- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,448,868

ĐÊM CỦA EM

23 Tháng Sáu 20199:27 CH(Xem: 3167)

trang-tranh DH
Trăng- tranh Đặng Hiền

ĐÊM CỦA EM

 

Đêm của em

                       Và đêm của trăng

Đêm muôn trùng gió băn khoăn bụi trần

Cồn cào chiếc lá khỏa thân

Dấu khuya bẽn lẽn ái ân cỏ hồng

Dế kêu hổn hển cánh đồng

Rã rời da thịt nhói lòng thiên thu

Dậy thì tiếng nấc phù du

Đất chênh chao vọng lời ru ngọt ngào

Ngón thon khuấy động ba đào

Tái tê ngực cỏ khát khao vén rèm

Giọt trinh đỏ thắm môi mềm

Thời gian rụng trắng bên thềm hoa cau

Trăng đã tàn

                        Và em đã Ngâu.

 MÙA HÈ LỬA

 

Những oan khiên

Những đọa đày

Gánh quê hương trĩu vai gầy con thơ

Bao năm áo trắng dại khờ

Phượng hồng thắp lửa đợi chờ ve ran

Dấu xưa ngực cát mịn màng

Bàn tay rạo rực ngỡ ngàng cỏ non

Những câu thơ

Những tủi hờn

Những khuôn mặt đá môi son ngọt ngào

Lặng nghe máu mẹ rì rào

Vọng trong lòng đất nghẹn ngào ban mai

Vẫn vẹn nguyên tấm hình hài

Vẹn nguyên hạt lệ chia tay mùa hè

Những thân xác

Những cơn mê

Trăng non…Cát trắng…Người về…Sương sa

Đêm này chỉ một mình ta

Một mình ta với sơn hà chênh vênh

Hồn ai sóng biếc lênh đênh

Nụ hôn vụng dại gập ghềnh trên vai

 

TRẦN QUANG PHONG

Ý kiến bạn đọc
24 Tháng Sáu 20197:58 SA
Khách
Hai bài thơ hay quá anh. Càng đọc càng thấy hay
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 2026)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 5927)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
06 Tháng Bảy 20153:00 SA(Xem: 2969)
Ngày 4/7/1407, tại Kim Lăng, kinh đô đầu tiên của Đại Minh từ 1368 tới khoảng năm 1421, Chu Lệ hay Đệ [Zhou Li] miếu hiệu Thành Tổ (Ming Zhengzu, 17/7/1402-22/8/1424) họp triều thần, chấp thuận lời xin của “1120” kỳ lão xứ Giao Châu [An Nam] hơn hai tháng trước là “con cháu nhà Trần đă chết hết không người thừa kế…. Giao Châu là đất cũ của Trung Hoa xin đặt quan cai trị, để sớm được thánh giáo gột rửa thói tật man di.” (1) Hôm sau, 5/7/1407, Chu Lệ ban chiếu thành lập “Giao Chỉ Đô Thống sứ ti” [Jiaozhi dutong tusi], một đơn vị quân chính cấp phủ hay tỉnh [Provincial Commandery]. (2) Và, như thế, sau gần 500 năm tái lập quốc thống dưới tên Đại Việt—hay An Nam, từ 1164/1175—nước Việt trung cổ tạm thời bị xóa tên.
26 Tháng Năm 20209:11 CH(Xem: 150)
Lưng chiều gió lượn bờ tre Lao xao tháng Sáu gọi Hè bâng khuâng Đong đưa phượng nở trước sân Mênh mang nhẹ khúc ve ngân ru sầu
17 Tháng Năm 20208:12 CH(Xem: 551)
Mẹ còn có mỗi lời ru / Buồn như ngọn gió mùa thu thổi về / Xưa ru con giấc ngủ mê / Giờ hiu hắt bóng lê thê đêm dài.
17 Tháng Năm 20208:00 CH(Xem: 532)
vui buồn ở một khúc quanh giữa tối và sáng / giữ lấy hơi ấm mùa xuân của ngày tàn / mùi thơm của nhánh hoa trên tay / khu vườn đẹp như cổ tích
17 Tháng Năm 20206:43 CH(Xem: 585)
Quang “bản phủ”, vốn là chánh án ở Toà án nhân dân huyện. Nhưng hình dáng bên ngoài, giống y như nhân vật Bao Thanh Thiên bên tàu trong bộ phim truyền hình nhiều tập chiếu trên đài. Tối hôm trước xem phim, sáng hôm sau đến toà, từ bị can, đương sự đến nhân viên, thư ký toà…giật mình thon thót, nhìn lên ghế chánh án, cứ như thấy ông Bao Chửng ngồi trên thật. Cũng tai to mặt lớn đen sì.
14 Tháng Năm 20209:18 CH(Xem: 765)
đã qua hơn hai ngàn ba trăm bốn mươi lăm ngày đêm / thời gian không gian ngả màu / cái còn lại duy nhất / của anh của em / vẫn không ngừng mọc lên
14 Tháng Năm 20209:02 CH(Xem: 546)
Ầu ơ ru lại ầu ơ / Mẹ tôi gánh nước trăng mờ bến sông / Chưa khôn mẹ đã theo chồng / Chốn quê mẹ gửi bụi hồng níu chân / Dây trầu non nhánh ngoài sân / Mẹ theo cha bước duyên trần từ đây /
14 Tháng Năm 20208:50 CH(Xem: 521)
những hạt mưa lớn từ cơn u uất tháng tư mộng du / vấp vào giấc mơ đóng kín cửa / ngã sóng xoãi / vỡ tràn trên mặt kính /