- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,470,556

LỜI CỦA NHỮNG CON NHEN Ở BÌA RỪNG SAU LƯNG TÔI

05 Tháng Ba 201812:54 SA(Xem: 7889)



ND 9
tranh Nghiêu Đề




CẮT TẮC


Hẵng các bạn có lúc phải làm vườn
Cầm kéo cắt vào mây gió
Quá miệt mài tôi danh trụi bàn tay

Điều gì xảy ra khi con tim khô máu
Như thế tốt hơn sống trên hỏa ngục này phải nhập vào vai diễn
Những đám mây tranh luận thường dừng ở đâu
Nơi ngọn kéo hay chết trên đầu lưỡi?

Bạn có thể trả lời mà không phải suy tư
Những trái hái được bằng mồ hôi thường có vị chua nồng
Dù sao cũng kiếm được đồng xu lẻ
Đổi vài câu thơ ở tiệm phô tô

Thể xác đau hay mắc nợ dông dài
Có đột tử thì tốt hơn phải sống
Bí ẩn gói trong sáu tấm vách buồn

Mỗi ngày tôi nhặt một ngón tay
Rồi lại cắt sang bàn tay khác…

 

LỜI CỦA NHỮNG CON NHEN Ở BÌA RỪNG SAU LƯNG TÔI

Tuy nơi đâu cũng thành nơi tử nạn, thông tin về nó như cái mốt
nhưng cái chết của luân thường khiến mưa trái mùa, lương tri đồng loại dửng dưng
lòng tin hoại tử trên bàn tay thế sự

Bạn bay theo tôi qua những cành mây khác

Đám người ấy sửa sai bằng mép lưỡi
nước bọt bật lửa
lời ma trơi rời rã
chúng ta muốn đêm vẹn nguyên chuẩn mực đất trời

Bà bay theo tôi qua nhánh hoang vu ăn muỗi mòng dòi bọ
tránh phát đạn vô hình đang rình rập chúng ta

Mỗi nhiệm kỳ náo xáo dọc đám người
ban phát cho nhau từng cơ tham tiếng vọng
có chữ cái từ lâu mục rỗng

Chúng gọi nhau lét xét dọc bìa rừng…

 

 

VỰC

Sông nói tôi yên bình trên đất nước mát lành
không, người người thấy nó đang giãy chết
lôi tuồn tuột nhà dân vào lòng sâu của nước
bức tử từ bên trong
mang dạng vẻ thản nhiên

Chiếc ghế gãy nói tôi tật nguyền vì bị hút máu
hỗn danh mang tên quyền lực
vì bọn dây mơ rễ má
không thể gọi giàu nhất thế gian
không dưng kéo nhau ra đầu thú
vạ lây tôi

Buổi sáng nói tôi bầm dập vì ngày
và nội tạng rã rời theo hệ thống…

 

ẨN

Đưa tay đôi mắt trũng sâu
quá vãng vô hình trú ngụ 
trong nàng hay trong ta

Dự phóng bàn chân chuột gút 
quằn quại đớn đau bất động
nghe tiếng mây dừng đỉnh nóc buồn

Hun hút phán xét
nhan nhản nạn tai 
biển khơi trơ trụi
đầm lầy chết chóc
bụi hồn nhiên
đèn xanh vừa đi vừa gật

Khoác lên mình tấm áo rách nát linh hồn chiều
lũ gió nhạo báng xương rổng
tủy sống từng đứng reo
đắm mê chạy theo hừng hực

Nằm tâm sự với cơn say
tim ẩn vào không gian trắng…

CHUYỂN HÓA

Thịt xương được nấu chín phơi bày trên mâm
Vực thẳm dưới chân
Thể xác đã mòn
Với con tim ngột ngạt
Ta những con chó không may mắn trên đường đua dù cố gắng về đến đích

 

Sự thật tồn tại khả kiến
Đám đông ấy tin vào bạo lực
Đấm nát mắt bão
Giữ lấy yên bình
Chán rực nản vang số kiếp 
Linh hồn trôi dạt
Họ chỉ nghĩ cái gì không cần nhớ

 

Về trong ánh sáng chuyển hóa
Không linh hồn 
Không thể điệu riêng mình 
Phải ta chết
Trước mặt các sinh vật có năng lực ngôn ngữ.

 

 

KHUẤT TỬ VÙNG SƠN CƯỚC

Cầu vồng tan dần đôi mắt chỉ còn vọng tưởng

Kinh nghiệm như rắn trườn về mang đầy nọc độc

Ước mơ lớn dần phía ấy

Giữa biển tiền thân vỡ khói

Đánh mất bầu trời ngọt ngào thầm đắm

Căng mình nhẹ nhàng thoát xác

 

Số kiếp chăn thả

Làm bạn với các triền đồi

Vi vu lộng lẫy

Các bọn dê con tinh nghịch

Mang niềm vui ngạo nghễ

Suối ẩn hiện mời chào

Đê mê muôn thuở

 

Em ở đô thành

Nghe kể phải cúi thật sâu

Mắt ông ấy khoét hẻm thiên thần đường gió

Mong rẻ tòa biệt phủ

 

Con dao rừng chặt vu vơ cánh bướm

Nghe nói nay mai đấu giá mùa xuân

Triền đồi bị bức tử

Con suối sẽ bị chặn nguồn

Dất nướccúi đầu im bặt

Đường sơn thôn biến mất

Hoa rừng

Buồn

Ngả

Về đâu...

 



CỪU

Con đường trên lưng 
sấm chớp dưới chân
móng vuốt chai mòn
quay về mê muội hát ca

giai điệu xô nhau
bầu trời háu nước
dặm dài chán nản
cuồng nộ hưng thịnh

chỉ lông bốc lửa
rát khô phương hướng
cát, cát lông mày
mắt trôi dạt
trên lưng con đường.

Bến Tre, tháng 01/2018.
Nguyễn Đăng Khương

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 2848)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 6807)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
06 Tháng Bảy 20153:00 SA(Xem: 3608)
Ngày 4/7/1407, tại Kim Lăng, kinh đô đầu tiên của Đại Minh từ 1368 tới khoảng năm 1421, Chu Lệ hay Đệ [Zhou Li] miếu hiệu Thành Tổ (Ming Zhengzu, 17/7/1402-22/8/1424) họp triều thần, chấp thuận lời xin của “1120” kỳ lão xứ Giao Châu [An Nam] hơn hai tháng trước là “con cháu nhà Trần đă chết hết không người thừa kế…. Giao Châu là đất cũ của Trung Hoa xin đặt quan cai trị, để sớm được thánh giáo gột rửa thói tật man di.” (1) Hôm sau, 5/7/1407, Chu Lệ ban chiếu thành lập “Giao Chỉ Đô Thống sứ ti” [Jiaozhi dutong tusi], một đơn vị quân chính cấp phủ hay tỉnh [Provincial Commandery]. (2) Và, như thế, sau gần 500 năm tái lập quốc thống dưới tên Đại Việt—hay An Nam, từ 1164/1175—nước Việt trung cổ tạm thời bị xóa tên.
06 Tháng Tám 20204:13 CH(Xem: 456)
một chút tóc cũng rối bời mây hạ / một chút bàn tay vẫy bỗng hiền khô / một chút bờ vai thong dong phố thị / một chút mắt môi thảng thốt đợi chờ /
06 Tháng Tám 20203:58 CH(Xem: 372)
Đừng vì anh / hãy mê mải cánh chim / giông giống nụ hôn ố vàng rơi bay mùa lá /
06 Tháng Tám 20203:37 CH(Xem: 495)
Có thể bây giờ nơi xa đó Ngày chỉ vừa lên trong nắng mai Giọt sương còn đọng long lanh ướt Và café nóng tỏa khói bay.
06 Tháng Tám 20203:32 CH(Xem: 530)
Quên rồi em đã quên tôi / Tháng giêng qua ngõ còn cười tháng hai / Phai thu lạnh sắc trang đài / Trăng ba vòng nguyệt đau hoài cùng trăng
06 Tháng Tám 20202:43 CH(Xem: 444)
Trăm năm ở tạm chốn này \ Trần gian sinh ký đọa đày bể dâu \ Trầm thăng bao nỗi cơ cầu \ Nợ nần chưa dứt nỗi sầu cưu mang \
01 Tháng Tám 202012:48 SA(Xem: 797)
tình yêu một lần có thật thức dậy từ con mắt bình minh cơn mưa đầu mùa nồng nàn cầu vòng hò hẹn
29 Tháng Bảy 202012:55 SA(Xem: 439)
Có dăm hạt thóc cũng vừa / Đơm bông trên đỉnh thượng thừa đêm qua / Chúng sinh đại địa sơn hà / Theo nhau bước xuống chuyến phà đại bi./