tại hắn không còn gì ở đây bởi tất cả đã thay ngôi đổi chủ. Cách đây vài năm, hắn đã bán sạch sành sanh mọi thứ để lên thành phố kinh doanh nhưng còn đâu đây một nỗi niềm sâu thẳm không thể bán được và bây giờ hắn bới tìm trong tận cùng ngõ ngách trái tim sần sùi bởi lớp bụi đời không sạch sẽ.
  Hai sào ruộng, một mảnh vườn, ngôi nhà ngói ba gian là của hương hỏa cho đứa con trai thừa tự, những chắc chiu, tần tảo của bao người mong kẻ nối dõi tông đường lấy đó làm điểm tựa, một cõi đi về cho những hương hồn xa khuất. Mái ngói rêu phong, vách tường trơ vơ vôi xám, một dàn trầu bám vào đó tìm nhựa sống, vươn những lá to tròn mơn mởn xanh tươi. Lối cũ mờ sương, cỏ dại mọc đầy nhưng không khỏa lấp vết chân mẹ già xưa kéo đôi dép lê mòn vẹt đế, dáng lom khom mệt mỏi của con gà mẹ luôn nháo nhác vì cái miệng háu ăn của con gà con, tiếng kêu chiêm chiếp của nó đi tìm mẹ, tiếng kêu nhỏ nhưng rất vang xa, nên dù ở xó xỉnh nào của góc vườn, gà mẹ vẫn ba chân bốn cẳng mà đến với con.
Hắn không quên, không thể nào quên cảnh khổ của một thời. Thằng bé ngồi gọn thỏn trong cái thúng, mẹ địu thêm hòn đá ở cái thúng bên kia cho cân bằng đòn gánh trên vai. Những ước mơ, niềm mong đợi, những hoài bảo xa xôi theo suốt cuộc đời trẻ trung của mẹ. Những ngày mưa bão mẹ không gánh con theo nên đành gửi cho người hàng xóm. Thằng bé khóc, khóc hoài rồi nín, bẩn bỉu, nhếch nhác dưới nền gạch hâm hẩm. Có một buổi chiều về muộn là do trợt chân té xuống suối, cái thúng trôi theo dòng nước, tiếc của mẹ với theo, may mà biết bơi bập bõm, được ngọn tre già giữa dòng cứu lấy, mẹ cố lết vè nhà, ôm con vào lòng, nhìn mắt con cười rạng rỡ mà mẹ khóc thút thít như là trẻ con!
  Thế rồi người mẹ ra đi khi hắn vừa đủ lông đủ cánh, hắn quỳ bên người mẹ trước lúc lâm chung, nắm bàn tay xương xẩu mà khóc rấm rức. Trong đôi mắt người mẹ không còn chút sinh khí nào nhưng cũng muốn gửi cho con tất cả lòng yêu mến là mong muốn con mình sống lương thiện và quý trọng con người như chính bản thân mình vậy.
Hắn không quên nhưng không chịu cảnh khổ, lòng luôn khát khao làm giàu, có giàu mới có cơ hội hưởng thú vui trần thế, được người đời trọng vọng mặc dù không cần biết đồng tiền kiếm đựơc là do đâu.
Câu chuyện nghe đâu bắt đầu từ quán cà phê Tiểu Muội ở đầu thị trấn. Trước đây quán chỉ mở cửa ở mỗi buổi sáng phục vụ cho cánh xe ôm, những người mua gánh bán bưng.Từ khi cô chủ “chiêu hiền” ở đâu về con nhỏ, món hàng nhập từ miền trong.Trông em rực rỡ như minh tinh màn bạc, mặt phớt nhẹ màu son và nụ cười hơ hớ trên môi, bộ ngực phơi phới nhún nhẩy theo từng bước chân sáo, như thôi miên, như mời gọi cánh đàn ông. Món hàng nhập đầu tiên về thị trấn, với cánh người già họ cảnh giác, cho đó là cái ung nhọt, tệ nạn cần tẩy rữa khi nó còn là cái sảy, với đám choai choai thì cho đó là cái mụn trứng cá thể hiện sự phát triển của cơ thể mới lớn.
Lúc đầu hắn còn ngần ngại, rụt rè bởi trong hắn còn nhiều chỗ cho lòng lương thiện, cách sống và nếp nghĩ sau lũy tre làng còn đầy ắp trong tâm tư. Nhưng khi cơn khát tình len lỏi vào ngóc ngách của trái tim, nó là chất gây mê, gợi khoái cảm và bằng mọi cách để được thỏa mãn. Đêm đêm , bên ngọn đèn mờ mờ ảo ảo của cái quán cà phê trá hình kia luôn mời gọi, hắn như con thiêu thân lao vào hương vị ngọt ngào đầy cặm bẩy.
-Ơi! Anh hai ơi, vào đây với em, ơi người yêu ơi.
Cô chủ quán đôn đả, nũng nịu mời chào hắn từ ngoài sân. Hắn khệnh khạng bước vào phòng karaoke, ngồi phịch xuống bộ salon, ngắm nghía cô chủ qua ánh mắt đầy men rượu, lướt nhìn đôi môi hình trái tim đẹp như tranh vẽ, rồi đến cặp nhủ hoa trắng mịn màng lấp lửng, rất hớ hênh phập phồng trong bộ đồ ngủ. Hắn đưa tay quờ cô chủ, cô ta cười như nắc nẻ , vội lãng xê ra:
-”Ớ ờ, vội chi anh hai, khoan khoan đã nào, say bét nhè mới nhớ đến quán em?”. 
-“Nói phải tội, anh luôn nhớ đến em.”
-“Nhớ đến em làm chi, nhớ cái quán chớ!” Cô chủ lườm yêu hắn , nháy mắt đầy ẩn ý.
-“Mấy hôm rày nghe danh ,bây giờ mới được hạnh ngộ diện kiến dung nhan, em tên chi?” Hắn khều cô nhỏ ngồi bên cạnh.
-“Dạ, em tên Loan, Mỹ Loan.”
-“Em có mấy con rồi?”
Em ngồi bật như lò xo, lúc lắc cái mông, nhún nhẩy đôi bồng đảo đang độ chín tới.
-Í, ông anh em, căng nguyên , tròn trịnh, “của “này hồ dễ có mấy con, thưa ông anh?”
-“Nghe không bằng thấy, thấy không bằng rờ. Rờ mới tin.”
- “Anh hai tham quá chời” Giọng miền trong đơ đớ.
-“Trước nghề này, em làm gì?”
-“Em mần ruộng với ba, nhà nghèo quá anh hai, em tính về đây kiếm chút đỉnh vốn rồi chuyển hệ, có cách gì anh giúp em với?”
Hắn nhìn em, giọng cà rỡn nửa say nửa tĩnh.
-“Hay anh tính giùm em. Ôm suông chắc hơi hẻo, mình chuyển hệ, mình đi hàng, cứ mỗi lần đi em cầm chắc trong tay hai trăm, cứ tính sơ mỗi ngày bốn lần như vậy em những được tám trăm, lâu lâu lại được khách xộp bo thêm. Một nhà hàng làm ăn được ở đây, mỗi ngày lời cở đó. Kinh doanh vốn tự có, dễ mấy lúc em giàu ấy chớ!”
-“Thôi anh hai, nói thì nghe dễ lắm!” Em cười ,thơm nhẹ vào má hắn.
    Và thế là hắn cặp bồ với con nhỏ, lúc đầu chỉ dắt mối, chở con nhỏ loanh quanh thị trấn theo tiếng gọi. Làm tên ma cô tầm tầm cở nhỏ, tiếp khách làng chơi thuộc loại rẻ tiền, mồi chài kẻ nghèo mê thích trăng hoa. Hắn cởi nhanh chiếc áo thô kệch của gã nhà quê, lơi dần hai sào ruộng đã một thời gắn bó, làm mèo vờn chuột với Mỹ Loan mà quên mình còn trách nhiệm ở nhà, làm con cá chạch với cô chủ học chút ít kinh nghiệm. Như con thuồng luồng không chịu ở cạn, hắn lên thành phố đua tài với các anh chị trong thế giới ngầm, tích lũy số vốn kh a khá.

***

 

    Hắn bị mất máu nhiều, từ sáng đến trưa phải truyền hai bịch nên da dẻ có phần hồng hào , tươi tĩnh và đã cảm nhận được sự vật chung quanh. Trước mặt hắn loáng thoáng hai cái bóng, một đứng ở đầu giường, thận trọng đặt ống ty giô vào lỗ mũi, làn gió mát lan tỏa khắp thân thể. Một cái bóng kia ngồi cạnh giường, bàn tay nồng ấm dịu dàng xoa khắp vùng ngực , vùng bụng, nắn bóp bay tay béo núc ních của hắn, . Gương mặt hắn bỗng tái xạm khi búi tóc của cái bóng trắng tung ra, lòa xòa xuống mắt hắn, lọn tóc được gội bằng hương bồ kết lẫn trong mùi khét của nắng, của ruộng vườn, mùi đặc trưng hương đồng gió nội, cái mùi mà một thời hắn từng ấp iu, hôn hít. Hơi thở hắn bổng dồn dập, đứt quãng, cơ thân co víu lại và hai bên mép ứa ra vết vàng vàng , đo đỏ.

***

   Hắn bước qua nền gạch để phơi lúa, sân đã cũ màu rong rêu. Mùi hương cau thơm ngát cả khu vườn, hương cau dìu dịu gợi hắn thèm nhớ thời trẻ trung, thời mới chập chững yêu, lãng mạn và đầy chất thơ . Mảnh vườn tràn ngập bao kỷ niệm của bước chân ngập ngừng, líu ríu ngày xưa. Phía trước nhà có mương thủy lợi nên dù nắng khô khốc mấy cây trong vườn vẫn luôn xanh tươi, ẩm ướt. Khu vườn trồng nhiều cau chạy dọc theo lối đi vào ngôi nhà ngói . Năm năm trời trôi, so với một đời người chỉ là một khoảnh khắc, nhưng hắn đã đánh mất nhiều thứ mà lẽ ra hắn nên giữ gìn nó như là báu vật mà đời đã ban tặng.
  Hắn bước lên bậc tam cấp, cởi đôi giày được đánh xi láng coóng, thoáng thấy chiếc giày có vương vài vết bùn, hắn rút khăn mù xoa lau sạch. Đặt đôi giày xuống đất, chùi đôi chân cẩn thận trên tấm thảm xơ dừa còn mới , những sợi cước khô cứng dưới lòng bàn chân gây nhồn nhột khiến hăn nhăn mặt, hắn bước qua ngạch cửa để vào nhà.
 Tính cách và công việc của hắn đã xô đẩy chị về đây, người đàn bà một thời mà gọi là vợ, về cái tổ đã ấp iu chị thời tấm bé. Bây giờ hắn tìm lại trong không gian mơ hồ, một vùng kỷ niệm mù sương, đẹp lung linh như trong truyện cổ tích dịêu kỳ của mẹ kể ngày xưa.
Nhác thấy thằng bé đang chơi đùa, nghịch bẩn ở ngoài sân, lòng hắn run lên, chứa chan niềm vui sướng như sắp nắm bắt một báu vật chừng sắp sửa vỡ ra. Hắn nhỏm dậy , bước ra ngoài, mon men lại gần muốn làm quen và ra chừng âu yếm. Thằng bé vẫn tiệp tục công việc, không quan tâm sự có mặt của hắn. Viên bi lăn lóc trên nền đất đỏ, lẩn lút trong đám cỏ mịn xanh rì, nó nhẩn nại bới tìm trong đó, những giọt sương làm ướt nhẹp đôi bàn tay. Hắn ngồi cạnh và hòa vào niềm vui trẻ thơ, niềm vui thú đó bị thời gian bào mòn, thui chột đi, nó chìm dần trong xó xỉnh ký ức rối rắm, xô bồ mà cuộc sống mang lại. Hắn xoa đôi bàn tay rồi dí ngón cái xuống đất, ngón tay kia vân vê viên thủy tinh lóng lánh nhiều màu sắc. Hắn thử nhiều lần nhưng chưa lần nào bắn trúng đích, hắn tự nhủ cần nhẩn nại và tập trung tư tưởng nhưng đều thất bại. Hắn càu nhàu, quậy quọ. Thằng bé chán ngán sự có mặt của hắn, chạnh lòng vì có người phá cuộc vui:” Chú không chơi được đâu, giày chú đã bẩn hết rồi kìa. Mẹ ơi!”
-“Gì thế con, ơi con trai cưng của mẹ !”
Người đàn bà ở nhà sau bước ra, ôm con vào lòng rồi nựng nịu.
-“Thôi nín đi con, ơi cục cưng , cục cưng của mẹ!”
Người đàn bà ôm thằng bé trên tay, dáng dấp điềm nhiên quày quả vào trong nhà , tuyệt nhiên không ngó ngàng gì đến hắn. Hắn liền bước theo chân chị vào. Gian nhà không có gì ngoài chiếc ghế đẩu, chiếc bàn cũ xỉn mốc, bộ bình ly bằng đất nung trang trí hoa văn cẩu thả, rẻ tiền. Mọi thứ gợi lên cảnh nhà quạnh quẻ, nghèo khổ. Chiếc võng bện bằng xơ dừa cột ở chái bếp, ôm thằng bé vào lòng và chị ngã lưng xuống đó, chiếc võng căng lên bởi sức nặng của hai người, hàng cột nhà chuyển mình rung lên khe khẻ. Tiếng người mẹ hát ru theo tiếng kẽo kẹt của võng đưa.
“À ơi, dí dầu tình bậu muốn thâu
Bậu gieo tiếng dữ cho rầu bậu ra.
Bậu ra cho khỏi tay ta
Cái lưng bậu nát cái da bậu mòn.”
Tiếng hát theo giọng địa phương lắc lư, lắc lư theo vài sợi tóc, nó không còn đen mà đã trở nên màu vàng nghệ như được lớp bụi mờ phủ lên. Hắn nao lòng quá đổi, mặt thừ ra , mắt đẩn đờ ngây dại.

***

   Hắn bị đụng xe bởi hai thằng rậu râu, vẻ mặt hung tợn, lái chiếc xe made in China phân khối lớn, gây án xong chúng vù mất. Nguyên nhân vụ tai nạn sẽ theo hắn xống mồ, mamg theo cái bản vẽ nhà hàng hạng sang về bên kia thế giới.
-“Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn. Khi làng quê phát triển thì phải có chỗ để xài đồng tiền cho xứng đáng!” Hắn cứ lập đi lập lại câu nói đó khi hai chúng tôi ngồi nhậu ở quán rượu gần bến xe, hắn còn thao thao bất tuyệt nhiều điều, còn tôi yên lặng lắng nghe. Hắn (tôi không tiện nêu tên)biết nhau khi hai đứa còn để chỏm, bởi hai nhà cách nhau cái hàng rào. Dù cả hai tính cách khác nhau nhưng hắn khoái tôi là người biết ngồi nghe chuyện.
Trên nghĩa trang chiều hôm ấy chỉ còn lại tôi và người đàn bà bị bỏ rơi. Bóng chiều chỉ còn vài sợi kéo rê trên ngọn cây xa, tôi thắp cho hắn nén hương, sợi khói không chịu bay đi mà cứ mãi quần tụ quanh mộ chí, lòng tôi nặng trĩu nỗi buồn./.

Bến Đò Xứ 2010-2019

NGUYỄN THANH SƠN

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 1073)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
11 Tháng Bảy 20265:19 CH(Xem: 1238)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
11 Tháng Bảy 20262:04 CH(Xem: 1139)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1447)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
08 Tháng Bảy 20265:41 CH(Xem: 1340)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1505)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1906)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1979)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20264:45 CH(Xem: 1796)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1786)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10490)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17317)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16383)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16848)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1505)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1979)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1963)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2746)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 1238)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 1340)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 1796)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 1539)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 1073)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1447)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1906)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1786)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 1138)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3258)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3246)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3812)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2358)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14009)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30120)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36244)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 11740)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13135)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 3035)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 4350)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 4289)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4795)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 5373)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8462)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7865)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10781)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.