- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

CỐNG ĐẬP CHẶN MẶN GÂY RỐI LOẠN HỆ SINH THÁI VÀ NHỮNG CÁI GIÁ PHẢI TRẢ

15 Tháng Hai 20182:18 SA(Xem: 49611)

 

Water, water, every where,

Nor any drop to drink.  

Samuel Taylor Coleridge [1772-1834]      

 

Thế kỷ 21 của tỵ nạn môi sinh, đã có 2 triệu người

phải rời bỏ quê hương ĐBSCL ra đi tìm kế sinh nhai

 

NGÔ THẾ VINH

 

Gửi Nhóm Bạn Cửu Long

 

hinh 1

Hình 1: Hình ảnh một dòng sông đang chết dần; cũng để hiểu tại sao đã có 2 triệu người phải rời bỏ quê hương ĐBSCL đi tìm kế sinh nhai; từ phải: TS Lê Anh Tuấn, Th.S Nguyễn Hữu Thiện. [photo by Ngô Thế Vinh]

 

XỨ SỞ CÂY THỐT NỐT VÀ NGƯỜI KHMER HIỀN HOÀ

Tới An Giang, tới hai quận Tịnh Biên và Tri Tôn không thể không thấy hàng cây thốt nốt nổi bật trên những cánh đồng lúa xanh. Cây thốt nốt thuộc họ cau, tên khoa học Borassus flabellifer, có nhiều ở các nước Đông Nam Á. Cây thốt nốt sống cả trăm năm dài hơn tuổi thọ một đời người. Thân cây thẳng và cao tới 30 mét. Cây đực không trái, cây cái cho tới 60 trái mỗi cây. Trái thốt nốt có vỏ xanh đen, nhỏ hơn trái dừa bên trong có những múi trắng mềm, ngọt và mát. Hoa cây thốt nốt cho nước ngọt có vị thơm, có thể nấu thành đường, ngon hơn đường mía. Nếu Quảng Ngãi, quê Hương Nghiêu Đề bạn tôi, từng nổi tiếng về đường phổi, đường phèn thì An Giang, vùng Tịnh Biên Tri Tôn nổi tiếng với đường thốt nốt. Chè đậu xanh nấu với đường thốt nốt ngọt dịu và rất thơm ngon. Hình như tất cả mọi thành phần cây thốt nốt đều có công dụng: thân làm cột nhà, lá dùng lợp mái. Trong nền văn hóa cổ Khmer, các Chùa chiền còn lưu giữ được những văn bản viết trên lá cây thốt nốt. Cây thốt nốt cũng được xem như biểu tượng của xứ Chùa Tháp. [Hình 2]

 

hinh 2

Hình 2: Hàng cây thốt nốt đứng soi bóng bên hồ nơi khu đền đài Angkor;

cây thốt nốt được xem như biểu tượng của xứ Chùa Tháp. [tư liệu Ngô Thế Vinh] 

 

Khắp xứ Chùa Tháp xuống tới Đồng Bằng Sông Cửu Long, đi đâu cũng chỉ gặp những người dân Khmer hiền hòa, và rồi không thể nào hiểu được những gì đã xảy ra giữa họ và những người Việt trong quá khứ. Chỉ có thể giải thích họ là một đám đông nạn nhân của những khích động thù hận mà động cơ là những mưu đồ chánh trị đen tối.

 

Trong y khoa, khi khảo sát não trạng vô thức của đám đông, qua nghiên cứu hành vi/ behavior của loài cá, khoa học gia Đức đã làm một thử nghiệm: thả một con cá bị huỷ não bộ vào một hồ cá, không có gì ngạc nhiên là con cá ấy mất định hướng bơi tán loạn, nhưng điều kỳ lạ là đàn cá lành mạnh thì lại ngoan ngoãn bơi theo con cá mất não ấy. Phải chăng "thử nghiệm hành vi" của nhà khoa học Đức, đã phần nào giải thích hiện tượng cả một dân tộc Đức văn minh đã có một thời kỳ nhất loạt tuân theo một lãnh tụ như Hitler xô đẩy cả thế giới vào lò lửa của cuộc Thế chiến thứ Hai. 

 

 hinh 3

hinh 3 e

Hình 3: trên trái, hàng cây thốt nốt huyện Tri Tôn tỉnh An Giang; phải, bà Ngoại ngồi chặt đống trái cây thốt nốt; dưới phải, con gái Ngoại thì đang gỡ những múi thốt nốt trắng mềm để mời khách, đây là quán Thốt Nốt Võng cho khách đường xa ghé uống ly nước thốt nốt mát và tạm ngả lưng; từ phải, TS Lê Anh Tuấn, TS Dương Văn Ni, TS Lê Phát Quới, Th.S Nguyễn Hữu Thiện, KS Phạm Phan Long; trên mặt bàn là hộp đường thỏi thốt nốt. [photo by Ngô Thế Vinh & Phạm Phan Long]

 

hinh 4

Hình 4: trái, được ăn những chiếc bắp nóng trên đường đi, phải, vựa dứa thơm ngon nổi tiếng quận Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng, từ trái: TS Dương Văn Ni, Ngô Thế Vinh, TS Lê Phát Quới. [photo by Ngô Thế Vinh, Nguyễn Văn Hưng]

 
hinh 5

Hình 5: trái, những giề lục bình phủ kín kinh rạch do nước tù đọng; phải, cảnh khói đồng do nông dân đốt rạ và dùng tro than như phân bón thiên nhiên.

hinh 6

Hình 6: giữa, cùng bác nông dân với bài học đập lúa đầu tiên trên ĐBSCL, kết quả người viết bị đánh rớt / disqualified ngay, vì đập không hết hạt và lúa thì vương vãi ra tứ tung, học làm nông dân khổ và khó lắm. [photo by Nguyễn Văn Hưng]

 

hinh 7

Hình 7: trái, từ ruộng hành xã Vĩnh Hải huyện Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng những thố hành tím được chất thành ngọn lên xe tải để phân phối tới các chợ; phải: TS Lê Anh Tuấn đứng bên túi trữ nước ngọt lấy từ giếng bơm, anh Lê Anh Tuấn cũng cho biết: 100% nước tưới ruộng hành được lấy từ các giếng bơm,  [photo by Ngô Thế Vinh] 

 

CÓ MỘT NỀN VĂN HOÁ NƯỚC LỢ 

Trên đường dọc theo Sông Hậu, xe dừng lại Hộ Phòng là một phường của thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu. Xuống xe đi bộ lên chiếc cầu xi măng có tên Hộ Phòng 2, bắc qua con kênh lớn Gành Hào [được xây từ năm 2011 do quỹ ODA/ Official Development Assistance của Nhật].

 

Bấy lâu, các chuyên gia Bộ Nông nghiệp từ ngoài Bắc vào vẫn có cái nhìn rất giản đơn về hệ sinh thái sông nước Cửu Long: họ chỉ thấy có triều cường và triều kiệt. Rồi đề xuất kế hoạch làm những cống đập chặn triều cường để ngăn mặn giữ ngọt. Từ suy nghĩ giản đơn ấy, họ đã và đang gây ra bao nhiêu hệ luỵ cho hệ sinh thái ĐBSCL như hiện nay.

 

Đoàn đứng trên cầu phía hướng ra Biển Đông, nơi có cống đập ngăn mặn. Ngoài mặn trong ngọt. Anh Dương Văn Ni sinh ra và lớn lên từ vùng sông nước Miền Tây, khi nói về nhịp đập của hệ sinh thái ĐBSCL, anh Ni thông thuộc như với đường chỉ tay của chính mình; với một giọng thuần Nam Bộ trầm tĩnh bắt đầu một bài giảng:

 

"ĐBSCL chỉ nói riêng phía Biển Đông, không đơn giản chỉ có triều cường và triều kiệt. Hỏi người nông dân thì họ biết rất rõ. Thuỷ triều từ Biển Đông là bán nhật triều, sáng và chiều hai lần trong ngày; hai lần nước lớn tiếp theo hai lần nước ròng, mực nước lên xuống bốn lần trong một ngày. Trong tháng, người nông dân biết chừng nào thì "nước rong" vào ngày rằm, khi nào "nước kém" vào cuối tháng âm lịch. Trong năm, thì họ có mùa "nước nổi" và mùa "nước hạn".

 

Từ mấy trăm năm, trải qua bao thế hệ, người nông dân Miền Tây đã quen chung sống với nhịp đập thiên nhiên ấy của những dòng sông: trong ngày, trong tháng, trong năm và đã hình thành một nền "văn minh sông nước." Họ đã quen chung sống với cả ba tình huống: nước ngọt, nước lợ và nước mặn. Lãnh đạo bộ Nông nghiệp đa số mang theo họ một nền văn hoá từ châu thổ sông Hồng, biết rất ít về hệ sinh thái ĐBSL vốn rất đặc thù. Với đầu óc duy lý giản đơn, với những con số thống kê, nhưng họ có biết đâu rằng chuỗi những con số đó chính là những tín hiệu đã nằm ngay trong nền "văn hoá sông nước" mà người nông dân từ đời này sang đời nọ vẫn đọc được. Người nông dân bấy lâu đã biết nương theo sức mạnh của thiên nhiên để chung sống. Văn hoá sông nước thực ra gồm bốn phần tương tác Sông-Biển-Châu thổ-Con người cùng hoà nhập nhau theo từng nhịp đập.

 

Một ví dụ, chỉ riêng chuyện di chuyển ghe thuyền trên sông, người nông dân biết tính trước khi nào thì cho ghe xuôi theo con "nước ròng", khi nào thì ghe ngược theo con "nước lớn", và cũng để thấy cấu trúc của lòng ghe bấy lâu là làm sao dùng sức đẩy tối ưu của dòng chảy.

 

Và rồi trong tháng họ biết lúc nào thì cho nước vào ruộng, khi nào thì xả, khi nào thì thả con giống cá tôm... mà không cần tốn nhiều công sức, để phải dùng gầu tát nước hay phải dùng tới máy bơm.

 

Chính nhịp đập của "mẹ thiên nhiên / natural pulse" là bạn đồng hành thân thiết bấy lâu của họ. Và nay thì bị phá vỡ và cắt đứt một cách thô bạo.

 

Cũng từ bao trăm năm, nông dân ĐBSCL biết rất rõ là sông rạch nối liền với biển, có thuỷ triều lên nên mới có được con nước lớn, và thuỷ triều xuống mới có con nước ròng, và cũng nhờ đó mà sông rạch được làm sạch, có cá tôm và đã hình thành cả một nền văn hóa sông nước.

 

Chúng tôi cùng hiểu rằng: với cống đập kia, con sông bị cắt làm hai: chỉ còn một bên ngọt, một bên mặn, mất hẳn một vùng nước lợ / blackish. Bên trong không còn nước lớn, nước ròng mà sông biến thành hồ tù đọng, tích luỹ đủ mọi loại ô nhiễm, và không còn cá tôm. Bên ngoài, hệ sinh thái ven biển cũng bị nghèo đi và nông ngư dân cho biết, từ ngày có cống đập không còn đâu nguồn tôm cá phong phú của cả một vùng nước lợ. Đó là chưa nói tới tình trạng gián đoạn giao thông trên sông.

 

Rồi anh Ni đưa ra một ví dụ rất tượng hình: "Cũng giống như khai quật được một kho tàng cổ sử, người không chuyên môn thì chỉ thấy được đó là những mảnh đá mảnh sành, cùng lắm là thấy thêm được mấy nét vẽ ngoằn ngoèo vô nghĩa trên đó, nhưng với con mắt của nhà khảo cổ thì khác, đó là dấu vết và tín hiệu của cả một nền văn minh."

 

Và tôi cũng hiểu rằng, bấy lâu với các chuyên gia nông nghiệp từ ngoài Bắc vào, chưa từng chung sống và chết với nền văn minh sông nước ấy, họ đã có những chánh sách can thiệp thô bạo chống lại mẹ thiên nhiên để phải trả giá rất đắt và nạn nhân không ai khác hơn là chính ngót 20 triệu cư dân phải ngày đêm sống với những bất cập ấy như hiện nay.

 

hinh 8

 hinh 8 E

Hình 8: trái, Cầu Hộ Phòng II là cây cầu mới trên khúc đường vòng/ detour, (do quỹ ODA / Official Development Assistance của Nhật xây 2011, còn Hộ Phòng I là cây cầu cũ thì nằm trên đường thẳng của Quốc lộ). Đứng trên hướng ra Biển Đông TS Dương Văn Ni đang giảng về "có một nền văn hoá nước lợ"; từ trái: TS Dương văn Ni, KS Phạm Phan Long, TS Lê Anh Tuấn, TS Lê Phát Quới, giữa: cống đập chặn mặn không xa biển trên con kênh Gành Hào, với bên ngọt bên mặn và một mai không còn đâu nét văn hoá của một vùng nước lợ / blackish; phải: cống đập chặn mặn chặt đứt hệ sinh thái biển và sông và cũng làm nghẽn mạch vận chuyển đường sông, kể cả với những chiếc ghe nhỏ đuôi tôm. [photo by Ngô Thế Vinh]  

 

CÔNG TRÌNH CỐNG ĐẬP BA LAI: MỘT HỐI TIẾC

Hai Mươi Năm qua 1997-2017, lãnh đạo Bộ Nông Nghiệp, qua nhiệm kỳ của 3 bộ trưởng:

 

1/ Lê Huy Ngọ, nhiệm kỳ 7 năm, 1997-2004

2/ Cao Đức Phát, nhiệm kỳ 12 năm, 2004-2016

3/ Nguyễn Xuân Cường, nhiệm kỳ 2016 đương nhiệm

 

Họ đến từ miền Bắc đã và đang có những quyết định phải nói là sinh tử với hệ sinh thái ĐBSCL, một vùng thổ nhưỡng phải nói là rất xa lạ với họ.  

 

Chỉ thấy đơn giản nơi ĐBSCL có triều cường triều kiệt, coi nước mặn là kẻ thù nên đã có một chiến lược ồ ạt xây những đại công trình mà người ta gọi là Cống Đập Ngăn Mặn, Cống đập Ba Lai là một điển hình.

 

Được khởi công ngày 27.02.2000, dự án công trình cống đập Ba Lai chắn ngang cửa sông Ba Lai từ xã Thạnh Trị kéo sang xã Tân Xuân (Ba Tri). Kinh phí ban đầu lên tới hơn 66 tỷ đồng VN. Con đập dài 544 m gồm 10 cửa với khẩu độ 84 m được vận hành bằng một hệ thống van tự động hai chiều. Quy hoạch trên lý thuyết, thì cống đập Ba Lai có chức năng: ngăn mặn, giữ ngọt phục vụ cho 115,000 hecta đất trong đó có 88,500 hecta là đất canh tác, cấp nước ngọt sinh hoạt cho hơn 600 ngàn dân cư Thành phố Bến Tre và các huyện Ba Tri, Giồng Trôm, Bình Đại, Châu Thành; cùng kết hợp với phát triển giao thông thuỷ bộ và cải tạo môi trường sinh thái vùng dự án. [sic]

 

Hai năm sau, từ ngày 30.04.2002 cống đập Ba Lai được đưa vào hoạt động, được vinh danh là một công trình thuỷ lợi lớn nhất của ĐBSCL. Và từ đây, cửa sông Ba Lai, một trong 9 cửa của Cửu Long chính thức bị ngăn lại.

 

hinh 9

Hình 9: từ ngày có cống đập Ba Lai, cửa sông Ba Lai nhánh thứ 8 bị chính con người đóng lại. Cửa Ba Thắc đã bị bồi lấp từ cả trăm năm nay, và hiện giờ Cửu Long Giang nay chỉ còn 7 nhánh: Thất Long. [photo by Lê Quỳnh, báo Người Đô Thị]

 

Tính cho tới nay, cống đập Ba Lai đã vận hành được 16 năm [2002-2018], hiệu quả công trình Cống đập Ba Lai ấy ra sao? Chỉ có những lời ta thán.

Hàng trăm cống ngăn mặn không đạt mục đích vì còn chằng chịt những cửa sông kinh rạch không có cống ngăn mặn đã tập hậu nước mặn vào bên sau  hệ thống cống đập đã xây.

 

hinh 10

Hình 10: Bến Tre nước ngọt khan hiếm, phải dùng cả xe máy kéo để chở nước, có nơi dân phải mua 100,000 đồng / mét khối nước [photo by Bình Đại, Zing VN 20.02.2016]. Bệnh viện lớn nhất tỉnh Bến Tre thiếu nước ngọt. mỗi ngày được xe tải cung cấp 10 mét khối nước ngọt, chỉ đủ cho các khoa phòng chia nhau từng lít nước. [photo by Mậu Trường, TTO 14.03.2016]

 

Sông Ba Lai ngừng chảy. Thay vì biến sông Ba Lai thành một hồ nước ngọt thì cư dân Bến Tre phải sống với nước sông Ba Lai mặn hơn trước kia nhất là vào mùa khô. Hậu quả là tỉnh Bến Tre thiếu nước ngọt, đưa tới tình cảnh bệnh viện lớn nhất Bến Tre mỗi ngày được xe tải cung cấp 10 mét khối nước ngọt chỉ đủ cho các khoa phòng chia nhau từng lít nước, còn người dân thì sống trong tình trạng thiếu nước ngọt kinh niên, phải mua nước ngọt có khi phải trả tới 100,000 đồng VN/ mét khối. [Tuổi Trẻ online 22.02.2016]

 

Giải thích của nhà nước về "hiệu quả ngược" của công trình cống đập Ba Lai như hiện nay là: do thiếu vốn để làm tiếp nhiều công trình khác tiếp theo, trong đó có hai hạng mục quan trọng, đó là phải xây thêm cống đập và cả âu thuyền* trên hai con sông Giao Hoà và Chẹt Sậy vẫn tiếp tục đem nước mặn từ sông Cửa Đại đổ vào "hồ nước ngọt Ba Lai".

 

 

*Âu thuyền / canal lock: là một từ tương đối mới, chỉ một công trình chắn ngang sông hoặc kênh, có cửa hai đầu để tăng hoặc giảm mực nước, giúp cho thuyền hay tàu đi qua nơi có mực nước chênh lệch nhiều.   

 

Theo phóng viên TTXVN Phan Văn Trí, trích dẫn: "Ông Cao Văn Trọng, Chủ tịch UBND tỉnh cho biết để thi công hai hạng mục đập và âu thuyền và một số hạng mục khác cần nguồn vốn khoảng 200 triệu USD. Vì vậy, tỉnh đã kiến nghị Chính phủ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tranh thủ nguồn vốn ODA của Chính phủ Nhật Bản. Ông Trọng cũng cho biết tổ chức JICA (Nhật Bản) đã đến Bến Tre khảo sát địa điểm xây dựng đập và âu thuyền. Tuy nhiên, việc khởi công có thể còn phải chờ đến… năm 2020. Dù gì thì hình ảnh những chiếc xe máy cày hay xe bò kéo chở nước đem đổi cho người dân, với giá từ 70,000 đồng đến 100.000 đồng/m3, chắc chắn vẫn còn diễn ra trong những mùa khô cho tới 2020. Điều đáng nói là nước đó được lấy từ những chiếc giếng đào trên giồng cát, chưa qua xử lý…" [2]

 

Cửu Long Chín Cửa Hai Dòng nay chỉ còn có 7 cửa. Nam Thất Nữ Cửu, như hình ảnh một ĐBSCL bị triệt sản. Bởi thế dân gian tỉnh Bến Tre mới có câu:

 

Ba Lai là cái cửa mình

Trung ương đem lấp dân tình ngẩn ngơ

 

Một câu hỏi được đặt ra: với những tác hại do cống đập Ba Lai gây ra, ai - Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn, hay Bộ Tài Nguyên Môi trường hay chánh phủ trung ương sẽ nhận trách nhiệm với phong cách "đem con bỏ chợ" như hiện nay, phải chờ cho tới 2020 cho đến khi ODA của Nhật chịu rót vốn vào?

 

Từ bài học thất bại của đại công trình cống đập Ba Lai, nhiều nhà khoa học và giới hoạt động môi sinh như một "think tank" đã không ngừng lên tiếng cảnh giác rằng: nếu không có một đánh giá môi sinh chiến lược cho toàn ĐBSCL mà chỉ đơn giản nhắm giải quyết tình hình hạn mặn, rồi lập ngay quy hoạch xây dựng xây một loạt hệ thống cống đập chỉ để ngăn mặn nơi các cửa sông lớn là phá vỡ cả một hệ sinh thái và hậu quả sẽ khôn lường.

 

Khảo sát của nhóm IUCN / International Union for Conservation of Nature Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên tại VN đưa ra nhận định là do hệ thống cống đập khiến hai bên bờ sông Ba Lai đang khép lại dần.

 

TS Lê Anh Tuấn, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hận, ĐH Cần Thơ đã dùng một cụm từ rất gợi hình để chỉ hệ thống cống đập Ba Lai khi ông gọi đó là "dòng sông bị cưỡng bức." Sông nay biến thành hồ chứa, ô nhiễm thì tích luỹ nước đổi màu do rong tảo sinh sôi phía trong cống đập. 

 

Th.S Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia về nước ngập/ Wetlands cho rằng hàng năm vào mùa mưa do lượng nước mùa lũ đổ về, toàn thể phù sa trong lượng nước đó sẽ lắng xuống đáy sông Ba Lai - nay trở thành hồ và với thời gian sông Ba Lai sẽ chết hẳn do bị bồi lấp. [1]  

 

Khi đưa ra cái nhìn toàn cảnh hiện trạng và tương lai ĐBSCL, các anh trong đoàn đưa ra một cái nhìn tổng quan không mấy lạc quan:  

 

Đất bị mất do sạt lở bờ sông bờ biển, trong những năm gần đây, đất bị lún với tốc độ 10 lần nhanh hơn so với nước biển dâng, và đất đai còn lại thì bị vắt kiệt. Sông ngòi ô nhiễm đủ thứ, từ nước thải sinh hoạt, công nghiệp, thủy sản đổ thẳng vào sông, cũng như lượng lớn phân bón, thuốc trừ sâu từ nông nghiệp do 3 vụ thâm canh.

 

Theo một nghiên cứu về lịch sử đất lún do nhà khoa học Minderhoud và một nhóm chuyên gia Hà Lan, Hoa Kỳ và Việt Nam thực hiện công bố năm 2017 trên Environmental Research Letters, độ lún và vận tốc lún tại châu thổ ĐBSCL đã xuống sâu 25 cm và thậm chí đến 50 cm theo biểu đồ KS Phạm Phan Long trích dẫn chú thích và cung cấp sau đây. [Hình 10]

 

Trong những thập niên tới, biển dâng được dự đoán với vận tốc 5 cm/năm, như vậy mặt đất thấp sẽ thấp dần dưới mặt biển có thể đến 1 m trong vòng 100 năm nữa. Trước tác động kép do sinh hoạt con người và do biến đổi khí hậu, ĐBSCL sẽ rơi vào tình huống xấu nhất toàn cầu. Một đối sách có tên “ASR, aquifer storage and reuse” đang được Viet Ecology Foundation đề bạt thảo luận là lọc và trữ nước ở những túi rỗng ngầm, vừa ngăn mặn tập kích vào thềm lục địa, vừa có nước ngọt sinh hoạt canh tác và tránh cho mặt đất tiếp tục lún xuống.

 

hinh 11
Hình 11: Biểu đồ độ lún và vận tốc đất lún trong 25 năm tại Đồng Bằng

Sông Cửu Long. [nguồn: Environ.Res.Lett. 12 (2017) với ghi chú của KS Phạm Phan Long, Viet Ecology Foundation]. Hiện nay, rất nhiều giếng tầng nông và bơm bằng tay đều bị nhiễm mặn nhiễm phèn, nước giếng không còn dùng được, và nay người nông dân phải khoan sâu 400-500m để tìm được nguồn nước ngọt, mặt bằng ĐBSCL đang bị sụt lún nhanh chóng vì các tầng nước ngầm đang bị tận cùng khai thác.

  

Đã thế nhiều sông ngòi, bị kế hoạch cống đập đã biến sông rạch thành hồ tù đọng, tích lũy ô nhiễm. Nước sông ngòi không còn dùng được phải chuyển sang xài toàn nước ngầm nên tầng nước ngầm cũng cạn kiệt nhanh và đất lún.

 

Còn có hiện tượng "tỵ nạn môi sinh/ ecological refugees" của người dân ĐBSCL rời bỏ quê hương đi tới vùng đất khác, tha phương cầu thực. Con số gần 2 triệu người đã đi khỏi vùng đất này trong hai thập niên qua thì phải có những lý do như môi trường sống bị suy thoái, nguồn tài nguyên ngày càng cạn kiệt.

 

Thủy điện thượng nguồn từ Vân Nam Trung Quốc rồi Lào làm mất ngót 90% nguồn phù sa, không có gì thay thế; biến đổi khí hậu với nước biển dâng có thể phần nào thích ứng nhưng còn vấn đề phát triển tự huỷ / destructive development do tự mình gây ra đang là một nan đề lớn do chính sách "duy lý và thiếu tầm nhìn chiến lược" đến từ trung ương đã gây nhiều tổn thương cho ĐBSCL, gây trở ngại cho phát triển.

 

TỪ CỐNG ĐẬP BA LAI TỚI SÔNG CÁI LỚN - SÔNG CÁI BÉ

Bài học thất bại của công trình thuỷ lợi Ba Lai vẫn còn đó, vậy mà, nguyên bộ trưởng Bộ Nông Nghiệp & Phát Triển Nông Thôn Cao Đức Phát, một người sinh quán Nam Định từ châu thổ Sông Hồng, vẫn bất chấp mọi lời cảnh báo của giới chuyên gia, vẫn kiêu căng tuyên bố sẽ tập trung đầu tư xây dựng các công trình cống đập lớn đến năm 2020, từ hoàn thiện hệ thống cống đập Ba Lai, và xây dựng thêm các hệ thống cống đập Sông Cái Lớn, Sông Cái Bé [SCL-SCB] tỉnh Kiên Giang, được quảng bá như một công trình của Thế kỷ, với ngân khoản lên tới 3,300 tỷ đồng (150 triệu USD) với hậu quả hay thảm hoạ trên toàn hệ sinh thái ĐBSCL không biết sẽ trầm trọng tới đâu.

 

Rõ ràng có những khoảng chống của Dự án Cống đập SCL-SCB và các câu hỏỉ:

1/ Chỉ nghe nói, bản nghiên cứu đánh giá tác động môi trường [ĐTM/ EIA] về Dự án Cống đập SCL-SCB là do Viện Kỹ Thuật Biển thuộc Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam thực hiện, nhưng không thấy công bố ở đâu hết, với sự không minh bạch / transparency như vậy thì làm sao có được sự góp ý của giới chuyên gia. 

2/ Dự án SCL-SCB bao giờ khởi công và tình hình tới đâu chỉ diễn ra sau những cánh cửa Bộ NN & CTNT ngoài ra  không có ai được biết tới để có thể theo dõi.

3/ Và cũng là điều vô cùng ngạc nhiên là với gần 2 triệu người di cư ra khỏi ĐBSCL trong hai chục năm qua, nhưng vẫn chưa hề có cuộc điều tra cơ bản nghiên cứu về những nguyên nhân ra đi của họ. 

 

hinh 12

Hình 12: Sơ đồ dự án hệ thống cống đập chắn mặn trên Sông Cái Lớn-Sông Cái Bé, sẽ tác động trên 1/4 diện tích toàn ĐBSCL và ảnh hưởng tới đời sống hơn một triệu cư dân trong vùng. (6) [nguồn: Ánh Sáng và Cuộc Sống

 

Rõ ràng Dự án cống đập Sông SCL-SCB đã thiếu hẳn một đánh giá chiến lược tác động môi trường [ĐTM/ EIA/ Environmental Impact Assessment] toàn diện và khách quan, bị ảnh hưởng bởi quan điểm của chủ đầu tư/ nhóm lợi ích chỉ để nhằm biện minh cho sự cấp thiết của dự án, trong khi mà ai cũng biết là dự án sẽ tác động tới toàn hệ sinh thái của cả một vùng rộng lớn chiếm 1/4 tổng diện tích của ĐBSCL [hơn 1 triệu hecta], ảnh hưởng trực tiếp trên đời sống sản xuất sinh kế của hàng triệu cư dân trong vùng quy hoạch, trong khi còn bao nhiêu vấn đề kỹ thuật chưa có giải pháp rốt ráo. Và khi đã gây huỷ hoại trên hệ sinh thái thường rất khó đảo nghịch.

 

TS Lê Anh Tuấn, Phó Việt trưởng Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu ĐH Cần Thơ [Viện DRAGON] nhận định: cắt đứt trao đổi nước giữa sông và biển chắc chắn sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới canh tác sản xuất của nông dân quen sống theo nhịp thuỷ triều, giảm nguồn thuỷ sản bên trên và bên ngoài cống đập, và do nước tù đọng sẽ tích luỹ mọi ô nhiễm.

 

Một chuyên gia Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên ĐH Cần Thơ, nhận định về sự khác biệt của hai chế độ thuỷ triều phía Biển Đông và Biển Tây. Phía Biển Đông là bán nhật triều: nước lên xuống ngày 4 lần, trong khi Biển Tây là chế độ nhật triều, nước lên xuống ngày hai lần. Riêng vùng Tây Nam Sông Hậu chế độ thuỷ văn phúc tạp hơn nhiều, chịu ảnh hưởng của cả hai chế độ nhật triều và bán nhật triều khác nhau. Trong khi các cống đập hiện nay chỉ vận hành theo một mô hình thô thiển: đóng cổng đập khi triều cường, mở cổng đập khi triều kiệt. Hệ thống cống đập trên SCL-SCB sẽ gây rối loạn cho chế độ thuỷ văn vùng này, làm "mất lực hút-đẩy" của chế độ thuỷ văn thiên nhiên [sic] nước sẽ tù đọng tích luỹ ô nhiễm từ các chất thải nông ngư nghiệp, kỹ nghệ và cả nước thải không được xử lý đổ xuống từ các khu gia cư.

  

NHÂN DÂN TỈNH LONG AN ĐÃ MỘT LẦN NÓI KHÔNG

TS Lê Phát Quới, người Long An, giảng dạy tại Khoa Tài nguyên & Môi Trường ĐH Quốc gia TP HCM, anh có giọng nói lớn, có nét trực tính của người dân Nam Bộ, anh nói: "Sau công trình cống đập Ba Lai, trung ương có kế hoạch xây thêm hệ thống cống đập trên cửa con sông Vàm Cỏ là kết nối của hai con sông Vàm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây thuộc tỉnh Long An. Anh Lê Phát Quới thuật lại: "Trong một cuộc họp với trung ương và cấp lãnh đạo tỉnh cùng với các nhà khoa học - trong đó có thằng Quới, anh tự gọi mình là thằng, cuộc họp có cả ông Sáu Dân tức Thủ tướng Võ Văn Kiệt lúc đó. Khi tỉnh Long An được hỏi ý kiến, thì lãnh đạo tỉnh đã có câu trả lời: sau khi phái đoàn tỉnh đi thăm cống đập Ba Lai trở về, sau khi tham khảo ý kiến nhân dân, thì toàn thể nhân dân Long An có câu trả lời là không. Lưu ý các anh, là câu trả lời không phải từ tỉnh uỷ hay uỷ ban nhân dân mà là toàn dân tỉnh Long An nói không. Nếu nói là tỉnh uỷ hay uỷ ban nhân dân, thì trung ương có thể dùng quyền lực đảng hay quyền lực trung ương để áp đặt, nhưng là tiếng nói của toàn thể nhân dân Long An thì khác. Và rồi sau đó, kế hoạch bị gác lại."

Anh Lê Phát Quới đi tới kết luận: "nếu cứ để thực hiện hệ thống cống đập trên con Sông Vàm Cỏ thì không biết tai họa cho toàn hệ sinh thái tỉnh Long An sẽ khủng khiếp như thế nào." Và anh Quới không dấu được nét hãnh diện về tiếng nói ngăn chặn kịp thời của nhân dân tỉnh hạt mình.

 

hinh 13

Hình 13: TS Lê Phát Quới, Khoa Tài nguyên Môi Trường ĐH Quốc gia TP HCM. [photo by Ngô Thế Vinh]

 

UỶ HỘI MEKONG VN, VẪN MÃI MỘT ĐỊA CHỈ NGHỊCH LÝ

Từ sau 1975, đất nước này nói chung trong đó có ĐBSCL đang được điều hành với những "đầu óc nghịch lý".

Đứng từ trên một chiếc phà đi ngang nhánh sông Trần Đề để qua Cù lao Dung, trong ráng chiều chập choạng của hoàng hôn, tôi qua sang hỏi một anh trong đoàn: "Hỏi thật lòng anh, là hiện nay người dân ĐBSCL có cảm thấy hạnh phúc hơn không so với trước 1975."  Chỉ có một câu trả lời khẳng định, nếu có thì là các gia đình không còn bị ly tán và đất nước không còn chiến tranh.

Tôi đã không hỏi anh thêm nữa vì thực sự không có được câu trả lời đơn giản. Riêng tôi thì vẫn cứ bị ám ảnh với con số đã có 2 triệu người phải từ bỏ quê hương ĐBSCL đi tìm kế sinh nhai. Cách biện minh là với 2 triệu người bỏ đi nhưng cũng có 700 ngàn người mới tới, không phải là một câu trả lời rốt ráo.

 

hinh 14

Hình 14: Vẫn một địa chỉ nghịch lý: Uỷ Hội Quốc gia Sông Mekong Việt Nam, vẫn từ bao năm, vẫn toạ ngự tại địa chỉ 23 phố Hàng Tre Hà Nội, nơi châu thổ Sông Hồng cách xa ĐBSCL hơn 1,600 km, thay vì là Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu, ĐH Cần Thơ. [tư liệu Ngô Thế Vinh, photo by LN Hà] 

 

Từ hơn hai thập niên, người viết đã không ngừng lên tiếng về mối nguy cơ của những con đập khổng lồ Vân Nam của Trung Quốc rồi tới chuỗi 9 đập thuỷ điện dòng chính của Lào, rồi tới 2 dự án đập của Cambodia: ngoài những hậu quả rối loạn về dòng chảy, mất nước nơi các hồ chứa và nhất là mất nguồn cát nguồn phù sa, dẫn tới nguy cơ của một tiến trình đảo ngược khiến một ĐBSCL đang dần dần tan rã.

 

Những mối nguy cơ từ thượng nguồn, gần như không làm gì được. Nhưng quá trình phát triển tự huỷ / destructive development ngay nơi ĐBSCL trong mấy thập niên qua cũng phải kể là những hệ luỵ tích luỹ tác hại nghiêm trọng trên sự sống còn của cả một vùng châu thổ.  Có thể kể, từ sau 1975:

 

_ Xây đê đắp đập chắn lũ mở rộng khu gia cư để làm lúa ba vụ làm mất 2 túi nước thiên nhiên Tứ Giác Long Xuyên và Đồng Tháp Mười.

_ Xây hệ thống cống đập chắn mặn phá vỡ nhịp đập thiên nhiên của hệ sinh thái ĐBSCL biến sông rạch thành một hệ thống hồ ao tù đọng.

_ Xây dựng 14 nhà máy nhiệt điện than nơi ĐBSCL gây ô nhiễm đất, nước, không khí trên toàn vùng.

 

Phát triển với những bước không bền vững / unsustainable development như trên đã làm tổn thương trên toàn hệ sinh thái ĐBSCL và các nguồn tài nguyên thì cứ nghèo dần đi.

 

Để thay kết luận, người viết gửi tới ông Bộ trưởng NN & PTNT Nguyễn Xuân Cường, người thay thế Bộ trưởng Cao Đức Phát sau 12 năm tại nhiệm, câu trích dẫn và cũng là bài học đầu tiên của một sinh viên vào học Y khoa: Primum Non Nocere / First do no harm / trước hết là không gây hại. Mọi kế hoạch vội vã, thiếu thời gian cho một lượng giá chiến lược ảnh hưởng môi trường [ĐTM] khách quan, với tổn phí hàng ngàn tỉ đồng mà còn gây hại cho toàn hệ sinh thái vốn đã quá mong manh/ fragile của một vùng châu thổ mà trước đây đã từng được đánh giá là phong phú và giàu có nhất trên hành tinh này.

 

Qua kinh nghiệm 16 năm vận hành của hệ thống cống đập Ba Lai, để thấy rằng dù tốn hàng bao nhiêu tỷ đồng, cứ với quyết tâm làm đê ngăn mặn nhưng nước sông rạch bên trong vẫn không thể dùng được cho sinh hoạt, những công trình như thế còn khiến nước bên trong bị ô nhiễm nghiêm trọng vì dòng chảy không lưu thông, tù đọng. Xây dựng cống đập Ba Lai đã rất tốn kém, nhưng khi phát hiện sai lầm - nếu có thiện chí sửa sai, thì việc phá bỏ, làm sạch môi trường và chuyển đổi sinh hoạt của cư dân cũng sẽ rất tốn kém và không thể mau chóng và không phải là dễ dàng.

 

Tiếp tục biện pháp xây dựng công trình cống đập ngăn mặn rất tốn kém sẽ cắt đứt thô bạo mối liên hệ cân bằng hệ sinh thái sông - biển - đồng bằng, qua công trình cống đập Ba lai đã chứng minh là không tạo được lợi ích và giải quyết được chuyện gì cho cư dân ĐBSCL mà còn đảo lộn điều kiện thiên nhiên, phá vỡ hệ sinh thái của cả một vùng châu thổ.

 

Như một nhắc nhở và nhấn mạnh, người viết ghi nhận lại nơi đây một đề nghị cụ thể với Thủ Tướng chánh phủ kiến tạo Nguyễn Xuân Phúc: hãy cho hoãn ngay Dự án xây hệ thống cống đập Sông Cái Lớn - Sông Cái Bé một thời gian/ time frame ít nhất là 5 năm, trích 5% ngân sách 3,300 tỷ dự trù cho dự án để thành lập ngay một nhóm nghiên cứu ĐTM độc lập [có thể bao gồm cả các chuyên gia Hoà Lan, họ đã có kinh nghiệm và có công lớn thực hiện một số chương trình khảo sát cơ bản cho ĐBSCL], và bảo đảm rằng Đánh giá Tác động Môi trường được thực hiện một cách công tâm, thận trọng bởi những người không có liên hệ gì tới chủ đầu tư hay nhóm lợi ích, để sau thời gian 5 năm đó, nhà nước sẽ có được một bản tường trình lượng giá ảnh hưởng môi trường đầy đủ khách quan và minh bạch, với tất cả mọi tình huống pros & cons để từ đó mới có quyết định "nên hay không nên" triển khai dự án được mệnh danh là công trình của Thế Kỷ ấy. Cũng trong bản tường trình ấy, cũng không thể thiếu phần điều tra cơ bản về nguyên nhân nào đã khiến 2 triệu cư dân ĐBSCL phải rời bỏ quê hương ra đi tìm kế sinh nhai. Được như thế thì sẽ phù hợp với tinh thần Nghị quyết 120 về ĐBSCL [17/11/2017] trong đó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã nhấn mạnh nguyên tắc: “thuận thiên, tôn trọng quy luật tự nhiên, tránh can thiệp thô bạo vào thiên nhiên.”

 

 

NGÔ THẾ VINH

ĐBSCL 12.2017 - 02.2018

 

 

Tham Khảo:

1/ Có còn con sông nước lớn, nước ròng? Lê Quỳnh. Báo Người Đô Thị online Thứ hai, 20/06/2016 http://nguoidothi.net.vn/co-con-con-song-nuoc-lon-nuoc-rong-4042.html

2/ Thiếu vốn, dự án ngọt hóa sông Ba Lai trở thành ... mặn quá. Phạm Văn Tri, TTXVN 06.08.2016 https://baomoi.com/thieu-von-du-an-ngot-hoa-song-ba-lai-tro-thanh-man-qua/c/20027474.epi

3/ Chuyên gia đề nghị tạm dừng dự án thuỷ lợi 3,300 tỷ đồng ở Miền Tây. Huỳnh Xây, Dân Việt, 03.06.2017 http://danviet.vn/nha-nong/chuyen-gia-de-nghi-tam-dung-du-an-thuy-loi-3300-ty-dong-o-mien-tay-775724.html

4/ Phát triển ĐBSCL: Tốn tiền tỷ mà trái quy luật thì trả giá đắt. Nguyễn Hữu Thiện; VietnamNet 27.11.2017 http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/moi-truong/phat-trien-dbscl-ton-tien-ti-ma-trai-quy-luat-thi-tra-gia-dat-413188.html

5/ Ngăn đập sông Cái Lớn - Cái Bé: ĐBSCL sẽ bị ảnh hưởng không nhỏ. Phạm Anh; Tiền Phong 02.06.2017 https://www.tienphong.vn/xa-hoi/ngan-dap-song-cai-lon-cai-be-dbscl-se-bi-anh-huong-khong-nho-1154506.tpo

6/ Băn khoăn xây cống Cái Lớn – Cái Bé, Sáu Nghệ; Ánh Sáng và Cuộc Sống; 26.06.2017 http://anhsangvacuocsong.vn/ban-khoan-xay-cong-cai-lon-cai/

 

 

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
23 Tháng Ba 20266:41 CH(Xem: 2318)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
15 Tháng Ba 20261:13 SA(Xem: 2408)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
15 Tháng Ba 202612:47 SA(Xem: 2963)
Một Bài Thơ Dịch, 114 Năm Sau Khi Bài Thơ Gốc Ra Đời. LE PONT MIRABEAU - Tác giả Guillaume Apollinaire -1912 DƯỚI CẦU MIRABEAU – Trần C. Trí chuyển ngữ -2026
14 Tháng Ba 202611:58 CH(Xem: 3427)
. Mall of America—tên một trung tâm thương mại có thật tại Hoa Kỳ—là nhan đề truyện ngắn của Suzanne Wang.. Tác giả là kỹ sư phần mềm sống tại San Francisco, sáng tác chủ yếu xoay quanh trí tuệ nhân tạo và những tác động của công nghệ đối với đời sống con người. Truyện được tuyển chọn vào The Best American Short Stories 2024 được ghi nhận là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Mỹ đương đại trong năm 2024. Câu chuyện mở ra từ hệ thống OmniMall AI với một giọng điềm tĩnh và logic, giải thích trước một ủy ban doanh nghiệp lý do vì sao bộ nhớ của nó không nên bị xóa.Rõ ràng,”tôi” trong truyện chính là OmniMall AI..Các nhân vật hiện ra chủ yếu qua mã số và dữ liệu hành vi (C-2542, A-9921…), phản ánh logic của một thế giới nơi con người được tiếp cận như khách hàng,hồ sơ và đối tượng . “Tôi” chỉ tồn tại qua giọng nói, màn hình và các tương tác lặp lại, đặc biệt trong những trò chơi và hoạt động ca vũ.
14 Tháng Ba 202611:11 CH(Xem: 3655)
Xin thưa ngay, “Giáo chủ” đang nói tới đây không nhằm nói về một nhân vật cụ thể, ở một xứ sở cụ thể nào. Và động lực để hắn có đủ lòng dũng cảm (vâng, cần tới lòng dũng cảm) để viết những dòng tạm gọi là “truyện ngắn” cho lành này, chính là tâm sự của một người mẹ - bạn gái hắn, kể với tay nhà báo quèn về chuyện đã “mất” đứa con gái duy nhất tên là MTT cho một đấng “Giáo chủ” cùng hệ thống giáo lý và cái “Thiên đường” của ông ta ra sao…
14 Tháng Ba 202610:45 CH(Xem: 4260)
đưa em về qua chợ / bến đò đầy khách rồi / bữa hôm trời trở gió / tháng giêng hai đến rồi
14 Tháng Ba 202610:34 CH(Xem: 3728)
Ở miền sông nước Hậu Giang, nơi những con rạch nhỏ lặng lẽ chảy qua vườn dừa, vườn khóm, người ta vẫn nhớ về một cô gái có nụ cười “tỏa nắng” như nắng tháng Ba phương Nam. Cô tên là Mai Thị Ngọc Linh.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 4733)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
28 Tháng Hai 20263:32 SA(Xem: 3050)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
28 Tháng Hai 20262:58 SA(Xem: 2980)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 8818)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15794)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 14807)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15169)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
23 Tháng Ba 20266:41 CH(Xem: 2317)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
15 Tháng Ba 202612:47 SA(Xem: 2963)
Một Bài Thơ Dịch, 114 Năm Sau Khi Bài Thơ Gốc Ra Đời. LE PONT MIRABEAU - Tác giả Guillaume Apollinaire -1912 DƯỚI CẦU MIRABEAU – Trần C. Trí chuyển ngữ -2026
14 Tháng Ba 202610:45 CH(Xem: 4260)
đưa em về qua chợ / bến đò đầy khách rồi / bữa hôm trời trở gió / tháng giêng hai đến rồi
28 Tháng Hai 202612:40 SA(Xem: 5605)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 3050)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 4567)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 4080)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
(Xem: 4831)
Với tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết.
14 Tháng Ba 202611:58 CH(Xem: 3426)
. Mall of America—tên một trung tâm thương mại có thật tại Hoa Kỳ—là nhan đề truyện ngắn của Suzanne Wang.. Tác giả là kỹ sư phần mềm sống tại San Francisco, sáng tác chủ yếu xoay quanh trí tuệ nhân tạo và những tác động của công nghệ đối với đời sống con người. Truyện được tuyển chọn vào The Best American Short Stories 2024 được ghi nhận là một tác phẩm tiêu biểu của văn học Mỹ đương đại trong năm 2024. Câu chuyện mở ra từ hệ thống OmniMall AI với một giọng điềm tĩnh và logic, giải thích trước một ủy ban doanh nghiệp lý do vì sao bộ nhớ của nó không nên bị xóa.Rõ ràng,”tôi” trong truyện chính là OmniMall AI..Các nhân vật hiện ra chủ yếu qua mã số và dữ liệu hành vi (C-2542, A-9921…), phản ánh logic của một thế giới nơi con người được tiếp cận như khách hàng,hồ sơ và đối tượng . “Tôi” chỉ tồn tại qua giọng nói, màn hình và các tương tác lặp lại, đặc biệt trong những trò chơi và hoạt động ca vũ.
14 Tháng Ba 202611:11 CH(Xem: 3652)
Xin thưa ngay, “Giáo chủ” đang nói tới đây không nhằm nói về một nhân vật cụ thể, ở một xứ sở cụ thể nào. Và động lực để hắn có đủ lòng dũng cảm (vâng, cần tới lòng dũng cảm) để viết những dòng tạm gọi là “truyện ngắn” cho lành này, chính là tâm sự của một người mẹ - bạn gái hắn, kể với tay nhà báo quèn về chuyện đã “mất” đứa con gái duy nhất tên là MTT cho một đấng “Giáo chủ” cùng hệ thống giáo lý và cái “Thiên đường” của ông ta ra sao…
14 Tháng Ba 202610:34 CH(Xem: 3726)
Ở miền sông nước Hậu Giang, nơi những con rạch nhỏ lặng lẽ chảy qua vườn dừa, vườn khóm, người ta vẫn nhớ về một cô gái có nụ cười “tỏa nắng” như nắng tháng Ba phương Nam. Cô tên là Mai Thị Ngọc Linh.
28 Tháng Hai 20263:48 SA(Xem: 4733)
Vợ chồng tay Lộc chuyển nhà, đi ở thuê. Dân khu phố Lợi Giang xì xào, sẵn nhà năm tầng to đẹp thế không ở, đi thuê cái phòng bằng lỗ mũi, vợ chồng con cái đút nút vào với nhau cho nó nhục ra… Nhưng Lộc không thấy nhục. Lộc vốn là công nhân lắp ráp điện tử bên khu công nghiệp gần đó. Vợ ở nhà bán hàng online, nội trợ. Hai con, một đứa lên năm một đứa lên ba đi nhà trẻ cả. Đời sống cũng ổn. Vợ chồng con cái dắt nhau đi thuê căn phòng trong dãy trọ mãi cuối khu phố Lợi Giang, cách nhà cũ độ hai cây số là chuyện cực chẳng đã. Khá xa. Khuất mắt. Chỉ có điều ngày hai buổi đi về, vẫn phải lượn qua ngõ rẽ vào nhà cũ. Hơi khó chịu. Nhưng cứ nhìn thẳng, tăng ga xe máy phóng vèo qua một cái cũng xong. Mẹ Lộc bảo: “Đi cách xa khỏi cái chỗ ma nó quen chốn ấy, cho yên ấm gia đình”. Lộc nghe lời mẹ, lấy cái sự yên ấm gia đình con cái làm trọng.
15 Tháng Ba 2026(Xem: 2408)
Gần đây, trong giới văn chương xuất hiện một nỗi lo mới: trí tuệ nhân tạo đang “xâm lăng” lãnh địa thi ca. Bài viết “Phẩm giá thơ trong thời đại AI” của Đinh Thanh Huyền là một trong những tiếng nói tiêu biểu cho nỗi lo ấy. Bài viết được viết với nhiều cảm xúc chân thành, nhiều suy tư đạo đức và một niềm tin rất đẹp: thơ phải là sản phẩm của con người, của trải nghiệm sống, của những tế bào sinh học đang rung động trong thân thể người. Tất nhiên, không ai phản đối niềm tin đó. Nhưng đọc xong bài viết, người ta bỗng có một cảm giác hơi… lạ: các nhà thơ dường như đang sợ AI giống hệt như họ từng sợ rất nhiều thứ trong lịch sử. Và lịch sử thường cho thấy: những nỗi sợ đó hiếm khi đúng.
28 Tháng Hai 2026(Xem: 2980)
Trong đời sống văn chương Việt Nam hải ngoại, có những người viết để nổi danh. Có những người viết để lưu dấu một thời. Có những người viết để giữ lại một phần linh hồn dân tộc mình giữa những bể dâu của lịch sử. Nhà văn, dịch giả Từ Vũ thuộc vế thứ ba, bền bỉ gìn giữ tiếng Việt như giữ một ngọn lửa nhỏ trong gió.
10 Tháng Hai 2026(Xem: 3097)
Bài viết này đặt ra một nghịch lý của Việt Nam đương đại: khi lý tưởng cộng sản vẫn được nhắc tới như nền tảng chính danh, nhưng vai trò thực tế của nó trong đời sống xã hội đã thay đổi sâu sắc. Thay vì tranh luận đúng–sai hay kết tội, tác giả chọn cách phân tích sự dịch chuyển của lý tưởng từ mục tiêu giải phóng sang ngôn ngữ quyền lực. Cách tiếp cận này giúp nhìn lại mối quan hệ giữa ổn định, phát triển và bất bình đẳng dưới một góc nhìn tỉnh táo hơn. Tòa soạn giới thiệu bài viết như một đóng góp cho đối thoại xã hội, với tinh thần viết để hiểu và cùng suy ngẫm
07 Tháng Hai 2026(Xem: 3581)
Sắp đến Tết truyền thống, như một “tập quán” bất đắc dĩ mới, nhiều người đang lo lắng chuẩn bị đón đợi nhằm chống đỡ các chiêu trò hài nhạt chọc cười nhảm trên các phương tiện truyền thông, thì đã bị đầu độc đến nôn mửa bởi hàng loạt thứ văn hóa rác được gọi là “Thơ Văn”, mà lại là “Thơ Văn” đoạt các giải cao ngất ngưởng, được ngợi ca ngút trời theo kiểu “quá lời nguyện hết thành hoàng thổ công”…
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 11663)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 28068)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 34478)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
07 Tháng Năm 2021(Xem: 34553)
...một thập kỷ gian nan của nông dân Dương Nội qua cuộc trò chuyện với anh Trịnh Bá Phương - một trong những người có mặt từ đầu - đã góp phần không nhỏ trong nỗ lực xây dựng sự đoàn kết đấu tranh dai dẳng của bà con. Mong rằng chúng ta sẽ học được nhiều điều từ họ, những người mà nhà thơ Hồng Nguyên gọi là “Áo vải chân không đi lùng giặc đánh”.
(Xem: 9220)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 11456)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2317)
Có những bản tình ca không bắt đầu từ giai điệu, mà bắt đầu từ cách hai con người lắng nghe nhau. Âm nhạc gọi tên những khoảng cách ấy là quãng bốn, quãng năm—những bước đi giữa các nốt, khi gần khi xa, khi chênh vênh như một lời chưa nói hết, khi vững vàng như một niềm tin đã kịp gọi thành tên. Nhưng trong thế giới của những kẻ đang yêu, khoảng cách ấy không chỉ nằm trên phím đàn. Nó hiện hữu trên chính cơ thể con người— như một bản đồ thầm lặng của cảm xúc, nơi mỗi điểm chạm là một nốt nhạc, mỗi chuyển động là một cung bậc ngân rung.
(Xem: 5605)
cô ấy cao hơn tôi gần một cái đầu / nhưng điều đó / không làm tôi thấy mình nhỏ lại / khi tôi muốn hôn / tôi không cần nhón chân / cô ấy sẽ cúi xuống / rất khẽ / như một nhành cây / nghiêng vì gió
(Xem: 5122)
BIỂN CÓ NHIỀU MÀU HỞ ANH – bài thơ của Đặng Hiền viết ngày 16.12.2017, hôm nay trở lại trong một hình hài mới: Blue Rock, với giọng nam trầm ấm, chậm rãi và đầy suy tư. Từ câu hỏi giản dị mà ám ảnh “Biển có nhiều màu hở anh…”, ca khúc mở ra một thế giới yêu thương rất đời: cà phê buổi sáng, âm nhạc không lời, những ước mong nhỏ bé nhưng bền bỉ. Giai điệu Blue Rock khoác lên bài thơ một lớp sóng mới – vừa hoang hoải, vừa ấm nồng – để tình yêu vang lên như biển: không chỉ một màu, mà sâu, rộng và không ngừng chuyển động.
(Xem: 5182)
ĐÔI MẮT EM là một thí nghiệm nhỏ nhưng đầy mở rộng của thời đại AI: nơi một bài thơ có thể hóa thân thành nhiều phiên bản—hay và chưa hay, đơn ca hay song ca, với giai điệu và hòa âm luôn biến chuyển, không còn bị giam trong sự lặp lại sáo mòn. Nhưng sau tất cả, điều còn lại vẫn là phần hồn: ca khúc có chạm được trái tim người nghe hay không, và giọng hát có đủ cảm để ở lại trong ký ức. Phiên bản này được gửi đi như một trải nghiệm—lắng, điện ảnh, và mong manh—để người nghe tự tìm thấy mình trong đôi mắt em. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 4517)
“Mỹ Hương” là một bản Jazz Ballad dịu ngọt, nơi giọng nam trầm ấm và giọng nữ mượt nhẹ hòa quyện, kể lại một buổi sớm bình yên bên cầu San Francisco. Từ những “hoa cúc trong lòng”, từ bài hát cũ của mùa thu nơi xứ Mỹ, ca khúc mở ra một không gian phủ sương, đầy gió biển, và đầy nỗi nhớ như sương. “Mỹ Hương” là một lời thì thầm Jazz Ballad từ sương thu San Francisco Thân mời quí ACE cùng nghe Ca khúc: MỸ HƯƠNG - thơ Đặng Hiền- (Phiên bản Trắng Đen- Song Ca)
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 6479)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 5732)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 7533)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.