- Tạp Chí Hợp Lưu  18939 Magnolia St. Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,577,761

THƠ LÊ VĂN HIẾU

02 Tháng Sáu 201412:00 SA(Xem: 22070)


tranh_phan_nguyen-content

 Tranh Phan Nguyên


LTS: Lê Văn Hiếu lần đầu cộng tác cùng Hợp Lưu, thơ của anh ray rứt như những câu chuyện buồn trải dài từ rừng cao nguyên đến vùng sóng biển…Chúng tôi hân hạnh giới thiệu những thi phẩm của Lê Văn Hiếu đến cùng quí văn hữu và độc giả Hợp Lưu…

TCHL

 

 

 

NGƯỜI VỌNG BIỂN

 *Tặng DP

 

Cuối cùng, tôi được em làm người hướng dẫn

Kịp thấy hơi thở ai đó mờ xa, ngàn năm chung thủy

Kịp thấy cô gái ngồi bó gối bên vệ đá u buồn đó là em

Kịp thấy ánh Trăng dát vàng trải dài trên Biển

U hoài cô đơn

 

Kịp thấy tiếng sóng neo đẩy tiếng cười còn rất trẻ

Gió đã thổi vào tim ta

Gió đã vén mái tóc xù xòa của ta, để mắt nhìn được rõ

Rõ về đâu, em biết không?

 

Tất nhiên, không phải rõ từng ngỏ ngách của con phố

Phố nào cũng như nhau

Tất nhiên, không phải rõ từng dấu chân trên cát

Cát đã từng phủ mờ ngàn vạn dấu chân

Tất nhiên, không phải rõ từng thân xác kia ngụp lặn phơi phóng

Mọi ráo khô rồi cũng tiêu tan

 

Rõ về đâu, em biết không?

Không phải rõ về mái tóc Tiên Cô ngàn năm buông xõa

Hình như rõ về vòm ngực em, đã từng dang tay, đã từng phập phồng hơi thở

Đã từng gấp gáp, đã từng buông lơi, đã từng rệu rã

Đã từng...

 

Đã từng về đâu ,em biết không

Hỡi người vọng biển

 

Lần theo tiếng vọng em về

Thả giấc mơ...

 

 

Lê Văn Hiếu

(Những ngày ở Nha Trang – 20/ 05 / 2014 )

 

 

 

TẠP ÂM

 

Ngồi xỏm mà về

Một hành trình dài hơn năm trăm cây số

Mắt lờ đờ chợt ngủ

Mặt gục lên đầu gối

 

Bà cụ nằm cong queo

Buông những tiếng thở dài

Bầu trời bình yên vỡ

 

Gã Tài xế

Quấn lấy một ma nữ

Núc ních nhạo những cuộc gọi

Của người đàn ông đang ngóng đợi?

 

Gã lưu linh

Tợp từng ngụm rượu

Đắc ý không để rơi một giọt

Mặt câng câng nhìn vào ký ức

Lâu lâu phác một giọng cười

 

Ngồi xỏm mà thức với ngày

Lắng nghe tiếng đêm không ngừng chảy

Gió bên ngoài muốn đóng băng tạp âm lại

Hình như trời chưa đông?

 

Lê Văn Hiếu

 

 

ANH NGUYỆN LÀM LÁ MỤC ĐỂ EM VƯƠN

 

Học từ anh để xuyên thủng bầu trời

Rẽ mây tìm về vầng Trăng khuyết

 

Học từ em qua giọt nước mắt

Mình đã gieo thấm đẫm nỗi đau đời

 

Học nỗi buồn

Ta lơ đãng đánh rơi

Cứ ngỡ tạo niềm vui

Nào ngờ rụi thiêu mạch nguồn cháy khát

 

Bông hoa lay nghiêng rồi gãy gục

Ngọn gió lả lơi

Thổi buốt những lời tình?

 

Học viên đá bên đường cứ thế cô đơn

Ngậm ngùi Ngựa xe

Đi qua cả ngàn ngày mà chưa hề được biết

 

Giữa đại ngàn xanh

Có vài cành cây chết

Chiếc lá em, anh

Sao cứ thở màu buồn?

 

Anh nguyện làm lá mục để em vươn

Làm hòn đá bên đường

Nhìn dòng ngựa xe mà hạnh phúc

 

Bầu trời biếc như chưa bao giờ được biếc

Chiếc lá xanh, xanh mãi đến vô cùng...

 

Lê Văn Hiếu

 

 

KHÚC ÁNH SÁNG

  • Cho BP thương yêu!

 

Câu thơ tôi bốc lửa thiêu cháy từ lồng ngực ám khói ,lượn lờ vào không trung, bỗng dưng sinh ra hạt nước, gieo vào rẻo đất hoang hóa bên kia bán cầu, nảy nở một chồi xanh

Nảy nở một mầm thơ,tôi cợt, nảy nở nòi thi sĩ, sẽ mọc lên cây Du Dương, và hát, khi bên này đầy nắng, bên kia là khúc ru đêm

Những khúc ru ánh sáng, được tôi luyện từ âm vực bóng tối ,từ hơi thở khó nhọc, từ bước chân kiêu hãnh

Khúc ánh sáng , được cất lên bằng ngôn ngữ của vùng trời tự do, đa sắc... Sẽ thổi lịm mọi màu da, khúc ca vọng về nơi sản sinh hạt nước

Hạt nước được chưng cất từ nồng nàn tình ái, mang từ đỉnh núi xuống, mang từ nỗi nhớ về, mang từ giọt nước mắt?

Mảnh đất mãi quặn đau nức vỡ, câu thơ cứ chòi lên quẫy đạp

Và Thi Sĩ con nảy nòi khi còn trứng nước, biết lắng nghe,biết giận hờn ,biết lặn sâu trong vùng trời âm nhạc. Sớm nhận biết ngoài kia – bầu trời – đang dần thiếu những khúc ca ánh sáng.

 

Lê Văn Hiếu

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Chín 202110:30 CH(Xem: 994)
Đầu năm 1950, Nguyễn Sinh Côn, tức “Đồng chí Đinh,” “đi bộ 17 ngày” từ Tuyên Quang tới Thủy Khẩu, vượt biên giới qua Long Châu (Quảng Tây). Rồi được Lưu Thiếu Kỳ [Liu Shao-qi] đón lên Bắc Kinh.[1] Trước thập niên 1990, rất ít người biết chuyến “khất thực” bí mật này. Nguồn tư liệu chúng tôi sử dụng gồm tư liệu văn khố Mỹ, Pháp, Việt thu thập hơn 40 năm qua, kể cả chuyến tham khảo Việt Nam năm 2004-2005. Hai tài liệu văn khố Pháp quan trọng là nghiên cứu “Đảng Cộng Sản Trung Hoa tại Bắc Đông Dương” [Le Parti communiste chinois en Indochine du Nord]” của Nha Thanh Tra Chính Trị Đông Dương, và “Trung Cộng và Việt Minh, từ tháng 9/1945 tới tháng 9/1948 [Les Communistes chinois et le Viet Minh (du Septembre 1945 à Septembre 1948)]” do Charles Bonfils soạn thảo.[2]
31 Tháng Tám 202112:22 SA(Xem: 1071)
Trong đời hoạt động của Nguyễn Sinh Côn [Hồ Chí Minh]—ngoại trừ chuyến “đi biển” năm 1911, do tự nguyện—mỗi cuộc xuất ngoại đều có sứ mạng riêng. Chuyến đi Nga cuối tháng 6/1923 từ Paris—do Đệ Tam Quốc Tế “Cộng Sản” [ĐTQT, Comintern] dàn xếp—là chuyến cầu viện thứ nhất. Nó mở ra cho Côn giai đoạn hoạt động suốt 22 năm kế tiếp như một cán bộ ĐTQT chuyên nghiệp [apparatchiki, và agitprop=political agitation and propaganda]. Chuyến đi bộ 11 ngày lên Côn Minh [Kunming], Vân Nam [Yunnan] vào cuối năm 1944 cầu viện Mỹ—qua đường giây Tướng Claire Chennault, chỉ huy trưởng phi đoàn Cọp Bay [Flying Tigers], và Sở Tình Báo Chiến Lược [Office of Strategic Services], tiền thân Cơ Quan Tình Báo Trung Ương [Central Intelligence Agency], mở ra cho Côn cơ hội bằng vàng chiếm chính quyền trong vòng tám ngày ngắn ngủi từ 17 tới 25/8/1945 như một “đồng minh tự phong”của Mỹ, rồi tuyên bố độc lập với Pháp chiều 2/9/1945 ở vườn hoa Ba Đình.
10 Tháng Tám 20211:42 SA(Xem: 1779)
Nhu cầu tìm hiểu sử học càng cấp thiết hơn khi cuộc cách mạng truyền thông của thế kỷ XX đã giúp phổ biến đủ loại “ngụy sử” qua các dạng thức tuyên truyền trắng, đen hoặc xám của các chính phủ, chế độ và phe nhóm, tôn giáo. Một nữ sinh viên ban Thạc sĩ Việt du học ở Liên bang Mỹ mới đây—khi được đọc những tư liệu văn khố về Hồ Chí Minh (một trong những tên giả của Nguyễn Sinh Côn, 1892-1969)—đã vội vã phản kháng là xin đừng “phá hoại lịch sử.” Thứ lịch sử mà người nữ sinh viên trên nói đến, thực ra, chỉ là những bài giảng lịch sử giáo điều, đúc khuôn tại Việt Nam. Một thứ truyền đơn, khẩu hiệu, không hơn không kém, của phe thắng cuộc đang cai trị bằng còng sắt và kỹ thuật tra tấn của an ninh, mật vụ dưới họng súng quân đội—nên đã tạo ra hiện tượng đáng buồn về tình trạng giảng dạy môn sử tại Việt Nam hiện nay; cũng như những lập luận “rẻ rách sinh con chuột” hay hờn oán, trách móc, ở hải ngoại.(Chính Đạo)
30 Tháng Tám 202012:15 SA(Xem: 5818)
Giai đoạn ngắn ngủi từ ngày 9-10/3/1945, khi Nhật chấm dứt chính quyền Bảo hộ Pháp tại Đông Dương bằng chiến dịch Meigo, tới ngày 21/8/1945, khi guồng máy quân sự Nhật bị sụp đổ là một trong những thời kỳ quan trọng trong lịch sử cận đại. Trong giai đoạn này, hai chính phủ “độc lập” ra đời, chấm dứt hơn tám mươi năm Pháp xâm chiếm, và kích động một cuộc cách mạng xã hội mà đặc điểm là hiện tượng Việt-Nam-Hóa [Vietnamization] tất cả các cấu trúc xã hội. (1)
26 Tháng Mười Một 20198:59 CH(Xem: 5800)
Những tác phẩm do TẠP CHÍ HỢP-LƯU xuất bản:Hiện có bán qua hệ thống Amazon phát hành toàn cầu. Và SÁCH MỚI CỦA NXB TẠP CHÍ HỢP-LƯU 11-2019 Hiện có bán qua hệ thống phát hành LuLu.com.
20 Tháng Tám 20199:04 CH(Xem: 13158)
Petrus Key, sau này đổi thành Petrus Trương Vĩnh Ký, P.J.B. Trương Vĩnh Ký, Sĩ Tải Trương Vĩnh Ký, hay Petrus Ký, thường được coi như một văn hào của miền Nam dưới thời Pháp thuộc. Có người xưng tụng Petrus Key như “đại ái quốc,” “đại học giả,” “bác học,” thông thạo tới “26 thứ tiếng.” Dưới thời Pháp thuộc (1859-1945, 1949-1955), rồi Cộng Hòa Nam Kỳ Quốc (1/6/1946-15/5/1948), Quốc Gia Việt Nam (1/7/1949-26/10/1955), và Việt Nam Cộng Hòa (26/10/1955-30/4/1975), người ta lấy tên Petrus Key (Ký) đặt cho trường trung học công lập [lycée] lớn nhất ở Sài Gòn, đúc tượng để ghi công lao, v.. v... danh nhân này. Với chương trình giáo dục tổng quát nhiều hạn chế (nhắm mục đích ngu dân [obscuranticisme] và ràng buộc trâu ngựa [cơ mi]),[1] được đặt tên cho trường công lập lớn nhất miền Nam là vinh dự không nhỏ; vì nơi đây chỉ có con ông cháu cha cùng những học sinh xuất sắc được thu nhận, qua các kỳ thi tuyển khó khăn.
15 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 30005)
Với đại đa số người Việt đương thời, chẳng có gì quí hơn một cuộc sống no đủ, yên lành. Luật sinh tồn là khuôn thước có hàng ngàn năm lịch sử. Giấc mộng độc lập, tự chủ người Việt nào chẳng thầm mơ ước. Nhưng những người có viễn kiến không thể không nhìn về giai đoạn hậu-thuộc-địa. Một nước “độc lập” trên giấy tờ, truyền đơn, khẩu hiệu—nhưng thực chất độc tài, chuyên chế, nghèo khổ, lạc hậu, người cầm quyền trở thành những kẻ cướp ngày, công khai có vũ khí và được “luật pháp” bảo vệ—chưa hẳn đã đáng mong ước, trông đợi hơn một chế độ lệ thuộc ngoại nhân. Đó là chưa nói đến hiểm họa đời kiếp từ phương Bắc.
14 Tháng Mười 201112:00 SA(Xem: 81108)
T rong lịch sử tranh đấu giành độc lập của dân tộc Việt Nam trong thế kỷ hai mươi, hai lần nước ta đã được các nhà cầm quyền đương thời chính thức tuyên bố độc lập. Lần thứ nhất vào ngày 11 tháng 3 năm 1945 bởi Hoàng Đế Bảo Đại và lần thứ hai bởi Chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa Hồ Chí Minh vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Hai lần cả thảy, nhưng đa số người Việt chỉ biết hay chỉ được học có một lần. Họ chỉ biết có bản tuyên ngôn của Hồ Chí Minh ngày 2 tháng 9 mà không biết bản tuyên ngôn của Bảo Đại ngày 11 tháng 3. Lịch sử do đó chỉ được biết có một nửa thay vì toàn vẹn.
24 Tháng Chín 200812:00 SA(Xem: 20218)
Đến nay người mình thấy Tây học rực rỡ mà cái học của ta khi xưa mập mờ không rõ, sách vở không có mấy, liền cho cái học của ta không có gì. Đó là một điều mà các học giả trong nước nên chú ý mà xét cho kỹ, đừng để cái hình thức bề ngoài làm hại mất cái cốt yếu bề trong. Nho Giáo tuy không gây thành được cái văn minh vật chất như Tây học, nhưng vẫn có cái đặc tính đào tạo ra được cái nhân cách, có phẩm giá tôn quí.
14 Tháng Chín 20218:20 CH(Xem: 328)
Tay Giắng quờ quạng vơ vào ngực áo chị, miệng khô khốc nhóp nhép như bé con đòi bú. Giắng nhắm nghiền mắt thều thào: “nước ước…”. Chị nhìn quanh, cả phòng chả có cái gì gọi là nước. Cái xô nhựa đựng nước nấu ăn cũng khô rang lăn lóc góc phòng. Chị tắc lưỡi vén áo lên, kề bầu ngực căng mọng sữa vào miệng Giắng bóp nhẹ. Một tia sữa trắng thơm nức phun xuống đôi môi khô nứt. Giắng nhóp nhép nuốt. Rồi nuốt ừng ực. Chị áp cả bầu vú vào miệng Giắng. Nắn. Hết bầu này sang bầu kia. Giắng vẫn nhắm nghiền mắt nuốt. Khuôn mặt dần hồng lên. Chị nhìn xuống, mãn nguyện… / Giắng mở mắt ra. Nhìn. Hồi lâu. Bỗng òa khóc, ôm chầm lấy chị nức nở: “Chị ơiiiiii…”