- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,451,305

ẤM NƯỚC CHÈ BÀ NỘI

01 Tháng Bảy 201910:07 CH(Xem: 2701)
BIEN NANG- photo UL
Biển Nắng - photo UL

 

Ngày còn nhỏ, nhiệm vụ của em chỉ là đun ấm nước chè cho nội mỗi ngày.


Anh đừng vội cười, công việc nhỏ nhít vậy mà cũng khoe! Mới đầu em cũng mừng rơn, vì nghĩ nấu nước sôi là việc dể dàng, đơn giản nhất trên đời.  Em có ngờ hết được đâu ý nghĩa sâu sắc và công phu trong một ấm nước chè.


Bà nội kể, mới sinh ra em thật là ngộ nghĩnh với con mắt một mí dài xếch ngược như con cá phèn. Càng lớn hai mắt càng tròn đen như hạt nhãn, luôn hiếu động, nghịch ngợm tai quái chẳng khác chi con trai. Vừa năm tuổi, được bà đưa lên chùa Núi xin quy y tam bảo. Sư bà trụ trì đã ái ngại tiên đoán, rằng em tinh anh phát tiết sớm, nhản tuệ sóng sánh như sóng ba đào, khó lòng có cuộc đời bình yên, an nhiên sau này.


Lời của người tu hành theo ám ảnh bà em. Vậy là từ đó bà em quyết tâm răn đe nen nét, uốn nắn em ngoan ngay từ bé.
Bắt đầu từ việc nấu nước chè. Một ấm chè ngon phải được nấu từ sáng sớm. Cho tinh hoa trong trẻo của đất trời tụ vào cả trong sắc nước chè. Bà nhẹ nhàng bảo.
Sáng nào cũng vậy, gà vừa gáy báo canh năm, bà đã đánh thức em dậy. Đầu tóc bù xù rũ rượi, con mắt cá phèn lim dim thèm ngủ, em lò mò chân trần bước ra vườn sau, lập tức toàn thể giác quan bừng tỉnh trong ban mai nguyên sơ rười rượi.


Em không thể nào quên được mùi ngọt ngào, trong trẻo của ban mai tinh mơ, của mặt đất còn đẫm sương đêm ủ sâu trong cây cỏ, của hàng rào chè tươi ngăn ngắt xanh, của hoa cau hoa lài còn ngậm kín hương , và của một vùng trời mây mơ màng làn hơi ẩm bảng lảng.

Vén tóc mai sau tai, em lật đật chạy ra vườn cau đến bên bể chứa nước mưa. Muốn có một ấm chè ngon, điều đầu tiên phải biết chọn nguồn nước. Nước tinh khiết trong mát mới không làm biến chất vị chè xanh. Ở Huế xưa, bà kể, không ai khó tính bằng các mệ quen thưởng thức nước chè theo kiểu cung đình. Chè xanh vùng quê Truồi là phải nấu bằng nước sông Truồi. Cô gái xứ Truồi phải chèo thuyền ra hứng nước giữa dòng vào trái bầu khô từ sáng tinh mơ, đúng điệu Giang thủy trung mới được. Lúc chạy giặc sơ tán vào tận trong rừng, bà phải hứng nước tinh tuyền từ đầu nguồn khe suối sâu để nấu chè. Thường ngày, em lấy nước từ giếng khơi, thành giếng xây bằng đá ong, chỉ dùng để nấu nước uống, không để tắm giặt. Chè nấu từ nước giếng thơi mới mang đậm đà hồn Việt.


Ngày đầu hè giếng cạn nước, em phải lấy nước từ bể chứa nước mưa ngoài vườn cau. Bể nước nho nhỏ, bốn gốc trồng bốn cây cau đang giữa mùa ra hoa ngan ngát. Nước mưa từ thân cau chảy dốc xuống bể qua máng thiên nhiên buộc bằng lá tàu cau, có mùi thơm trinh nguyên của hoa cau phảng phất và mùi đât mới dậy sau mưa nồng nẫu.  Nhà vườn ở Huế nào cũng có một bể chứa nước mưa, mà phải là mưa giữa cơn, không ai hứng ngay mưa đầu mùa, để cho trời đất đã lóng đi bao cặn dơ và khói bụi, chỉ còn lại giòng nước ngọt mát tinh tuyền. Nước mưa trong bể múc lên bằng gáo dừa cán tre sao mà ngọt ngào. Sao mà thanh tao đến vậy, hương hoa, hương đất trời ngọt lịm cứ vương vấn hoài trong cổ họng!


Nhà có đủ loại ấm, nhưng bà chỉ ưng nhất chiếc ấm đất nung già màu đỏ. Ấm nhôm nấu nước sẽ có vị tanh, ấm inox sau này có vị lạc thếch thác, chỉ có ấm đất nung mới giữ được vị lá trà còn nguyên chất chát và thêm mát lành. Củi nấu cũng không quá nỏ, không quá ẫm sẽ làm hãm mùi khói. Thường là bà chọn củi tre vàng để cho lửa than đầm, không cháy quá ngọn để nước trà sôi "hổn". Ngay cả nấu nước sôi cũng là một nghệ thuật, mất một thời gian em mới phân biệt được lúc nào ấm nước chỉ mới sôi non, nước mới nóng reo và sôi già .Rồi đến công đoạn hái lá chè. Lá chè phải được hái từ sáng sớm từ giậu chè tàu trước nhà để còn ấp ủ cả hương đồng gió nội, mà phải là lá chè dại nắng, lá già dày bản bóng mượt. Lá chè dại nắng mới có hậu vị, nấu lên có màu xanh trong lóng lánh như sắc ngọc bích, mới uống hơi chan chát trong miệng, sau lưu lại mùi vị ngọt ngào nhần nhận dể chịu nơi cổ họng.


Để tăng thêm hương vị, em kín đáo thả vài bông hoa lài vào ấm chè vào buổi sáng, hoặc có khi là vài lát gừng già tươi thái chỉ. Ấm trà sóng sánh nước vàng óng như mật ong trên mặt, khi chao nghiêng lại ánh sắc xanh biếc, phảng phất mùi hương lài thanh tao, mùi gừng thơm nồng ấm áp của vườn quê, hớp từng ngụm nhỏ, như đang nếm cả hương vị tinh khôi,thanh khiết của đất trời quê hương.


Đợi đến khi nước sôi già, khói lan man lan tỏa, em rón rén lén he hé nút ấm, để cho làn hương ngọt ngào, thanh tao, đậm đà quấn quít ướp vào thịt da, lẫn vào tóc. Em như đắm chìm trong ngây ngất một vùng hương.


Anh có biết không, bao nhiêu năm rồi, giấc mơ ngọt ngào nhất của em vẫn là con bé thu lu ngồi bên bên bếp lửa than hồng, giữa làn khói bảng lảng mùi sương sớm, chờ nghe tiếng ấm chè sôi rộn ràng và mùi hương dịu dàng tràn ngập mơn trớn từng đầu dây thấn kinh thị thành mỏi mệt. Trong vùng khói ám, lờ mờ bóng áo xám của bà em cùng giọng nói thổ trầm:
- Mai à, chừng nước sôi già rồi con!


Tỉnh dậy rồi, mùi chát của chè và hương hoa lài vẫn nghe tê hoài trên đầu lưỡi.

 

UYÊN LÊ

 

Ý kiến bạn đọc
04 Tháng Bảy 20198:45 SA
Khách
Hay.tinh tế và sâu thẳm hồn việt. Giàu chất thơ.
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 2106)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 6023)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
06 Tháng Bảy 20153:00 SA(Xem: 3045)
Ngày 4/7/1407, tại Kim Lăng, kinh đô đầu tiên của Đại Minh từ 1368 tới khoảng năm 1421, Chu Lệ hay Đệ [Zhou Li] miếu hiệu Thành Tổ (Ming Zhengzu, 17/7/1402-22/8/1424) họp triều thần, chấp thuận lời xin của “1120” kỳ lão xứ Giao Châu [An Nam] hơn hai tháng trước là “con cháu nhà Trần đă chết hết không người thừa kế…. Giao Châu là đất cũ của Trung Hoa xin đặt quan cai trị, để sớm được thánh giáo gột rửa thói tật man di.” (1) Hôm sau, 5/7/1407, Chu Lệ ban chiếu thành lập “Giao Chỉ Đô Thống sứ ti” [Jiaozhi dutong tusi], một đơn vị quân chính cấp phủ hay tỉnh [Provincial Commandery]. (2) Và, như thế, sau gần 500 năm tái lập quốc thống dưới tên Đại Việt—hay An Nam, từ 1164/1175—nước Việt trung cổ tạm thời bị xóa tên.
02 Tháng Sáu 202010:06 CH(Xem: 341)
Đã từ lâu tôi có một thói quen xấu, khi đọc thơ trí não tôi tự động phân loại rành rọt. Một: loại thi ca gây cho mình cảm hứng. Hai: loại không gây cảm hứng nếu không muốn nói làm mình mất hứng. Vậy mà lật tới lật lui, đọc đi đọc lại, tật xấu không nổi lên. Thay vào đó tôi thấy mình chăm chú lắng nghe. Tôi trở lại lần tay trên bìa sách, khoảng trắng với những vân vạch to nhỏ ngắn dài của biểu đồ tần số như phát lên một âm thanh vừa rè đục vừa trong vắt. Ở một nơi chừng như trống rỗng trắng xóa, ý tưởng mọc lên giữa âm thanh nhiễu loạn. Và bài Radio mùa hè tiếp tục văng vẳng
02 Tháng Sáu 20209:59 CH(Xem: 445)
Ve, loài côn trùng quen thuộc với tôi từ tấm bé, nhưng vì sao lại gọi là ve sầu thì tôi không rõ lắm. Mãi sau này biết sầu, mới dần dà nhận ra (!) Ngày xưa rất xưa, thời dân làng chỉ nhận tin qua giọng loa vang vang sau tiếng cốc cốc của mỏ làng vào rạng sáng hay lúc chiều sập tối, thủa tôi còn loăng quăng bám chéo áo ngoại ra vườn, tiếng ve đã in vào trí óc non nớt của tôi rồi.
02 Tháng Sáu 20208:51 CH(Xem: 393)
Sóng ngàn năm viết tình sử yêu bờ / Trăng tan trong đêm như tình yêu vào nhau là thế / Phố em, xưa nức mùa cốm ngậy / Tràn vào anh, những giọt yêu chưa cởi yếm / những đồi sống và mùa đòng thiếu nữ / ... Ngọn gió hồn nhiên anh miết dở
26 Tháng Năm 20209:11 CH(Xem: 552)
Lưng chiều gió lượn bờ tre Lao xao tháng Sáu gọi Hè bâng khuâng Đong đưa phượng nở trước sân Mênh mang nhẹ khúc ve ngân ru sầu
17 Tháng Năm 20208:12 CH(Xem: 659)
Mẹ còn có mỗi lời ru / Buồn như ngọn gió mùa thu thổi về / Xưa ru con giấc ngủ mê / Giờ hiu hắt bóng lê thê đêm dài.
17 Tháng Năm 20208:00 CH(Xem: 602)
vui buồn ở một khúc quanh giữa tối và sáng / giữ lấy hơi ấm mùa xuân của ngày tàn / mùi thơm của nhánh hoa trên tay / khu vườn đẹp như cổ tích
17 Tháng Năm 20206:43 CH(Xem: 695)
Quang “bản phủ”, vốn là chánh án ở Toà án nhân dân huyện. Nhưng hình dáng bên ngoài, giống y như nhân vật Bao Thanh Thiên bên tàu trong bộ phim truyền hình nhiều tập chiếu trên đài. Tối hôm trước xem phim, sáng hôm sau đến toà, từ bị can, đương sự đến nhân viên, thư ký toà…giật mình thon thót, nhìn lên ghế chánh án, cứ như thấy ông Bao Chửng ngồi trên thật. Cũng tai to mặt lớn đen sì.