- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 8782 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,470,553

TÔI ĐI. ĐẾN. NẰM XUỐNG VÀ MÀU CỦA SẸO

02 Tháng Giêng 20162:40 SA(Xem: 11248)


NHU QUYNH 2

NHƯ QUỲNH de PRELLE




Màu của sẹo

 

tôi đã nhìn thấy một màu hạnh phúc

của đời thường sự thật

hạnh phúc thì thật mong manh

như một cánh hoa

một hương thơm

hạnh phúc hiện thực là con trẻ

là tình yêu vĩnh hằng

 

 

tôi nhận ra hạnh phúc là màu đỏ

của máu

màu tím của những vết thâm

hằn sâu của sẹo

sẹo của tình yêu

sẹo của thời gian

sẹo của bất hạnh

thịt da nào cũng như nhau

bầm dập nào cũng đớn đau

 

tôi còn tin hay không về hạnh phúc

khi con tim có lúc yếu mềm

có lúc chai sạn

nhưng tôi phải sống

không phải vì ngày mai

không phải vì tôi

mà vì những đứa trẻ

chúng hồn nhiên

trong sáng

 

tôi học lại về quyền con người

từ những trẻ thơ

để sống cho đúng mức độ của mình

của loài người

và sự thật là hạnh phúc luôn có máu thịt chia ra

không thể nào có hạnh phúc hư không

hạnh phúc trong màu lạnh của nước mắt

của đớn đau

chia cắt

của màu hận tím thâm sì

 

 

Tôi đi. đến. nằm xuống

 

và tôi đến với bầu trời

bằng chiếc cầu vồng

như một mặt trăng mỏng

đầu tháng

trôi đi trôi lại

cho đến ngày rằm

tròn trăng

 

và tôi chia tay mặt đất

để đến với những vì sao

của buổi sáng

lấp lánh trong ánh sáng bát ngàn ngut ngát

tôi không biết định vị nơi nào

ở đâu

trong tốc độ của nó

và tôi yên lặng

 

và tôi đi tìm cái chết của tôi

trong sự sống

trong những tái sinh

nảy mầm

trong mảnh vườn

trên ban công

bốn mùa nắng mưa

baõ táp

 

và tôi bắt đầu nhìn thấy

màu xanh của thẳm sâu

ký ức

của hiện tại

của cả những tương lai gần và xa xôi

như thì của ngôn ngữ

chia đi chia lại

thật là khó khăn cho trí nhớ suy tàn

 

và tôi bắt đầu nhắm mắt

không phải để ngủ

mà để vui cười

trong bóng đêm mịt mùng

của những tinh trùng

 

và tôi nằm xuống

trong hầm mộ

chả còn ai biết đến tên

trên mảnh bia mòn

 

 

 

NHƯ QUỲNH de PRELLE

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Giêng 20205:40 CH(Xem: 2847)
Những tư liệu về thuở thiếu thời của Petrus Key đầy chi tiết trái ngược nhau. Năm 1958, Viên Đài & Nguyễn Đồng cho rằng thân phụ Trương Vĩnh Ký là “Lãnh binh Truơng Chánh Thi,” chết năm 1845 trong khi tùng sự ở Nam Vang (Bách Khoa [Saigon], số 40, [1/9/1958], tr. 43); năm 1846 mẹ (Nguyễn Thị Châu) ủy thác cho một giáo sĩ người Pháp có tên Việt là “cố Long” (tr. 44); năm 1847, Nguyễn Phước Thời (1847-1883), niên hiệu Tự Đức, lên ngôi, cấm đạo gắt gao phải chạy sang Cao Miên [Kampuchea]; năm 11 tuổi nói được 5 thứ tiếng (tr. 44); năm 1852 [sic] được cố Long hướng dẫn sang Đại chủng viện Penang, và ghé qua Sài Gòn gặp mẹ được vài giờ (tr. 44). Tại Penang học tiếng Anh, Nhật, Ấn (tr. 45). Năm 1858 mẹ chết, về Cái Mơn thọ tang. Ngày 28/12/1860 [sic], được Giám mục Dominique Lefèbvre giới thiệu “giúp việc cho Đại úy thủy quân” [sic] Jauréguiberry (tr. 45). Chữ “capitaine” của Pháp ở đây là hạm trưởng, không phải “đại úy” như quân chủng bộ binh.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 6807)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
06 Tháng Bảy 20153:00 SA(Xem: 3608)
Ngày 4/7/1407, tại Kim Lăng, kinh đô đầu tiên của Đại Minh từ 1368 tới khoảng năm 1421, Chu Lệ hay Đệ [Zhou Li] miếu hiệu Thành Tổ (Ming Zhengzu, 17/7/1402-22/8/1424) họp triều thần, chấp thuận lời xin của “1120” kỳ lão xứ Giao Châu [An Nam] hơn hai tháng trước là “con cháu nhà Trần đă chết hết không người thừa kế…. Giao Châu là đất cũ của Trung Hoa xin đặt quan cai trị, để sớm được thánh giáo gột rửa thói tật man di.” (1) Hôm sau, 5/7/1407, Chu Lệ ban chiếu thành lập “Giao Chỉ Đô Thống sứ ti” [Jiaozhi dutong tusi], một đơn vị quân chính cấp phủ hay tỉnh [Provincial Commandery]. (2) Và, như thế, sau gần 500 năm tái lập quốc thống dưới tên Đại Việt—hay An Nam, từ 1164/1175—nước Việt trung cổ tạm thời bị xóa tên.
06 Tháng Tám 20204:13 CH(Xem: 454)
một chút tóc cũng rối bời mây hạ / một chút bàn tay vẫy bỗng hiền khô / một chút bờ vai thong dong phố thị / một chút mắt môi thảng thốt đợi chờ /
06 Tháng Tám 20203:58 CH(Xem: 372)
Đừng vì anh / hãy mê mải cánh chim / giông giống nụ hôn ố vàng rơi bay mùa lá /
06 Tháng Tám 20203:37 CH(Xem: 495)
Có thể bây giờ nơi xa đó Ngày chỉ vừa lên trong nắng mai Giọt sương còn đọng long lanh ướt Và café nóng tỏa khói bay.
06 Tháng Tám 20203:32 CH(Xem: 530)
Quên rồi em đã quên tôi / Tháng giêng qua ngõ còn cười tháng hai / Phai thu lạnh sắc trang đài / Trăng ba vòng nguyệt đau hoài cùng trăng
06 Tháng Tám 20202:43 CH(Xem: 444)
Trăm năm ở tạm chốn này \ Trần gian sinh ký đọa đày bể dâu \ Trầm thăng bao nỗi cơ cầu \ Nợ nần chưa dứt nỗi sầu cưu mang \
01 Tháng Tám 202012:48 SA(Xem: 796)
tình yêu một lần có thật thức dậy từ con mắt bình minh cơn mưa đầu mùa nồng nàn cầu vòng hò hẹn
29 Tháng Bảy 202012:55 SA(Xem: 438)
Có dăm hạt thóc cũng vừa / Đơm bông trên đỉnh thượng thừa đêm qua / Chúng sinh đại địa sơn hà / Theo nhau bước xuống chuyến phà đại bi./