- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

CU SỨT

12 Tháng Tư 20182:22 CH(Xem: 49803)

29573257_625344441130755_4807681891976822327_n
Biển - photo UL



 

Bằng này giờ chiều chắc cu Sứt đang bò ra nền nhà bậm môi viết chính tả.

Nhà cu Sứt có cu Sứt, có dì và có cha. Nhà tôi chỉ có 2 mẹ con, vì cha đã ở bên nhà cu Sứt.

Tôi ngồi thõng chân trên chạc ba của cây chùm ruột ngọt. Ăn một nửa, nhả một nửa xuống gốc cây. Chùm ruột đất cát mà lạt phèo và không chua, lái chê không thèm mua , vậy là tôi mới có nguyên cây chùm ruột trĩu quả mà cu Sứt ngày nào cũng ngước nhìn nhểu nước miếng từ đôi môi trên bị hở hếch lên ăn rộng tới lỗ mũi. Đầu óc tôi sao lúc nào cũng phải bận tâm vì thằng cu Sứt. Dù tôi lúc nào cũng muốn vứt nó ra sao ót! 

Tiếng mẹ gọi cắt ngang dòng suy nghĩ không đầu đuôi của tôi:

-              Nhiên à, vào mẹ nhờ chút xíu!

Mẹ tôi ngồi trên chiếc đòn bằng gỗ, mặt đỏ hồng trước chảo bánh xèo loang loáng mùi mỡ nước thơm lừng. Tôi trợn mắt:

-              Trời, mẹ đổ bánh xèo cho cả xã ăn hay sao?

Mẹ lẳng lặng lựa mấy cái bánh xèo tròn đều vàng rộm to nhất gói vào lá chuối, xếp ngay ngắn hết sức tưng tiu vào một giỏ tre , rồi ngước lên nhìn tôi:

-              Con chạy ù đem cái này qua cho cu Sứt ăn cho nóng.

Cục tức chặn ngang cổ làm tôi hầu như gầm gừ trong cuống họng:

-              Cái gì cũng cu Sứt. Không có mẹ cả nhà nó cũng không có đói mà! Con thì không cần ăn sao?

Đôi mắt của mẹ tối sầm lại, rồi ươn ướt nước , tia nhìn đầy cam chịu, van lơn:

-              Mẹ xin con! Dì bận chăm cho cha nên em chắc không có đầy đủ ăn như nhà mình.

-              Thôi nha, con ghét cái kiểu này của mẹ lắm rồi! Cả đời làm người tốt có lỗi, người tốt chịu thiệt thôi!

Tôi hậm hực, lôi cái giỏ tre ào ào ra cửa ngõ. Đến góc khuất sau rặng tầm vong đầu ngõ, nhìn trước, nhìn sau không thấy ai, tôi lật đật giở cái giỏ tre, lật tấm lá chuối ra, nhổ một bãi nước miếng chà đều lên lớp bánh xèo đang nóng rồi gói lá chuối  lại, mặt câng câng đi tiếp.

 

Tôi vừa đá vào cánh cổng rào là cu Sứt chạy ào ra ngọng líu:

-              A, chị Hiên, qua chơi với em hả?

-              Nhiên chứ Hiên cái gì, thằng ngọng! Tôi trợn mắt.

Cu Sứt tiu nghỉu cúi đầu. Tôi vứt cái giỏ tre vào chân nó:

-              Bánh xèo đó, ăn đi. Mẹ tao cho.

Cu Sứt mừng rỡ, lập cập gỡ ngay lớp lá chuối hít lấy hít để:

-              Hời ơi, thơm quá,  ngon quá. Cảm ơn má Hai…

Cục tức lại trồi lên , nóng bỏng, bắn ra khỏi miệng tôi như tia chớp:

-              Má Hai nè…

Chân tôi đá cái giỏ tre lăn lỏng chỏng, bánh xèo văng hết ra ngoài đất cát. Cu Sứt đứng sững sờ nhìn tôi, miệng mếu xệch, nước mắt chảy thành dòng trên má. Tôi đang gườm gườm nhìn nó thì dì đẩy cánh cửa gỗ bước ra:

-              Chuyện gì ồn ào vậy Sứt?

-              Con làm té, rớt hết bánh xèo…cu Sứt lật đật lấy mu bàn tay quệt ngang mắt, lom khom lượm bánh bỏ vào giỏ tre. Tôi đùng đùng bước ra khỏi cửa rào:

-              Tôi đi về!

Tiếng cha từ trong nhà gầm ghè đuổi theo:

-              Con nhà mất dạy, đến không chào hỏi ai, nói đi là đi….

Tôi chạy ào ào trên con đường đê, gió thổi vùn vụt rin rít qua hai tai buốt giá. Tiếng cha riết róng lùng bùng trong tai. Xoáy như lốc trong đầu. Tôi chut tọt hẳn vào hốc cây đa khuất sau rặng tre, kéo lớp rể đa dày như tấm màn buông xuống . Rồi chúi mặt vào lớp vỏ đa sần sùi gào lên:

-              Tôi là Con nhà mất dạy vì ông đâu có bao giờ dạy tôi!

Rồi gạt nước mắt, tôi bước ra khỏi hốc đa. Mặt lại câng câng , tiếp tục chạy đi trong gió mùa Đông bắc rin rít.

             *    *   *


Tôi sinh ra vào đêm rằm tháng Bảy. Tháng cô hồn. Người ta nói gái đêm Rằm , trai mùng Một. Tôi là con gái, tôi sinh đêm Rằm. Nhưng cha tôi và cả nhà nội không chờ mong một đứa con gái. Nhất là con gái sinh vào tháng cô hồn. Cha tôi chưa bao giờ yêu tôi. Thường khi giận tôi hay giận mẹ cha vẫn gọi tôi là con cô hồn, con quỷ sứ!

Năm tôi lên 7 tuổi, cha tôi bắt đầu bỏ đi theo người đàn bà khác. Người này da trắng không đen bánh mật như mẹ tôi và bán hàng xén trong chợ. Trong khi mẹ tôi lầm lũi đi hay cúi đầu xuống đất, tướng khổ như bà ngoại hay thở dài nói, thì người đàn bà này hay cười, hay nói. Mắt đen nhánh tít lại như hai chiếc lá răm, giọng ngọt ngào ướt rượt như khoai lang mật.

Cha tôi ngày càng ít về nhà, mẹ tôi ngày càng thêm lầm lũi và hay thở dài.

 

Mỗi bận cha vội vàng ghé nhà lấy ít áo quần để đi tiếp,mẹ tôi lăng xăng chạy ra chạy vào cười như có nắng trong nhà, lật đật tíu tít sắm sửa làm đủ món ngon để níu chân cha tôi. Tôi ngồi hậm hực trong  một góc nhà, nhìn dáng mẹ tất bật ra vào, hai ống quần dính lấy nhau, và nhìn cha tôi hờ hửng lạnh lẽo ngồi nhấp nhổm trên bộ ván ngựa, mắt cứ nhong nhóng về phía đường lộ. Nổi đau đớn và hờn giận nghi ngút như khói đốt rạ trên đồng âm ỉ  trong lòng tôi.

Lần cuối cùng cha về nhà là khi mẹ tôi đang làm món khoai lang khô ngào đường mà cha tôi yêu thích. Tôi nhớ cha mặc bộ đồ bà ba lụa trắng ngà ủi thẳng láng ngồi bên bàn uống trà, mẹ tôi hớn hở bưng dĩa khoai lang dẻo quẹo thơm lừng mùi đường mía và cơm dừa nạo đặt bên cạnh cha.

-              Khoai lang khô mới ngào đường, ông ăn đi cho nóng.

-              Giữa bữa, tự nhiên bắt ăn khoai lang- Cha tôi hắt dĩa khoai qua một bên,cau đôi mày rậm đen gắt gỏng.

-              Thì hồi giờ tôi thấy ông thích ăn khoai lang khô ngào đường- mẹ tôi cúi đầu nghẹn giọng.

-              Hồi đó thích, bây giờ hết thích rồi. Bắt người ta thích hoài một món sao? Ngán bắt chết! người gì đâu mà chậm quá, không hiểu ý gì hết!

-              Phải rồi , tôi chậm. làm sao nhanh bằng người ta ở chợ.- Giọng mẹ tôi đầy tủi hờn.

Cha tôi đập bàn gầm lên:

-              Lại giở cái giọng đó ra rồi.  Chán lắm rồi ! Về cái nhà này nghe than thở, khóc lóc là muốn đi ra đường nữa rồi!

Cột khói  nóng bỏng trong lòng bốc lên ngùn ngụt mờ hết hai mắt tôi. Tôi vụt bật dậy từ góc nhà, chạy ra vục tay vào dĩa khoai bốc ăn lấy ăn để, nhét đầy hết trong mồm, vừa ăn trợn trạo vừa nhìn cha tôi trừng trừng. Cha cũng nhìn lại tôi sững sờ, chết sững. Cho đến khi không ăn nổi nữa, tôi nghen họng rồi nôn thốc nôn tháo ra khắp sân gạch. Mẹ ôm lấy tôi nước mắt trào ra như mưa.

Cha đi sòng sọc ra cửa, quay lại nhìn tôi chỉ một lần duy nhất:

-              Con quỷ sứ!

Và đó là lần cuối cùng cha về nhà.


Năm tôi lên 12 tuổi, học trường huyện xa, cha tôi cũng gửi về nhà một cái xe đạp màu hồng như đền bù cho tôi. Tôi lập tức lấy ngay sơn màu đen trét lên khắp xe vằn vện như con chó khoang. Tôi không thích ai thương hại, lại càng không thích màu hồng. Ai gán tình yêu với màu hồng. Tôi nghĩ tình yêu của cha tôi hẳn phải là màu đen, đen như trái tim tăm tối của ông, chỉ có nhân danh một tình yêu màu đen đặc sệt mù quáng như thế người ta mới có thể vứt bỏ một đứa con, một người vợ đã cũ  chạy theo người đàn bà khác trẻ hơn tốt hơn như cha tôi thường hảnh điện nói.

Cha bị tai biến không lâu sau đó, bại hẳn một bên người. Nhưng không phải vì cái màn ăn khoai lang khô hay trét sơn đen lên xe đạp của tôi  , mà vì dì đẻ ra cu Sứt.

Từ trong bụng mẹ, cu Sứt đã được chằm bặp yêu thương, tẩm bổ nâng niu vì ông thầy thuốc Bắc, sau khi bắt mạch  bảo đảm cái thai là nam quý tử. Nhà nội thì thầm với mẹ tôi, thôi thì nhịn nhục chịu đựng cho chồng có con trai nối dõi tông đường, cho cái Nhiên còn có cha. Và từ đó , không ai trong nhà nội ghé nhà hai mẹ con tôi nữa. 

Đêm cu Sứt chào đời,  cũng một đêm rằm tháng Mười, rằm lớn cuối cùng của năm. Cả nhà hớn hở tập trung hết ở nhà bảo sanh chờ từ sáng sớm cho đến khuya. Lúc tiếng khóc ngàn ngạt của cu Sứt vọng ra, cả nhà xúm quanh cánh cửa phòng sanh chờ đợi xem mặt cháu đích tôn. Sau đó chỉ có tiếng hét lớn của cha tôi và sự im lặng của tất cả những người còn lại. Cu Sứt không có môi trên, một đường nứt đỏ hỏn nối liền cái lợi và lổ mũi.

Sáng hôm sau, người nhà bắt gặp cha tôi té nửa nằm nửa ngồi trên giường. Sau một tháng chạy chữa, cha tôi yếu hẳn một bên người và đi lại rất khó khăn.

Mất thêm tiền chạy chữa cho cha rồi chạy hết bệnh viện này qua bệnh viện khác chữa cái môi trên  cho cu Sứt, nhà nội tôi hầu như khánh kiệt. Chỉ còn trông mong vào mẹ tôi làm vườn và làm ruộng lo cho cả nhà. May mà ruộng nhà tôi trúng mấy mùa liên tục. Và mẹ tôi lại hớn hở đi qua đi lại như con thoi giữa nhà tôi và nhà dì , bế ẵm nâng niu cu Sứt như thể nó là con ruột của mẹ.

Cha tôi hầu như chẳng bao giờ bước chân về nhà mẹ con tôi. Cũng chẳng bao giờ nhìn thẳng vào mặt mẹ tôi được nữa.

Người ta nói đó là do phức cảm tội lỗi , thứ tình cảm pha trộn mặc cảm phức tạp của người xấu. Không dám nhìn sâu vào tội lổi của mình. Và người xấu cứ thế quay đầu luôn với lương tri của mình.

Chỉ có người tốt là có thể làm hết mọi điều giùm cho người xấu. Nhìn vào mẹ tôi , tôi tin là như thế!


*   *   *

Mẹ tôi chết thanh thản khi đang ngủ. Mẹ mặc bộ đồ bà ba nâu bạc màu thường ngày, tóc đen nhánh trên gối, miệng vẫn còn hơi nhếch cười, như trong mơ mẹ lại gặp cha ngồi bên bàn nhắp trà sen và khen tay mẹ ướp trà thơm không ai sánh bằng.

Sau đám tang của mẹ , cả nhà kéo về bên nhà tôi. Trước bàn thờ mẹ, cha ngồi một  bên, dì ngồi một bên và cu Sứt chui vào một góc nhà như tôi ngày xưa. Họ hàng bên nội quanh quẩn ngoài sân thì thầm nói chuyện. Tôi lặng lẻ ngây ngây người, như chưa thể quen với việc mẹ đã bỏ tôi ở lại một mình và đi xa mãi rồi.
Cha tôi mở lời nói trước, e dè:

-              Mẹ vắn số, chết rồi. Bây giờ con muốn về ở với dì và em hay là cả nhà qua đây ở với con cho gần gủi?

-              Không còn mẹ, thì còn dì, dì sẽ thay mẹ chăm sóc cho con. Dì cũng nhỏ nhẹ góp vào.

Mắt tôi nhắm nghiền lại rồi vụt mở to ra, bụng dạ nôn nao như đang phải nhai nuốt cả dĩa khoai lang khô ngày xưa. Tôi chạy ra ôm lấy bàn thờ của mẹ:

-              Mẹ tôi còn ở đây, tôi không đi đâu hết. Tôi cũng cấm không ai được đặt chân vào nhà của mẹ con tôi!

Cha tôi bật khóc, lần đầu tiên trong đời tôi thấy cha tôi khóc:

-              Cha biết cha có lổi với hai mẹ con. Cha muốn chuộc lổi.

Tôi gào to lên:

-              Các người xấu, sao các người còn sống và sung sướng thế này? Sao mẹ tôi phải chết? Sao người tốt lúc nào cũng chịu thiệt? Sao người tốt phải chết?

Tôi bỏ chạy ra khỏi nhà, khăn tang tuột xuống vai, tôi vứt cả khăn tang sau lưng. Cánh đồng rạ sau mùa gặt đâm nhức nhối dưới gót chân.

Tôi nằm co mình trong hốc cây đa quen thuộc đã trọn một ngày, chẳng ai buồn đi tìm tôi. Sau tấm màn bằng rể đa dày chằng chịt, trời đã tối mịt. Rặng tre xào xạt và những đám lân tinh nhấp nháy loang ra cả cánh đồng. Tôi không nhát ma đâu, ở một mình với mẹ tôi đã quen thức đêm kéo nước giếng, ma trơi hay lân tinh với tôi là chuyện thường. Tôi chỉ thấy váng vất buồn ngủ và xoay xoay như thể người sắp sửa bay lên. Biết đâu tôi sẽ gặp mẹ khi bay lên, giờ này mẹ tôi hẳn đang bay là là trên cánh đồng và tìm tôi. Tôi bật rên khẻ:

-Mẹ ơi!

Có tiếng thút thít ở sát bên cạnh làm tôi giật nảy mình, một bóng gầy gò nhỏ thó đã len vào sát cạnh tôi.

-Chị Hiên…

Thì ra cu Sứt. Tự nhiên tôi thấy lòng ấm lại. Tôi kéo nó sát vào người , thì thào:

-Sao mày biết chổ này?

-Em đi tìm chị khắp nơi. Thấy gốc cây đa này có nhiều ánh sáng, em nghỉ  chắc là chị ở đây rồi. Má Hai chỉ đường cho em !

Tôi cốc lên đầu nó:

-Chỉ nói vớ vẫn, lại theo rình mò tao chứ gì.

Cu Sứt lôi trong người ra một bọc âm ấm:

-Khoai khô ngào đường này, chị ăn đi kẻo đói. Em làm đó. Má Hai dạy em làm hồi xưa.

Một giòng nước mắt rỉ ra rớt xuống tay tôi nóng hổi. Tôi quờ tay nắm chặt lấy đôi vai gầy guộc của nó:

-Thôi hai chị em mình về , ở đây lạnh lắm rồi.

Cu Sứt mừng ríu cả lưỡi:

-Ui, mình về chị Hiên.

-Chị Nhiên chứ - tôi nhéo tai nó - dạy bao nhiêu lần cũng không sửa được.

Bên ngoài gió lạnh vù vù thổi nhưng bọc khoai ủ trong tay tôi ấm sực. Đám lân tinh vẫn lập lòe phía trước như dẫn đường.

 

UYÊN LÊ

 

Ý kiến bạn đọc
15 Tháng Tư 201811:24 SA
Khách
Câu chuyện thật cảm động . Đọc mà cứ cay cay mới sống mũi. Một mẫu hình của người phụ nữ trong xhpk
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 281)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
11 Tháng Bảy 20265:19 CH(Xem: 411)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
11 Tháng Bảy 20262:04 CH(Xem: 497)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1032)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
08 Tháng Bảy 20265:41 CH(Xem: 905)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1031)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1607)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1628)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20264:45 CH(Xem: 1529)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1532)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10441)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17252)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16333)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16783)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1030)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1626)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1652)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2406)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 411)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 905)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 1529)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 1361)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 281)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1030)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1606)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1530)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 495)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3140)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3063)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3572)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2190)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13951)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30076)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36148)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 11639)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13095)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2899)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 4104)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 4052)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4582)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 5101)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8333)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7731)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10658)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.