- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,579,357

NHƯ QUỲNH de PRELLE VÀ CHÙM THƠ NĂM CŨ

03 Tháng Giêng 201610:22 CH(Xem: 15468)
 

 

NHU QUYNH 1-2016

NHƯ QUỲNH de PRELLE -2016

 

 

THÁNG GIÊNG

 

Tuyết trắng khắp các cánh rừng

trên những ngôi nhà mái đỏ

trên những con đường

những cánh đồng

Thành phố đẹp như trong truyện cổ tích

thế giới cổ xưa hiện về

trong những khuôn hình

 

Tháng Giêng

mùa đông cô độc

hoa vẫn nở trắng trên những cành cây gầy

tuyết như nước mắt nghìn năm

đọng lại trên bầu trời trắng đục

nở tung

 

Tháng Giêng

không buồn

không vui

năm mới đến bao nhiêu là dự định

cho ngày hôm nay lúc này

cho ngày mai ngày mai

 

Tháng Giêng như bắt đầu

của những tuần kế tiếp trong 365 ngày

cho sự sinh sôi

trước những nỗi buồn của mùa đông lạnh giá

tháng Giêng như đợi chờ

cả năm nhiều niềm vui

bất chợt

 

Tháng Giêng chào nhé

mùa sinh của con trai

và người đàn ông lớn

cho bảo bình của tháng Hai

 

Tháng Giêng bắt đầu.

 

 

THÁNG HAI

 

Mùa sinh của em

mùa tình yêu

của người mang nước Bảo Bình

của kỷ nguyên kết nối

 

Tháng Hai

Anh đến trong cuộc đời em như định mệnh

của ngày sinh năm ấy

của tương hợp

kiếm tìm

 

Tháng Hai

của nguồn năng lượng sức mạnh

của những trái tim

của mùa đông còn tiếp

của những bông tuyết lạnh rụng rơi khắp miền

của những mùa mưa không ngớt

 

Tháng Hai

em có mặt trên đời

và không hề biết anh

nhưng anh tìm ra em ở ngày sinh ấy

từ nửa vòng trái đất

 

Tháng Hai

Mười hai tháng Hai

ngày năm ấy

ngày năm nay

Ba mươi năm tròn

kiếm tìm

Ba mươi tiếp tục

cho bao giờ nằm xuống

dưới lăng mộ kia

cùng bao thế hệ

 

Tháng Hai

anh có em

chúng ta có lũ trẻ

có mùa xuân của cuộc đời

có dáng hình của nhau trên những con đường

những đại lộ với hàng cây bốn mùa xanh mát

vàng ươm rồi rụng lá

trên những chuyến tàu xa

 

Tháng Hai mẹ sinh ra em

anh tìm thấy em

mùa tình yêu

mùa xuân cuộc đời

chúng ta là một

từ tháng Hai năm xưa

cuả thủa nào

tìm thấy nhau

 

Tháng Hai không đủ tròn một tháng ba mươi ngày

mà không thiếu gì những khoảnh khắc

luôn đủ đầy cho tháng Hai

cho mùa Xuân bắt đầu

cho những mùa anh đào rạng rỡ

cho sắc hồng tình yêu

 

Tháng Hai

anh và em

trời và đất

mặt trăng và mặt trời

cùng nhau

vĩnh hằng

 

 

THÁNG BA

 

Như là thiếu nữ đầy nhựa sống

mầm xanh nảy mầm xanh biêng biếc

đôi môi mùa xuân mọng nước

hồng thắm

những cơn mưa xuân đầu mùa

 

Tháng Ba như người đàn bà trưởng thành

chín chắn

nắng ấm lên rạng ngời

cởi đi những chiếc áo lông xù

những đôi găng tay kín chặt

tự do

 

Tháng Ba lạnh cóng

như người già cô đơn

từng cơn gió gào thét

rung rung ầm ầm khung cửa

giận giữ

 

Thời tiết tháng Ba đa sắc màu

tuyết cuối mùa đông lạnh lẽo trắng xoá

trên khắp cánh đồng nảy lộc xanh tươi

che lấp những màu nâu sẫm đào xới

tháng Ba ồn ào chuyển động

cho một ngày xuân sang

nhịp nhàng

e ấp

như những cánh anh đào Nhật bản

rung rinh

 

Tháng Ba

sương rơi lung linh trên lá

trên những khung cửa sổ

trên những con đường cỏ xanh

trên những lộc biếc

 

Tháng Ba đợi ai chờ ai

hẹn ước mùa xuân

trong những lâu đài hoa tulip

của hương thơm và tình ái

 

Tháng Ba tin buồn

Người bạn thời thanh xuân đã về với địa đàng ngoài tuổi ba mươi

còn lại những con thơ

 

Tháng Ba ơi mùa xuân về

sao mà buồn thế

những hàng cây của tình yêu biến mất

nơi xa xôi

những gỗ tươi còn thơm nguyên mùi tươi mát

nằm xuống vô hồn

 

Tháng Ba ơi,

buồn ơi là buồn

con người vô hồn vô cảm

thiên nhiên xơ xác câm lời.

 

 

Như Quỳnh de Prelle

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1098)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1167)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1849)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5884)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5860)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13196)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30093)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81229)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20245)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
18 Tháng Chín 20215:41 CH(Xem: 604)
hai người trò chuyện / hơi ấm mặt trời mơn trớn / cửa bên trong người đàn bà hé mở / miền đất từ lâu không dung nạp sự sống / dòng nước chảy ngang nảy hạt / cong về ánh sáng quên lòng đất tối