- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,579,935

Bà Dì Khác Người

27 Tháng Giêng 20159:03 CH(Xem: 21111)

PhamHoaiNam 11
Ảnh Phạm Hoài Nam


"Khi u buồn, đừng để nỗi buồn mọc rễ lặng lẽ sâu trong tim mình, hãy để nổi buồn trổ thành mầm cây, mọc nhành lá xanh, vươn ra trong trời cao, mặc tình cho nó phả chất độc thán khí vào không gian màu lam xám, mặc tình cho những tiếng kêu run rẩy của buồn tuôn tràn vào bầu trời. Cho buồn vơi đi, và người trở lại yêu cuộc đời".

Mỗi khi chớm buồn hay chực rơi vào nổi buồn, tôi luôn nhớ lại bài diễn văn này của dì sáu, bà dì khác người của tôi.

Mọi người phân biệt dì với một tá, mười chục bà dì sàng sàng tuổi nhau, không thể phân biệt bằng tên gọi, được đánh số từ Hai đến Mười Hai, đều lộng lẫy đẹp, lộng lẫy già dần theo thời gian, riêng dì là bà-dì-có-ba-chồng, bà-dì-lấy-chú-bộ-đội (riêng cái tên này thôi đã là một thiên tình sử lạ), nhưng với tôi, tôi gọi dì là bà dì khác người.

Khác người vì những năm thập niên 70-80 nghèo khổ ấy, trong ngôi nhà hiếm đàn ông, chỉ toàn những khuôn mặt đàn bà héo hon vì chờ đợi , xám xịt vì chịu đựng, luôn phả ra mùi khói bếp và ẩm mốc thiếu nắng, dì là người duy nhất giữ nguyên nét lộng lẫy và thơm tho.

Tôi còn nhớ nguyên cảm giác ngất ngây khi được dì ôm vào lòng, từng lọn tóc uốn công phu bằng cuộn mút cả đêm tỏa mùi nước hoa Chanel No. 5 sang trọng, bàn tay mịn màng chăm chút dưỡng da vaseline, áo quần mềm mại tẩm ướt nồng nàn mùi xà bông Coast hay xà bông Dial có vị sữa tươi gợi tình.  Dì là người duy nhất trong gia đình nhận được viện trợ hàng mỹ phẩm đều đặn từ những ông nhân tình cũ đã vượt biên ra nước ngoài.

Lúc đó dì đã kịp có đến ông chồng thứ hai!

Mặc ai dè bỉu ngấm ngấm sau lưng dì, tôi mê mẩn bà dì khác biệt của tôi lắm.  Mê từng cái móng tay màu hồng thuôn thuôn như vỏ sò úp ngược của dì, mê đến tiếng cười giòn tan rực rỡ, người ta nói dì đi đâu chỉ gieo tan vỡ, tôi lại tin dì có khả năng khác thường biết lượm lặt các mảnh vỡ và tung những mảnh vỡ đó vào không gian làm mọi thứ chung quanh dì trở nên lung linh lóng lánh.

Dì là bà dì duy nhất ham mê đọc sách như cuồng điên và truyền cho tôi nguyên niềm đam mê lạ lùng.  Có gì đó mâu thuẫn khi một người đàn bà nổi tiếng phù phiếm viễn vông lại yêu một thứ khác hơn bản thân mình là văn chương.

Ngoài yêu đàn ông!

Mà phải nói là dì biết yêu đàn ông và làm cho đàn ông yêu mình, và dì không ngại ngùng công khai điều đó.  Lúc đó tôi còn rất nhỏ, tôi chỉ nghe kể lại, nhưng đã có thể tưởng tượng những ngày vui và đẹp nhất của dì, trong lấp lánh áo dài hoa chít căng eo, không cổ chấm vai kiểu bà Ngô Đình Nhu, dì cười lim dim mắt, ngửa chiếc cổ ba ngấn lóng lánh kiềng vàng, rượu champagne đỏ thắm tràn ly pha lê cổ cao và gót giày nhọn quay cuồng trong điệu Valse lộng lẫy " La plus belle pour aller danser".  Người chồng đầu tiên của dì là một đại tá không quân đã kịp đem đến cho dì những ngày vui nổ trời hoang phí và rất ngắn.  Chồng dì tử trận, vừa đầy ba tháng, là Sài gòn giải phóng.

Trong những ngày đầu hoang mang, dì chạy ngược trở về Phan, trốn trong căn nhà cổ, lo lắng vì lý lịch phu nhân đại tá của mình, giấu kín tủ áo dài Trần Lệ Xuân và cắn răng, nuốt nước mắt ngồi bó gối đốt lần lượt tủ sách hơn trăm cuốn của mình.

Ngày thứ ba của cuộc đốt sách dỡ dang, một bàn tay chặn ngang dì giữa trang Chiến tranh Hòa bình thứ 301 đang xém lửa:

- Cô là Tần thủy Hoàng à? Cô đang đốt sách đấy!

Dì ngẩng lên cười với giọng nói Bắt kỳ đặc sệt đó, mắt còn đọng một giọt lệ chưa kịp rơi xuống, nhưng biết nhìn rất thẳng và thật sâu vào ông bộ đội đeo quân hàm thiếu tá, đang ở tiếp quản ngôi nhà biệt thự của bà ngoại:

- Sách xuất bản trước giải phóng , thưa ngài cán bộ, dì thoáng một nụ cười quyến rũ mơ hồ, tất cả những gì trước kia đều phải xóa bỏ, người ta ra lệnh như rứa mà.

- Sách nào cũng chỉ là sách.  Những thứ này lúc còn ở trong rừng tôi đã mơ là sẽ được đọc. Tôi sẽ giữ những thứ này, và cô nói với mọi người là tôi giữ lại để đọc.  Thế nhé!

Và cầm bộ Chiến tranh Hòa Bình trên tay, ông ấy cứ thế mà quay lưng đi.  Lần đầu tiên có một người đàn ông chỉ chăm chăm nhìn vào sách không nhìn đến dì!

Chuyện không đơn giản chỉ có thế.

Tháng thứ ba, từ ngày giải phóng, từ khi ông bộ đội cấp cao vào tạm ở trên căn gác trong căn nhà biệt thự to nhất vùng của bà ngoại, mẹ tôi nhận được lá thư viết tay từ bà ngoại.  Lá thư đi theo xe đò đến nhà tôi vào buổi chiều, đã làm cho mẹ tôi đi một mạch suốt đêm về lại Phan thiết.

Câu chuyện sau này là do mẹ tôi kể lại.

Bà- Dì- khác- người của tôi ngồi trong vòng vây của các bà dì khác, và mẹ tôi. Bà ngoại thong thả vừa nhai trầu, vừa nhẩn nha nói:

- Mấy đêm liền mẹ trở dậy nửa đêm, thấy giường con Sáu trống không, mẹ đi tìm, bắt gặp con Sáu đi lên gác.

- Đi lên gác để làm gì? Ai ở trên gác? mẹ tôi lầm lì hỏi. Mẹ tôi là chị Hai, bà rất nghiêm nghị, cả nhà đều nể sợ.

- Để tôi trả lời, mẹ không cần phải kể- bà-dì-khác-người của tôi mím môi lạnh lùng nói- ông cán bộ người Bắc nớ ở trên gác.

- Mi lên trên gác làm chi nửa đêm? mẹ tôi long mắt, dằn giọng hỏi.

Dì tỉnh bơ mắt nhìn thẳng vào mẹ tôi, trả lời từng tiếng một:

- Tôi đọc sách!

Mọi người rùng rùng nhao nhao tranh nói:

- Đọc sách làm chi mà nửa đêm, nửa hôm? Mi đừng có điêu toa.

- Mi đọc sách hay là người ta đọc mi? mẹ tôi lạnh lùng ráo hoảnh.

- Đúng, người ta đọc tôi đấy!  Đâu dể dàng tìm được một người đàn ông-biết-đọc-mình!

Cả nhà vụt lặng thinh, không còn nghe một tiếng động nào.  Mẹ tôi kể có ai đó bật khóc.  Không rõ là dì nào.  Riêng bà-dì-khác-người của tôi ngồi trơ lì, không có một giọt nước mắt.

Sau rồi, vất vả lắm, dì tôi cũng làm đám cưới với "chú bộ đội" ấy, mà là sau khi ông ấy đã phục viên, là xuất ngũ non, vì người ta không chấp nhận ông ấy lấy một người vợ có lý lịch vợ một đại tá quân đội cũ, dẫu là một đại tá đã tử trận.

Tôi chưa thấy một người chồng nào tận tụy và yêu thương vợ như ông dượng "bộ đội" của tôi, như là ông yêu thương chăm bẫm bù đắp cho những năm tháng ông thiếu thốn không được yêu thương người đàn bà đó, người mà ông đã chờ nửa đời để được yêu, như yêu một quyển sách hay, được nâng niu và được đọc mỗi ngày từng trang một.

Chuyện tình đẹp đó cũng chỉ kéo dài được mười năm. Ngày ông qua đời đột ngột vì trụy tim, không ai thấy dì tôi khóc.  Một đêm, lúc đó tôi chỉ mới sáu bảy tuổi, nằm trong vòng tay của di, tôi đã tò mò hỏi về giai thoại "người đàn ông biết đọc " của dì.

- Có người chỉ đọc vì mê cái bìa sách đẹp. Có người đọc vì thích sưu tập sách.  Hảy tìm người đàn ông biết đọc mình, từ trang đầu tới trang cuối, dì chậm rãi nói.

Sau khi dì lấy người chồng thứ ba, một ông phóng viên người Úc, tôi không còn gặp lại dì nữa.

Nhưng mỗi dịp trời chớm sau mùa mưa, nắng khô cong và se se lạnh như vầy, tôi lại nhớ bà-dì-khác-người.  Nhớ dáng dì ngồi tỉ mỉ cầm con dao Thái lan nhọn khắc từng đường bén ngót vào thân củ hoa Huệ đất.

- Con nhìn này, không gì có sức sống ghê ghớm như củ hoa Huệ đất.  Phải lăn lóc khô cong trong nắng, phải vật vã khác thường, phải chịu đựng những vết rạch, vết cắt cho tứa hết nhựa sống, cho biết mùi đau đớn.  Không ai ngờ được có ngày bông hoa màu nhung đỏ rực sẽ trồi lên từ cái cũ khô quắt queo ngập tràn vết thương này.

Mỗi lần trời trở mưa, trở nắng, làm người trở buồn, trở vui như hôm nay, tôi lại chăm chăm ngồi nhìn vào cánh tay của mình, chờ một hạt mầm mọc lên, trổ ra một nhánh lá xanh, mang hết nổi buồn tôi lao ra ngoài không trung đâu đó.  Hay lặng lẽ ngồi chờ mải miết, chờ cho nổi đau này, như ai đang cứa rạch vào tim tôi từng nhát bén ngọt, nở bừng ra một màu hoa đỏ như nhung lóng lánh .

Và chờ một người đàn ông biết đọc mình, đâu đó, quay trở về!

UYÊN LÊ
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 1113)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1181)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1867)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5904)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5883)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13216)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30126)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81244)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20265)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
24 Tháng Chín 20216:27 CH(Xem: 75)
Cây chi cây lạ lùng / Không cành cũng không lá / Toàn những thân với thân! / Mà thân thì dựng ngược / A plant that is so strangely amazing / Which has neither branches nor leaves growing / It has only body upon body growing about / And each body is growing upside down