- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,468,575

Thơ Thy An

28 Tháng Bảy 20199:09 CH(Xem: 2802)


THYAN
Nhà thơ Thy An

LTS: Lần đầu cộng tác cùng Tạp Chí Hợp Lưu. 
Thy An : sinh năm 1952 tại Sài Gòn Việt Nam. Bắt đầu viết văn và làm thơ từ năm 1968.

Học chương trình Pháp nhưng tha thiết yêu thơ văn Việt Nam. Tốt nghiệp ngành khoa học nhưng rất gắn bó với thi ca và văn chương.

Hiện cư ngụ tại Bỉ. 

Tác phẩm đã xuất bản: 

Thơ Mây (1968 Sàigòn, Việt Nam)

Trên đỉnh rêu xanh  (1973 Liège, Bỉ)

Bông hồng ngậm ngùi (1975 Liège, Bỉ)

Nghe lại tiếng lòng (2004 Bruxelles, Bỉ)

Tuyển tập thơ Thy An 1 : 40 năm làm thơ, yêu đời và yêu người

Tuyển tập thơ Thy An 2 : Bước vào mùa thu cuộc đời

 

 

Lục bát tha hương

 

 

mai này huyễn ảo mùa trăng

nhớ chi cổ độ còn chăng bến mờ

ngắn câu, nỗi nhớ thành thơ

dài lời, trăn trở hững hờ tiếng ca

về đâu tâm thức ta bà

cuốn trong ngũ uẩn mặn mà trần ai

ngày trông thế sự bi hài

đêm mang thiên cổ giải bày chuyện xưa

giọt sương rơi xuống tóc thưa

trên vai áo bạc gió mưa nghìn trùng

năm ba chữ nghĩa mông lung

tâm kinh hư loãng lùng bùng bên tai

phù vân lơ lửng hình hài

vướng trên đỉnh ngọn sương mai rã rời

nhớ thương tiếng vọng bên trời

bay về cố quận một lời tha hương… 

 

thy an

 

 

Khi tiếng nói thoát ra

 

 

khi tiếng nói thoát ra từ căn nhà vừa được mặt trời chiếu sáng

thật nhẹ nhàng như nắng mới lên

là lúc trái tim ta thức dậy

cùng dòng người đổ vào thành phố

mùa xuân đủ soi sáng những con đường

nhưng không đủ xua đi không gian trầm cảm của bóng tối

thứ bóng tối vẽ lên những khuôn mặt mỹ miều và khốn khổ

trên những bức tường rêu xanh

ta đi qua và ta nhìn thấy

 

khi tiếng nói thoát ra trên môi miệng

như có con chim ngục tù ca hát từ cuống họng

đón chào bình minh những buổi sáng cô đơn

ranh giới với bóng đêm thật mỏng

thứ ranh giới của sự thật và ảo tưởng

tiệm cận trong tâm trí, ép chúng ta  thật sát thật gần, đau đớn

là lúc chúng ta ngồi yên và chịu đựng

 

khi tiếng nói thoát ra từ cành hoa bông giấy màu đỏ

vừa nở từ một chậu sành nghèo nàn cuối vườn

có tượng con trâu đen và những miếu đền méo mó

được thăm viếng bởi những con trùng và trăm thứ sâu bọ

là lúc mạch máu ta rung động

như đam mê của người con gái hiến dâng 

sự diệu kỳ của những khát vọng không nói được

con người và thánh nhân, lằn ranh quá mong manh

 

khi tiếng nói thoát ra từ một khối hiền hòa

của cỏ cây hoa lá

và khi bước chân em xao xác bầu khí quyển

bước theo những người ca tụng môi sinh

là lúc ta tự hỏi

hai chữ hạnh phúc có còn mang ý nghĩa thăng hoa sự sống

hay chỉ là những hóa trang của con người dành cho nhau sự giả tạo

 

khi tiếng nói thoát ra từ những lục lạc của bò

suốt đời gặm cỏ nuôi sống con người

không hề nhận chữ cám ơn

là lúc ta nhìn nhau không nói

rải lá, hứng sương, ủ tình, ấp mộng

thiên thu trên hai bàn tay

đông phương bỗng hiện ra buồn buồn với những nét da nhăn…

 

thy an

 

  

 

Tháng sáu lặng lẽ

 

 

tháng sáu vẽ một vòng tròn bao quanh nhiều điểm

mỗi điểm là một ngọn nến thắp lên từ những bàn tay khô

da nhăn, gân nổi

soi nỗi buồn của những người nhọc mệt

vừa trở về từ một cuộc viễn du

thất vọng

 

tháng sáu thèm ngọn gió thổi ngang đầu

có chiếc lá mang theo mùi rơm rạ xưa cũ

quê người, đất lạ, bình yên

chiều sâu của trái tim hiển lộ những bông hoa kỳ diệu

bài thơ giấu trong môi chưa bao giờ nói ra

kỷ niệm phơi trên ngực người đàn bà đi trên cơn nóng

 

tháng sáu đọc quyển sách Lỗ Đen huyền bí

khoa học và triết gia tay bắt mặt mừng

con đường tiệm cận chạy mãi không tới đích

gần nhau nhưng cũng xa nhau

đi qua những bình yên của cuộc sống

áp tai vào ngực nghe sóng quê hương muôn trùng

 

tháng sáu cắt nhánh hoa hồng, tay rướm máu

cái thiện, cái ác sống hòa nhau

nhiều khi cùng nhân danh mặt trời

để tạo dựng quỷ dữ và thánh nhân

lịch sử vẽ lên vòng tròn

mỗi điểm là giọt nước mắt nỗi đau không diễn tả

rơi xuống

rạn nứt không, thời gian của bác học xa xăm

tháng sáu trôi qua lặng lẽ …

 

thy an

tháng 06-2019

 

 


 

 

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 2790)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 6740)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
06 Tháng Bảy 20153:00 SA(Xem: 3570)
Ngày 4/7/1407, tại Kim Lăng, kinh đô đầu tiên của Đại Minh từ 1368 tới khoảng năm 1421, Chu Lệ hay Đệ [Zhou Li] miếu hiệu Thành Tổ (Ming Zhengzu, 17/7/1402-22/8/1424) họp triều thần, chấp thuận lời xin của “1120” kỳ lão xứ Giao Châu [An Nam] hơn hai tháng trước là “con cháu nhà Trần đă chết hết không người thừa kế…. Giao Châu là đất cũ của Trung Hoa xin đặt quan cai trị, để sớm được thánh giáo gột rửa thói tật man di.” (1) Hôm sau, 5/7/1407, Chu Lệ ban chiếu thành lập “Giao Chỉ Đô Thống sứ ti” [Jiaozhi dutong tusi], một đơn vị quân chính cấp phủ hay tỉnh [Provincial Commandery]. (2) Và, như thế, sau gần 500 năm tái lập quốc thống dưới tên Đại Việt—hay An Nam, từ 1164/1175—nước Việt trung cổ tạm thời bị xóa tên.
01 Tháng Tám 202012:48 SA(Xem: 626)
tình yêu một lần có thật thức dậy từ con mắt bình minh cơn mưa đầu mùa nồng nàn cầu vòng hò hẹn
29 Tháng Bảy 202012:55 SA(Xem: 290)
Có dăm hạt thóc cũng vừa / Đơm bông trên đỉnh thượng thừa đêm qua / Chúng sinh đại địa sơn hà / Theo nhau bước xuống chuyến phà đại bi./
23 Tháng Sáu 202011:48 CH(Xem: 1417)
tôi không một mình / thật ra có nhiều người quanh tôi / thậm chí có người luôn bên cạnh săn sóc tôi / nhưng tôi nghĩ đến anh, trong giấc mơ
10 Tháng Sáu 20205:57 CH(Xem: 1368)
Tôi không biết nói thế nào về nỗi buồn / Dưới từng lỗ chân lông có một đàn kiến đói / Ăn ăn ăn / thân xác tôi tê mỏi / Chiếc linh hồn đau nhói giữa cơn mê /
02 Tháng Sáu 202010:06 CH(Xem: 1130)
Đã từ lâu tôi có một thói quen xấu, khi đọc thơ trí não tôi tự động phân loại rành rọt. Một: loại thi ca gây cho mình cảm hứng. Hai: loại không gây cảm hứng nếu không muốn nói làm mình mất hứng. Vậy mà lật tới lật lui, đọc đi đọc lại, tật xấu không nổi lên. Thay vào đó tôi thấy mình chăm chú lắng nghe. Tôi trở lại lần tay trên bìa sách, khoảng trắng với những vân vạch to nhỏ ngắn dài của biểu đồ tần số như phát lên một âm thanh vừa rè đục vừa trong vắt. Ở một nơi chừng như trống rỗng trắng xóa, ý tưởng mọc lên giữa âm thanh nhiễu loạn. Và bài Radio mùa hè tiếp tục văng vẳng
02 Tháng Sáu 20209:59 CH(Xem: 1180)
Ve, loài côn trùng quen thuộc với tôi từ tấm bé, nhưng vì sao lại gọi là ve sầu thì tôi không rõ lắm. Mãi sau này biết sầu, mới dần dà nhận ra (!) Ngày xưa rất xưa, thời dân làng chỉ nhận tin qua giọng loa vang vang sau tiếng cốc cốc của mỏ làng vào rạng sáng hay lúc chiều sập tối, thủa tôi còn loăng quăng bám chéo áo ngoại ra vườn, tiếng ve đã in vào trí óc non nớt của tôi rồi.
02 Tháng Sáu 20208:51 CH(Xem: 1109)
Sóng ngàn năm viết tình sử yêu bờ / Trăng tan trong đêm như tình yêu vào nhau là thế / Phố em, xưa nức mùa cốm ngậy / Tràn vào anh, những giọt yêu chưa cởi yếm / những đồi sống và mùa đòng thiếu nữ / ... Ngọn gió hồn nhiên anh miết dở