- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,585,009

TRẢ LẠI NỖI BUỒN CHO EM

31 Tháng Bảy 201910:29 CH(Xem: 6276)


DA QUYNH NGUYEN -thang 6
Nguyễn Dạ Quỳnh - Tháng Sáu

RỒI THÁNG SÁU QUA ĐI

 

rồi thì tháng sáu cũng qua đi

tháng sáu với quán cà phê, đường phố bụi mù và những chuyến xe buýt anh nhẩn nha ngồi từ đầu bên đông đến đầu bên tây thành phố

trong triệu triệu gương mặt người, anh có tìm thấy em không?

 

rồi tháng sáu qua đi

ly cà phê thơm thơm ngón tay anh bối rối

chờ đan vào những ngón tay em mong mỏi

vẫn ngàn xa

xa quá

tháng sáu rồi qua đi

 

em hỏi anh sài gòn có gì vui không?

điều gì làm anh nhớ nhất?

là những chuyến xe sáng sáng chiều chiều đông nghịt

hay những chuyến xe trưa trưa vắng ngắt

anh bấm vào những con số

chờ bên kia không trung là một giọng cười em?

 

tháng sáu rồi qua đi

anh cũng vậy

cũng ra đi dù sài gòn vẫn giăng mưa chiều tháng sáu

chỉ mình em về lại

cây mận bên hiên nhà mùa này không có trái

vẫn dịu dàng ngan ngát một mùi hoa

 

tháng sáu sẽ đi qua

cũng như cơn mưa chiều nay rồi cũng tạnh

duy có một điều ở lại

là dấu chân anh ở một góc hồn em

 

Nguyễn Dạ Quỳnh

 

 

HÀNH GIANG NAM

(Viết khi đọc bài từ “Điệp Luyến Hoa” của Án Kỷ Đao)

 

hành Giang Nam - về nơi đâu

phù nhạn trầm ngư – không âm hao

trên sông có thấy hoàng hôn tỏa

khói sóng xưa chìm Hoàng hạc lâu

 

hành Giang Nam, ai hành Giang Nam

lối về cố xứ một ngàn năm

có em xỏa tóc buồn hiu quạnh

áo trắng tà bay mộng dưới trăng

 

hành Giang Nam, tìm người nơi đâu

em hoài sai trái để rồi đau

em hoài thắp nỗi buồn con gái

anh về rồi cũng một đời Ngâu

 

hành Giang Nam – mơ hoài trăm năm

so dây nghe một khúc dạ cầm

đoạn trường đau thắt câu lầm lỡ

ngậm buồn xin lỗi vậy, tri âm !

 

Nguyễn Dạ Quỳnh

 

NƠI KHÔNG CÓ MÙA ĐÔNG

 

chiếc khăn quàng màu xám

mềm như mây

chiều nơi đây không có tuyết

không có cả mùa đông để em quàng khăn kỷ niệm

 

chiếc khăn quàng năm xưa

những ngón tay nàng bân đan hoài không biết mỏi

những ngón tay em

quấn dòng tóc xanh cho một ngày tiễn biệt

rã rời đau ...

 

tờ thư xưa

nét chữ học trò nghiêng nghiêng tím biếc

ngây ngô buồn

tà trắng áo ngày thu

 

chiếc khăn quàng và tờ thư xưa

rồi cũng chìm vào muôn trùng biển sâu ký ức

xa xăm tình, xa ngút mắt thời gian ....

 

Nguyễn Dạ Quỳnh

 

TRẢ LẠI NỖI BUỒN CHO EM

có nỗi buồn nào riêng chỉ cho em
để giấc chiêm bao muộn màng níu lại
thức dậy nửa đêm gối mềm khắc khoải
bàn tay đâu rồi mỏi một bàn tay

có nỗi buồn em mang đi cho ai
để lại nơi đây một trời quạnh quẽ
con sóng xa khơi thuyền trôi bến lẻ
em ngồi một mình thương nỗi buồn ơi

không có nỗi buồn đêm chợt mồ côi
em lỡ mang cho làm sao lấy lại
ai mang một đời buồn em đi mãi
thôi trả dùm em
thôi trả lại em

 

NGUYỄN DẠ QUỲNH

 

Ý kiến bạn đọc
08 Tháng Tám 201911:39 SA
Khách
Rất trân trọng những bài thơ của nữ sĩ Nguyễn Dạ Quỳnh.
Xin phép Nguyễn Dạ Quỳnh cho LMK tôi được "họa lại" bài thơ cuối. Cảm ơn Dạ Quỳnh nhiều.

Anh không trả được

Không có nỗi buồn nào chỉ riêng em
Khi chia tay anh cũng đầy nước mắt
Dù trên cao bầu trời ngày xanh ngắt
Phố đầy người anh tưởng chốn hoang vu !

Nỗi buồn nầy anh không chia cho ai
Cứ giữ kín, quí trân cho ngày gặp gỡ
Vì em - người anh thật lòng thương nhớ
Chỉ tại Ông Trời không kết tơ duyên !

Còn điều em cho, anh không trả được
Nước dưới sông kia không ngược về nguồn !
Nguyện cầu cho em gặp người tri kỉ
Hạnh phúc tràn đầy và yêu em hơn anh !

Lê Miên Khương 08/08/2019
lemienkhuong@yahoo.fr
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1554)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1605)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 2284)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 6287)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 6156)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13520)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30627)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81659)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20481)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
10 Tháng Mười 202111:31 CH(Xem: 310)
Sau khi đưa một cảm ngôn về bức tranh của họa sĩ Lê Sa Long & ý kiến của nhà văn Trần Thùy Linh như một lời kêu gọi các nhà điêu khắc, họa sĩ, nhà văn, nhạc sĩ hôm nay: “DỰNG TƯỢNG ĐÀI NÀY ĐI: CUỘC “THIÊN DI” CỦA NHỮNG ĐỨA TRẺ VÀ BÀ MẸ CHƯA TỪNG CÓ TRONG LỊCH SỬ…”, nhằm góp phần miêu tả “nhân vật chính của Thời Đại, biểu tượng cho cả một dân tộc vượt lên cảnh ngộ bi kịch tìm lối thoát cho quyền sống của mình”, rất nhiều người đã ủng hộ. Nhưng cũng có không ít người lồng lên phản đối như bị “chạm nọc”, thậm chí chửi bới rất tục tĩu (xin lỗi không viết ra vì xấu hổ thay cho họ). Để trả lời họ, với tư cách là một người làm phim, tôi xin có vài suy ngẫm về NHÂN VẬT THỜI ĐẠI giúp họ tham khảo.