- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,577,468

CÂY HƯƠNG NHU CUỐI VƯỜN LẶNG LẼ

10 Tháng Năm 201811:21 CH(Xem: 13512)

SG Mưa- ảnh UL
Sài Gòn Mưa -ảnh UL

 

Mẹ ơi, con đau!”

Trong bóng đêm, con lại trở về là đứa bé tóc tai ướt nhẹp rối nùi, nước mắt tràn đầy trên má, giơ hai tay về phía mẹ, gọi khẽ:

- Mẹ ơi, con đau!

Cũng trong bóng đêm, bàn tay của mẹ se sẽ lần dò trên từng rẻ xương sườn nhô lên lưng con mảnh dẻ, vuốt ve thủ thỉ:

- Mẹ đây, N của mẹ. Con sẽ không đau nữa....

Và mùi hương nhu từ từ lan tỏa, quấn quít , bao bọc lấy con, cái mùi hương làm lành mọi vết thương, làm dịu mọi cơn sốt, làm tan đi nỗi đau như cứa như nhói trong con.

Con ngủ thiếp đi, trong mùi hương nhu. Như ngày xưa.

Con không biết tự bao giờ nữa, góc vườn nhà mình đã có một cây hương nhu lá tía lặng lẽ tỏa hương. Mẹ vẫn giữ thói quen của những nhà vườn xứ Huế xưa, giành riêng một rẻo đất cuối vườn cho chút rau thơm, món ăn Huế mà không có nêm nếm rau thơm thì không sao thành vị. Và thêm một vườn thuốc Nam, vừa tự giúp mình vừa có thể cứu người, như ông ngoại hay dặn dò. 

Vậy đó, cuối vườn, giữa lỏm ngỏm hành hoa, ngò rí, ngò gai, rau quế, rau húng, tía tô, bạc hà, lá sả, cây gừng, cây nghệ, là sâm đại hành, cỏ lan chi và mấy gốc hương nhu lá đỏ tía dịu dàng. Mà từ chiếc lá màu hung đỏ đến hoa chi chít, cành, rể đều tỏa mùi hương dễ chịu khi chạm vào tay.

Quanh năm, từ người mẹ tỏa ra mùi hương nhu dìu dịu. Hương nhu một nắm cho vào nồi nước gội đầu cho tóc như một dòng hương nhánh đen mướt mát. Nắm lá hương nhu giải cảm, thân hương nhu cắt khúc sao vàng hạ sốt, chén thuốc nam trên tay mẹ sóng sánh vị hương nhu. 

Và những khi con bị ám ảnh bởi nỗi đau, cơn sợ hãi mơ hồ của trẻ nhỏ, con vùi sâu vào lòng mẹ, hít lấy hít để cái mùi hương nhu thân quen, mẹ nói hương nhu làm dịu các đầu dây thần kinh quá nhạy cảm của con, như một loại thuốc an thần vô hại mà hiệu quả.

Mẹ như bụi hương nhu cuối vườn, lặng lẽ tỏa hương trong lòng con.

Chẳng biết từ bao giờ hình ảnh mẹ đã đồng nhất với cây hương nhu lá tía. Chị Hai nói có lẽ từ lúc mẹ sanh chị ba, bố dắt người tình đầu tiên vào tận nhà bảo sanh thăm mẹ, cô ấy đẹp và trẻ, và gợi mùi hương nồng nàn. Lúc đó ôm chị Ba trong vòng tay còn non ngày tháng, khi bà hơ lá hương nhu cho mẹ, mái đầu của mẹ đã gục xuống run rẩy như chiếc lá hương nhu gặp lửa than.

Cũng có lẽ từ khi mấy chị em sinh ra ngày càng thêm dầy, và mật độ thay người tình của bố cũng dầy thêm mỗi năm. Mẹ đã thành cái bóng rũ như lá ra vào trong nhà, lặng lẽ tiết ra mùi hương vừa âm thầm vừa cam chịu.

Từ nhỏ, con đã lẳng nhẳng theo bố khắp nơi. Con đã biết ghét những người đàn bà nói cười đong đưa bên cạnh bố. Bố ngày xưa thật đa tình, bố đi đến đâu, cũng có mắt đàn bà long lanh sóng sánh đến đó, bố nói cười ngọt ngào, giọng bố trầm và ấm, mắt bố đen và nồng. Con chưa bao giờ mong mình đẹp như bố. Dù ai cũng nói con giống bố rất nhiều. 

Con còn nhớ có một lần, bố dắt con lên cửa hàng của bố, lúc đó bố làm trưởng một cửa hàng rất oai. Một cô bạn của bố vội sà đến vuốt ve con và trưa đó cả 3 người được đi ăn cháo vịt ở quán của cô ấy. Cô ấy rất khéo nấu ăn, con chưa bao giờ được ăn món cháo vịt và gỏi vịt ngon như thế. Dở dang bữa ăn, mắt con chờn chợn khi thấy bàn tay có những ngón sơn màu đỏ huyết dụ của cô ấy âu yếm sửa cổ áo chemise của bố. Bắt gặp tia mắt của con, cô ấy cúi xuống nựng vào chiếc cằm nhọn của con, giọng ngọt như cháo vịt:

- Con bé có cặp mắt thật giống anh, vừa đen ươn ướt vừa sâu hun hút.

Lúc đó con đã hất tay cô ấy ra, hất cả chén cháo đang ăn dở:

- Không! Tui không giống bố, tui giống mẹ!

Và con vừa chạy đi, vừa khóc. Từ đó con không thể chịu được mùi cháo vịt, mỗi lần thấy món vịt, con lại nhợn muốn ói. 

Con chưa bao giờ muốn giống bố.

Tụi bạn gái của con khi được hỏi, đứa nào cũng mơ màng, muốn được lấy một người chồng như bố của tụi nó.

Con không muốn lấy một người chồng như bố. Sẽ làm khổ người đàn bà của mình.

Khi con lớn, con biết sợ và trốn tránh những người đàn ông đa tình, có đôi mắt đen đong đưa, giọng nói trầm ấm, nồng như có lửa kiểu của bố. 

Có một lần con hỏi mẹ, mẹ có hối hận khi lấy bố không. Mắt mẹ buồn mà giọng nói nhẹ tưng:

- Không có bố làm sao mẹ có được con gái yêu như N! 

Con ước gì con có thể đầy lòng yêu thương và biết tha thứ như mẹ. Như mùi hương nhu vô hình lặng lẽ, quấn quít theo con, lấp đầy trong con, thấm sâu vào con, mà con không hề hay biết.

Chiều hôm qua con chạy về với mẹ, tim con đau lắm, đầu con nhức lắm, con tuyệt vọng lắm, hoang mang lắm. Tưởng như chỉ cần gặp mẹ là con nhào vào lòng mẹ, giơ hai tay ôm lấy cổ mẹ như ngày bé mà rên lên:

- Mẹ ơi, con đau lắm!

Vậy mà vừa thấy mẹ ra mở cửa, bàn tay xanh trắng có những lằn gân xanh quanh cổ tay như chiếc vòng cẩm thạch tự nhiên, con đã đủ sức nhoẻn một nụ cười gượng lắm. Mẹ cảm thấy ngay điều bất thường của con, mẹ cảm thấy ngay nỗi đau của con qua chiếc dây nhau vô hình chưa bao giờ đứt lìa giữa con và mẹ, mẹ hốt hoảng:

- Có chuyện gì vậy N? 

- Con chỉ về thăm mẹ thôi, mẹ làm như con có chuyện thì mới về với mẹ - con giả vờ quàu quạu cằn nhằn.

Mẹ kéo con ngồi im lặng trên chiếc xích đu. Con muốn nói với mẹ nhiều lắm, rằng mẹ ơi người ta làm con đau, sao người ta có thể làm người khác đau đớn đến cung bậc cao nhất của sự đau, nếu tra tấn tinh thần có thể chia ra làm nhiều cung bậc từ thấp đến cao nhất. Nhưng con cũng ngồi im lặng, nghe trong hơi gió mùi hương nhu khe khẽ dịu dàng. 

Con ngã đầu vào vai mẹ:

- Mẹ ơi, sao cây hương nhu con trồng mấy lần đều chết héo cả? Mà cây hương nhu của mẹ tươi tốt thế này.

- Cái tinh thần, cốt cách, khí phách của người trồng quan trọng lắm con ạ, nó ảnh hưởng đến hồn của cây. 

- Vậy tinh thần, cốt cách như con phải trồng cây gì mới hợp hả mẹ? - con vờ vĩnh hỏi.

- Con thì phải trồng cây cỏ đuôi chồn đỏ tía, mới hợp được!

Mẹ bật cười, lâu lắm rồi mẹ mới cười tươi như có nắng soi.

Con cũng cười. Và nỗi đau đớn, muộn phiền tan chảy ra, tiêu tan đâu mất.

Mùi hương nhu vẫn phảng phất. Không biết từ mẹ hay từ cây?

 

UYÊN LÊ

 

Ý kiến bạn đọc
16 Tháng Năm 20185:08 CH
Khách
Bên Thái Lan, các món ăn có hương nhu tạo sức hấp dẫn đặc biệt. Hương nhu thường được dùng để xào thịt gà, trộn thêm ớt và tỏi, là món rất thông dụng từ các nhà hàng sang trọng đến các bàn ăn bày dọc hè phố. Nhiều khi món này rất cay, tùy ý riêng của đầu bếp. Lần đầu tiên tôi ăn món này, không thấy thích hương vị hăng hăng, lại thường bị ăn quá cay nên khó thưởng thức. Nhưng những lần sau, càng ăn thịt gà xào hương nhu càng thấy ghiền!


Về Việt Nam, tôi có một anh bạn người Thái làm cùng dự án. Cô vợ anh kể khi đi tới khu vực bán rau củ quả ở Chợ Bến Thành, bạn hàng nhận ra cô vợ anh là người Thái, bên gọi mời: "Ca pao! Ca pao!" Đó là tên tiếng Thái của hương nhu. Có việc gọi mời bằng tiếng Thái như thế bởi vì số người Thái đang sinh sống và làm việc ở Tp HCM khá là cao. Cũng bởi vì ít người Việt dùng hương nhu trong thức ăn, cho nên khó tìm mua hương nhu, bạn hàng phải cất tiếng gọi mời để người Thái biết tìm đến mà mua.

Hiện tôi đang trồng vài cây hương trong chậu đặt ở ban công. Cây ra nhiều hoa cho hạt vương vãi khắp nơi, nhiều cây con vì thế mọc lên chung quanh cây mẹ.
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 972)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1061)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1766)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5785)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5772)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13142)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 29983)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81083)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20209)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
14 Tháng Chín 20218:20 CH(Xem: 229)
Tay Giắng quờ quạng vơ vào ngực áo chị, miệng khô khốc nhóp nhép như bé con đòi bú. Giắng nhắm nghiền mắt thều thào: “nước ước…”. Chị nhìn quanh, cả phòng chả có cái gì gọi là nước. Cái xô nhựa đựng nước nấu ăn cũng khô rang lăn lóc góc phòng. Chị tắc lưỡi vén áo lên, kề bầu ngực căng mọng sữa vào miệng Giắng bóp nhẹ. Một tia sữa trắng thơm nức phun xuống đôi môi khô nứt. Giắng nhóp nhép nuốt. Rồi nuốt ừng ực. Chị áp cả bầu vú vào miệng Giắng. Nắn. Hết bầu này sang bầu kia. Giắng vẫn nhắm nghiền mắt nuốt. Khuôn mặt dần hồng lên. Chị nhìn xuống, mãn nguyện… / Giắng mở mắt ra. Nhìn. Hồi lâu. Bỗng òa khóc, ôm chầm lấy chị nức nở: “Chị ơiiiiii…”