- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

ĐẢO HOA LAN - TÂN TRUYỀN KỲ

30 Tháng Ba 201412:00 SA(Xem: 62440)


phuquoc-nguyenhoangnam-content
 Ảnh Nguyễn Hoàng Nam

Mùa hè trước đây nhiều năm tôi đã cùng với ba người bạn ra chơi Côn Đảo. Không thể diễn tả hết những ấn tượng huy hoàng của tôi khi đến vùng đất còn hoang sơ này. Mùa hè hình như cũng là mùa hoa nơi đây. Cũng là hoa phượng, bằng lăng, hoa giấy, bò cạp vàng… nhưng màu hoa ở hòn đảo giữa trùng khơi này đặc biệt rực rỡ như thể những hạt nắng phản chiếu ráng sớm ráng chiều trên biển đã kết tinh thành một thứ ánh sáng pha trộn giữa sắc thắm của hoa và nét dập dờn của sóng, làm chúng bật lên những sắc màu riêng biệt. Nhưng trong thời gian đó, tôi nhận được điện thoại chia tay của nàng với rất nhiều nức nở qua sóng vệ tinh. Nàng bảo tôi đừng lập tức mua vé máy bay quay về thành phố bởi tất cả đã muộn và mong tôi tận hưởng những ngày nghỉ yên lành trong một không gian thuần khiết để có thể quên mối tình vốn biết trước sẽ không mang lại một cái kết có hậu của chúng tôi… Cũng như vẻ đẹp của màu hoa trên đảo, nỗi đau tình phụ là không thể diễn tả bằng lời hay ngòi bút và có lẽ những người bạn tôi chỉ cảm nhận bằng trực giác, rằng tôi đang rất đổi đau buồn, bằng chứng là trước chuyện đó tôi chỉ say mê xách máy ảnh đi chụp khắp nơi, từ bình minh đến hoàng hôn, từ hoa đến sóng biển, từ nhà tù cũ đến những con tàu mới nhưng sau cái giây phút nhận được điện thoại của nàng, và có lẽ nàng đã hũy luôn cái sim quen thuộc, thì những chai rượu chúng tôi mang theo phần lớn chạy vào bao tử của tôi và hình như sau những cuộc nhậu với những món hải sản thượng thặng, có nhiều lần tôi đã ra đứng nhìn trùng khơi mà khóc!

Sau một tuần rồi chúng tôi cũng về đất liền. Máy bay vừa hạ xuống phi trường, ngay lập tức tôi đã bắt taxi tìm đến căn phòng trọ của nàng, nơi chúng tôi từng có những tháng ngày đắm chìm trong hạnh phúc. Nhưng đúng như tôi dự cảm và nàng tuyên bố, bà chủ nhà trọ nhìn tôi với ánh mắt thương hại, và báo cho tôi biết nàng đã dọn đi ba ngày trước. Dọn sạch tất cả, như thể nàng cần một tuyên bố mạnh mẽ về sự cắt đứt quá khứ của mình vì biết tôi sẽ tìm đến. Thành phố mênh mông và có sức chứa hơn mười triệu con người, tìm em như thể tìm chim, mà không chừng em đã lên một con chim sắt, bay về một vùng trời diễm mộng nào đó, thôi cũng đành…!

Mấy năm đã trôi qua, không có một tín hiệu nào nhưng lòng tôi không hề nguôi gió bão dù người xưa đã biền biệt. Rồi một đêm tôi nằm mơ thấy mình đang tung tăng nơi Côn Đảo, tinh thần cực kỳ an bình sảng khoái, tôi mơ rõ ràng như thật, như một buổi chiều xưa đã ngồi bên cái hồ dưới sườn núi rực rỡ một sắc hoa vàng diễm ảo. Thức dậy, tôi thấy mình buồn nhớ kinh khủng. Lần này là nhớ một vùng đất chứ không phải nhớ con người. Tôi gọi cho các bạn cũ của mình, rủ rê họ tái lập một chuyến đi nhưng tất cả đều lịch sự chối từ. Có lẽ họ bận rộn nhưng cũng có thể họ đã chán ngán tôi, kẻ đã nốc hết số rượu ngon mang theo trong lần đi trước với lý do lãng xẹt và thiếu thuyết phục: thất tình! 

Bạn cũ không đi nhưng nỗi nhớ phong cảnh dằn vặt quá, tôi quyết định tìm bạn mới. Tôi có quen một tay buôn lậu khá giàu có bởi thỉnh thoảng ngồi uống cà phê chung. Nghe tôi nói sẽ ra đảo chơi, bất ngờ lão đòi đi theo. Tôi khá ngạc nhiên với ý định của lão, nhưng dù sao có bạn đồng hành vẫn hơn. Vậy là chúng tôi hẹn ngày lên đường, vẫn như lần trước, chúng tôi sẽ ra đảo bằng tàu biển và về bằng máy bay để được trải nghiệm những cảm giác khác nhau trong cuộc hành trình. Buổi chiều xuống tàu, tôi hơi ngạc nhiên khi thấy lão mang theo một va ly nặng nề nhưng cũng không tiện hỏi. Rồi chuyến hải hành cũng thuận buồm xuôi gió. Chúng tôi ra đến đảo vào sáng hôm sau và ngay trong buổi sáng đã tìm thuê phòng trọ, ổn định chỗ ở và đợi chiều trời mát, sẽ đi thăm thú vài nơi.

Thế nhưng khi tôi rủ lão ra cái hồ bên sườn núi nhìn hoa vàng đang nở, lão lại từ chối nói mình đã có một cuộc hẹn. Và thật vậy, ngay lúc đó điện thoại lão reo vang, lão vội vàng ra đi, không quên xách theo cái túi trông khá nặng nề mà lão lấy ra từ cái va ly lớn. Tôi đi ra cái hồ nước cũ một mình, ngồi ở đó suốt buổi chiều và nhớ những người bạn tuyệt vời năm xưa, nhớ lại cũng chính nơi này tôi đã nhận cú điện thoại cuối cùng của người tình phụ nhưng giờ tôi không còn nhiều đớn đau để chìm trong men rượu. Tôi cảm thấy thanh thản, yên bình… đúng như hôm sống trong giấc mơ với chính khung cảnh này.

Nhưng hôm sau, khi vừa thức dậy, lão bạn già lại nói: “Bữa nay anh với tui đi chơi ngoài hòn Bảy Cạnh nghen, tui đã thuê ghe”. Tất nhiên tôi đồng ý vì ra Côn Đảo mà không ra những hòn đảo nhỏ khác nằm xung quanh nó thì cũng uổng công du lịch xa. Vậy là chúng tôi đi, khởi hành hơi trễ vì chiếc thuyền cho thuê có một trục trặc nào đó, nhưng không ngờ lại gặp tai họa.

Đó là một cơn giông kỳ lạ, bất ngờ, khủng khiếp nổi lên trên biển khi chúng tôi đã cách bờ chừng mười hải lý. Chiếc thuyền du lịch nhỏ, ngoài chúng tôi chỉ có một tài công nhưng anh chàng này quả có nhiều kinh nghiệm trên biển. Anh ta mau chóng tăng ga, cưỡi trên những ngọn sóng cao như nóc nhà, miệng gào thét chúng tôi mặc áo phao, còn tay ghì bánh lái, cố đưa con thuyền rời xa vùng sóng dữ. Nhưng ngay lúc đó mưa ập xuống, trời bỗng tối đen như mực. Sóng hình như có dịu đi nhưng vẫn còn khá cao và gió vẫn rít từng cơn. Người tài công vẫn kiên cường tìm cách vượt sóng, nhưng “rắc” một tiếng, bánh lái thuyền đã gãy. Tôi nghe tiếng gào “trời ơi” vang lên, không biết của anh ta hay của lão bạn già!

Từ giờ phút đó chúng tôi phó mặc số phận của mình cho Thượng đế. Trời vẫn tối mịt mù. Con thuyền dập duyềnh trôi vô định. Tay bạn buôn lậu luôn miện thở than, và qua đó tôi mới biết rằng lão đã mang ra đây một số vàng khá lớn, với ý điịnh buôn lậu vô đất liền những sản vật cấm, ngờ đâu giờ đây lại đang phải phó thác mình cho sóng dữ.

Trong cái rung lắc dữ dội của con thuyền chúng tôi mau chóng buông xuôi và tự buộc mình vào thân thuyền rồi nằm im chờ chết. Thế nhưng sau khi ngất lịm vì sợ hãi và say sóng, tỉnh dậy chúng tôi đã nhận ra mình dạt vào một hòn đảo lớn!

Tưởng rằng sóng gió quăng quật về lại nơi xuất phát nhưng hoàn toàn không phải. Ngay cả tài công cũng ngơ ngác không biết thuyền bị dạt vào đâu vì theo anh ta phong cảnh hoàn toàn xa lạ. Nhưng vì con thuyền đã gãy bánh lái, lại có dấu hiệu vô nước, máy thuyền cũng hư hỏng nên đành bất lực. Chỉ mong hòn đảo có người để hỏi sửa thuyền và hỏi đường về.

 

Từ dưới con thuyền rách nát, nhìn hòn đảo có vẻ hoang vu. Lúc đó chừng về chiều. Sau khi trao đổi với tài công, tôi và anh bạn rời thuyền, quyết định thám hiểm một phen. Vừa bước chân lên bờ tôi đã choáng vì phong cảnh quá tuyệt mỹ. Nhưng độc đáo nhất là trên những vách đá ẩm ướt, tiếng suối róc rách chảy và hàng hàng lớp lớp hoa phong lan đang độ vào mùa. Tâm hồn thi sĩ được nuôi dưỡng từ bé và qua những cuộc tình điên của tôi rung động thật sự với đủ săc màu rực rỡ mà thanh nhã của hoa lan. Nhưng người bạn thô kệch đã lôi mạnh tay tôi, chỉ về một con đường mòn phía trước và ra hiệu dấn bước.

 

Khi chúng tôi vượt qua vài con dốc, một con đường trải đá hiện ra trước mắt làm chúng tôi cảm thấy vô cùng mừng rỡ bởi như vậy đây là hòn đảo có người. Chúng tôi chắc chắn sẽ hỏi được đường về! Bỗng nhiên một điều cựckỳ sốc xảy ra. Ngay trước mắt chúng tôi, từ một khúc ngoặt của con đường có một đoàn xe do ngựa kéo bỗng ầm ầm diễu qua. Một thi sĩ nửa mùa và một tay buôn lậu cùng ngây mắt ra nhìn. Xe ngựa đã là kỳ lạ nhưng kỳ lạ hơn trên mỗi chiếc xe đều có một cô gái. Họ ăn mặc như thời xa xưa và trang điểm cùng đeo trang sức khá lộng lẫy. Chúng tôi núp vào bên đường quan sát, và phải tự véo vào đùi mình để chắc là không phải đang mơ ngủ. Nhưng đúng là sự thật, một sự thật nằm ngoài sức tưởng tượng của con người…

 

Trên chiếc xe ngựa đi đầu, có một cô nàng cực xấu xí với đôi mắt xếch, miệng như cá hô nhưng trang điểm lòe loẹt và quần áo toàn bằng tơ lụa và từ mái tóc đến bàn tay đầy trang sức, chỉ nhìn qua có thể đoán cô ta là con nhà quyền quí. Những chiếc xe ngựa kéo chạy sau cũng đều chở những thiếu nữ đang xuân, vài người nhan sắc trung bình nhưng ỏng a ỏng ẹo trông khá chướng mắt. Chỉ có chiếc xe sau cùng, do một con ngựa già ì ạch gõ móng, trên xe có một người con gái mặc áo vải thô, không hề có dấu vết phấn son trang sức nhưng sáng ngời lên một dung nhan tuyệt mỹ đến nỗi cả tôi và lão bạn già cùng như ngây như dại, nhìn theo hút mắt và sau khi chiếc xe cuối lướt qua, chúng tôi rời chỗ nấp, bám theo đoàn thiếu nữ lạ lùng vào trung tâm đảo.

 

Càng vào trong, chúng tôi càng gặp nhiều người. Những người dân ở đây ăn mặc theo lối xưa với áo bà ba, chân đất, đầu vấn khăn nhưng tất cả đều hòa nhã và không hề tỏ thái độ tò mò hay cảnh giác với hai con người xa lạ.

Một ông lão tóc bạc cho tôi biết đảo này có tên là Hoa Lan bởi nơi đây bất kỳ ngóc ngách nào cũng tràn ngập sắc hoa quí phái này. Và cứ đến mùa lan ra hoa chính vụ, chúa đảo lại mở hội Tình Yêu để cho phép trai gái tìm nhau kết duyên. Ở đây không có chuyện tự tìm hiểu nhau mà quyền lực thuộc về chúa đảo. Ông ta sẽ truyền tất cả các gái chưa chồng đến dự hội, căn cứ vào nhan sắc mà định thứ tự thấp cao. Lại gọi tất cả thanh niên chưa vợ đến cho thi tài văn thơ. Thơ văn càng được xếp là hay thì sẽ được vợ đẹp! À, thì ra tận cái vùng đảo xa heo hút này cũng có phong trào thi hoa hậu và những “giải nhất văn chương” như trong đất liền. Thật lạ đời!

 

Quá kinh ngạc với những gì vừa nghe thấy, chúng tôi quyết định không trở lại thuyền và gia nhập vào lễ hội lạ lùng hấp dẫn này. Theo chân những cô gái, chàng trai đang nô nức vào tòa nhà lớn có chiếc cổng được kết bằng hàng vạn đóa hoa lan khác nhau, chúng tôi cũng được cho vào. Thú thật cả hai chúng tôi đều cảm thấy choáng ngợp với nhan sắc cô gái lúc nảy ngồi trên chiếc xe ngựa cũ nát nên vừa tò mò vừa háo hức. Trong sảnh lớn, trai và gái xếp hàng đối diện nhau. Chúa đảo là một người đàn ông to lớn, ăn vận sang trọng và nét mặt nghiêm khắc ngồi trên một sập cao, bên cạnh ông là một tay thư ký mặt gian giảo và cuốn số. Hắn xướng tên từng cô gái và đánh dấu cẩn thận nhưng bí mật. Những chàng trai thì phải trổ tài thơ văn của mình. Nếu đã vào đây, ai cũng phải làm một bài thơ nộp lên cho chúa đảo, và ai cũng phải lấy một cô gái đang xếp hàng kia làm vợ. Không có ngoại lệ. Mọi sự chống đối đều xem là tội phạm và bị xử lý nghiêm khắc bằng cách quăng tội nhân vào Mõm Cá Mập, một vụng biển phía bắc đảo.

 

Như lỡ ngồi trên lưng cọp, chúng tôi không còn cách tháo lui nếu không muốn vào bụng cá mập. Tôi hoàn toàn tự tin ở thi tài của mình, vừa nhìn nhan sắc diễm lệ của nàng phía đối diện, thi hứng lại dạt dào như sóng biển và một bài thơ tụng ca tình yêu với tôi chẳng có gì khó khăn, nếu không nói là có khả năng đọat giải nhất, chỉ thương lão bạn già, nhìn anh ta nhăn nhó đau khổ khi ráng rặn ra một “bài thơ” cho đúng thủ tục thật buồn cười.

 

Đêm hôm đó tất cả những ai tham gia lễ hội Tình Yêu trên đảo đều phải ở lại những căn phòng đựợc chỉ định. Theo thông báo, chúng tôi chỉ được phép ra về khi hôn sự đã xong. Vốn chẳng coi cuộc đời là cái quái gì sau khi bị ruồng bỏ, tôi về phòng mình, đánh một giấc, có nghĩ một chút đến anh tài công giờ chắc đang than vắn thở dài bên con thuyền hư của mình bởi không cách chi liên lạc cùng chúng tôi. Đang thiu thiu ngủ, bỗng nhiên tôi nghe tiếng đập cửa. Hơi hoảng sợ nhưng tôi cũng mở hé cửa thử xem là ai. Thì ra đó là tay thư ký của chúa đảo. Hắn thì thào: “Tôi đã đọc bài thi của anh. Nó thật xuất sắc. Anh sẽ được xếp hạng nhất mùa này nhưng anh có… mang vàng theo người không?”- “Vàng? Tôi không có, nhưng để làm gì?”. Hắ n nhìn mặt tôi, cười khỉnh và gằn giọng: “Nghèo kiết xác như anh sẽ xếp hạng bét và sẽ phải lấy cô gái xấu xí nhất đảo này”. Hắn quay ngoắt người, bỏ đi và ghé lại, đập cửa phòng ông bạn buôn lậu.

 

Suốt đêm tôi không ngủ. Nhớ lại cái cô miệng cá hô mắt xếch mà kinh hãi. Nhưng dù có mang theo vàng, tôi cũng thề là sẽ không dùng nó làm nhơ bẩn văn chương! Nhưng mà vậy thì cái nhan sắc như đóa lan đang phong nhụy kia sẽ thuộc về ai? Quả là đắng cay khi ngay trong cái xứ sở khỉ ho cò gáy này, nạn hối lộ vẫn bao trùm tất cả!

 

Có vẻ như “ban giám khảo” đã làm việc suốt ngày đêm. Chiều hôm sau tất cả các cô gái đều trùm kín trong những chiếc áo choàng đen như phụ nữ hồi giáo và trên mỗi chiếc áo đều được đánh số thứ tự. Cánh đàn ông thì được xướng danh từ cao đến thấp và cứ theo đó mà dắt cô gái về căn phòng tân hôn đã được chuẩn bị sẵn. Tôi bàng hoàng khi nghe tên lão bạn mình được ghi nhận là “đệ nhất thi sĩ” mùa này. Bàng hoàng nhưng không ngạc nhiên, bởi tôi biết với dòng máu lưu manh chảy trong huyết quản, đêm qua lão đã cho đi khá nhiều vàng trong cái túi xách mà lão luôn kè kè bên mình, cái túi mà ngay cả trong cơn bão vừa qua, lão cũng chẳng buông tay.

 

Đúng như dự đoán, tôi được kêu tên cuối cùng và nhận cho mình cô gái chắc là xấu xí nhất còn lại cuối cùng. Tôi rã rời đến dắt tay nàng về phòng mình, lòng đắng cay tưởng tượng khi mở lớp áo choàng ra, không ai khác hơn cái nàng miệng hô mắt xếch hôm nào. Khi cánh cửa khép lại, tôi run run kéo cái áo che mặt trước và bàng hoàng, vui sướng tột độ khi đó lại là nàng, người con gái đẹp nhất, người con gái áo vải trên con ngựa già, người mà vì nàng tôi đã làm một bài thơ xuất sắc! Nàng cũng e ấp khi nhận ra tôi và tỏ vẻ vui mừng bởi nàng cho biết, đêm hôm qua đã nhìn thấy tôi đứng trong hàng ngũ đàn ông tìm vợ, và chỉ mong đừng rơi vào tay một gã thô kệch, cộc cằn. Nàng kể: “Nhà em nghèo lắm, nhưng đêm qua tay thư ký đòi đến mười lượng vàng, em không có nên bị xếp vào cuối bảng”.

 

Thì ra là vậy. Quả là may rủi khôn lường. Con người sao cải được cái nghiệp của mình. Tôi ôm nàng vào lòng, một mùi hương hoa lan thanh khiết và run rẩy và bỗng thương cho lão bạn giàu kia, chắc chắn giờ lão đang ôm cái cô nàng thô kệch nhưng đeo đầy trang sức kia!

 

Nửa đêm, đang say trong giấc mộng tình, bỗng nhiên tôi nghe tiếng đập cửa ầm ầm. Choàng vội áo quần, chúng tôi chưa kịp mở cửa thì một đoàn người đầu trâu mặt ngựa đèn đuốc sáng ngời ập đến. Chúng tôi bị trói giật cánh khuỷu và lôi ra ngoài. Tôi la lên: “Chúng tôi có tội tình gì? Tại sao các người bắt chúng tôi?”. Tay thư ký mặt mày gian xảo chính là người chỉ huy đám côn đồ. Hắn cười gằn, lấy tay chỉ vào trán tôi: “Anh bị tố cáo là đã hối lộ để lấy cô gái xinh đẹp nhất đảo này. Chúng tôi có lịnh bắt và ngày mai, chính chúa đảo sẽ xử lý anh”. Mặc cho chúng tôi giãy giụa, phản đối, họ lôi chúng tôi ra ngoài, đến bìa một khu rừng nơi có sẵn các cọc gỗ và trói chúng tôi vào đó. Thân cô thế cô. Tôi đành chờ “xét xử” trên chính nỗi oan của mình. Chỉ tội nghiệp cho nàng, nước mắt đẫm khuôn mặt yêu kiều nhưng an ủi cho tôi, nàng vẫn cố nhìn tôi nhoẻn cười chứ không sợ hãi.

 

Trói chúng tôi xong, bọn họ bỏ đi, bởi biết chắc trên đảo này chúng tôi chạy đâu cho thoát mà canh giữ. Nhưng chỉ lát sau, tôi bỗng nghe có tiếng xào xạc rất nhẹ, rồi một bóng người tiếp cận tôi, nhanh chóng mở dây trói. Tôi hoàn hồn nhìn kỹ thì ra đó là chàng trai lái thuyền du lịch. Ngay lập tức tôi mở trói cho nàng và chúng tôi cùng nhau chạy nhanh về phía con thuyền đang đậu. Trong bóng đêm, không ai phát hiện…

 

Thì ra chàng tài công đã sửa xong con thuyền, không thấy chúng tôi về anh ta quá lo lắng nên bí mật vào trung tâm đảo và chứng kiến đoạn sau câu chuyện. Thấy chúng tôi bị bắt trói, anh đã đợi bọn họ rời đi rồi vào giải cứu. Vừa đến nơi thuyền đậu, anh hối chúng tôi nhảy xuống nhưng khi tôi đưa tay đở nàng thì nàng nói: “Không, em không thể theo anh, em còn cha mẹ già. Anh hãy mau chóng đi đi, đừng bao giờ quay về đây nữa!”. 

 

Dù năn nỉ hết cách, dù những dòng lệ chân tình có rơi cũng không làm nàng thay đổi quyết định. Người lái thuyền lại giục, tôi đành ôm nàng vào lòng một lần rồi từ giã. Nàng cố nén, thầm thì: “Em sẽ nhớ anh, nhớ suốt đời dù mình chỉ có duyên hội ngộ chưa hết trọn một ngày!”.

 

Tôi chợt nhớ đến lão bạn, nhưng người lái thuyền ra hiệu đi nhanh vì thấy xa xa đèn đuốc chập chờn. Chúng tôi nhảy xuống thuyền, đẩy con thuyền ra xa, nổ máy. Tôi nhìn mải miết vào bờ, bóng nàng như một tảng đá vọng phu, nhỏ dần rồi mất hút.

 

Chúng tôi đã chạy thuyền suốt đêm, đến sáng thì người tài công nhận định lại phương hướng và may mắn gặp được một tàu đánh cá nhỏ cho một “can” xăng chạy về. Hôm sau anh ta trình báo lên chính quyền địa phương nhưng chẳng ai tin chúng tôi. Tôi đã ở lại Côn Đảo mười ngày để chờ lão bạn, nhưng anh ta không về, và cuối cùng cạn tiền, tôi đành lên một chiếc tàu thủy trở lại đất liền...

 

***

Đã một năm trôi qua, thành phố nơi tôi sống, những cành phong lan đang mùa rực rỡ. Tôi vẫn chưa thể quên những chuyện trên hòn đảo kỳ dị đó. Theo tôi đoán nó nằm đâu đó ngoài khơi vùng biển Côn Đảo và chờ đợi một ngày lão bạn kia trở về cùng với tin tức của nàng, nhưng đến bây giờ điều mong ước đó vẫn mờ mịt phù du…

 

NGUYỄN ĐÌNH BỔN

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
10 Tháng Chín 202612:47 SA(Xem: 140)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
10 Tháng Chín 202612:22 SA(Xem: 78)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2267)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
09 Tháng Tám 20267:14 CH(Xem: 1495)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 20266:02 CH(Xem: 1367)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2346)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:11 CH(Xem: 1875)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2511)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
07 Tháng Tám 202610:29 CH(Xem: 1767)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 2260)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
07 Tháng Tám 2026(Xem: 1767)
Lời dẫn nhập: Hai năm sau lễ động thổ ngày 5 tháng 8 năm 2024, Kênh Funan Techo vẫn đang được thi công theo từng đoạn, chưa hoàn thành toàn tuyến khoảng 180 km. Tác giả phân tích rõ dự án không chỉ là tuyến giao thông đường thủy đơn thuần mà còn là công trình điều tiết nước đa mục tiêu, có nguy cơ ảnh hưởng đến chế độ lũ, phân phối phù sa và xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long. Đặc biệt, dự án đã vi phạm nghiêm trọng Điều 5 của Hiệp định Mekong 1995. Cam Bốt đã cố tình xếp kênh Funan Techo vào nhóm “dự án trên dòng nhánh” để chỉ phải làm thủ tục Thông báo đơn giản, thay vì thực hiện thủ tục Tham vấn trước (Prior Consultation) bắt buộc theo quy trình PNPCA. Thực tế, kênh kết nối trực tiếp với sông Mekong và sông Bassac – hai nhánh mang nước dòng chính – và chuyển nước ra Vịnh Thái Lan. Việc né tránh Điều 5 không chỉ làm suy yếu cơ chế hợp tác của Ủy hội sông Mekong (MRC) mà còn mở ra nguy cơ các quốc gia khác noi theo, phá vỡ nguyên tắc sử dụng nước công bằng và hợp lý trên ...
16 Tháng Tám 2025(Xem: 11658)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 18260)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17303)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
08 Tháng Tám 202612:47 SA(Xem: 2346)
Có người hỏi vì sao ta biền biệt / Đã bao mùa không thấy chút tăm hơi / Có lẽ bởi tháng năm rong ruỗi quá / Bụi mờ dần một khoảng sáng ngày xưa
07 Tháng Tám 202611:05 CH(Xem: 2511)
tháng giêng hoa xoan chưa nở / thì em đã vội lấy chồng / mùi hương còn đang dang dở / rụng đầy xuống cả dòng sông / *** tháng hai ánh trăng vừa cũ / chênh chao ngõ vắng im lìm / em không còn gì để nói / chỉ màu nắng nhạt qua tim /
22 Tháng Bảy 202610:23 CH(Xem: 3783)
Bão Maysak đổ bộ vào Móng Cái / các bản tin điện tử dồn lên trang nhất / suốt nhiều giờ chống bão / anh đợi bản tin em
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 3806)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
(Xem: 134)
Tôi chưa đọc "Chuyện làng Nhô", cũng chưa đọc "Chuyện với Thanh" nên không biết "nội tình" các "Chuyện..." đó thế nào, những "uẩn khúc" ẩn nấp phía sau 2 "Chuyện..." đó với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều ra sao nên tôi không lạm bàn về 2 tác phẩm này nhưng tôi tin khi nhắc đến tiểu sử và sự nghiệp của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều người ta không thể không nhắc đến "Chuyện làng Nhô" và "Chuyện với Thanh" như 2 "Quả Nghiệp" đã "quật" vào cuộc đời ông với nhiều tầng "cảm xúc". Và cả 2 tác phẩm này sẽ dai dẳng ám ảnh, buộc ông phải nhìn nhận lại với những day dứt, cay đắng.
(Xem: 1875)
Dòng sống cũng như một dòng sông; có những con nước bất ngờ và những khúc quanh nghiệt ngã. Tôi quyết định chuyến đi từ Mỹ về cao nguyên Đắk Lắk - Buôn Ma Thuột chỉ trong vòng mười lăm phút trước một ngọn trào tỉnh cảm đòi hỏi cần đến một chuyến đi xa.
(Xem: 3516)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 3145)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
18 Tháng Tám 20269:54 CH(Xem: 2267)
Thu nằm trong bệnh viện đã được 7 ngày. Cũng vào ngày cuối cùng của “tuần chung thất” theo một lễ tục người Việt từ cả ngàn năm nay mà Thu được biết qua chuyện trò của mẹ với các bà vãi hàng xóm, phải đúng ngày này, khi nỗi đau ghê gớm của cơ thể từng chuyển hóa lẫn lộn trong những cơn mê sảng chưa từng có trong quãng đời 18 cái xuân xanh đã dịu đi chút ít, em mới bàng hoàng nhận ra: em đã bị mất toàn bộ chân trái…
30 Tháng Bảy 20261:56 CH(Xem: 2260)
XÓM BỜ MƯƠNG – Truyện thứ hai trong bộ ba "Tam Quan" của Phạm Ngọc Lương. Hôm qua, chúng tôi giới thiệu CÁT HOANG. Hôm nay là XÓM BỜ MƯƠNG – truyện ngắn thứ hai trong bộ ba Tam Quan của nhà văn trẻ Phạm Ngọc Lương, từng đăng trên Hợp Lưu số 87 (2006). Hơn hai mươi năm trước, nhà phê bình Thụy Khuê đã gọi đây là "một câu chuyện cổ tích kinh dị", nơi cái chết của một dòng sông song hành với sự mục rữa của môi trường, sự tha hóa của con người và số phận bi thảm của một đứa trẻ. Một truyện ngắn đầy chất thơ, nhưng càng đẹp càng khiến người đọc rùng mình. Hai mươi năm đã trôi qua. Dòng sông trong truyện có còn là một ẩn dụ của hôm nay? Xã hội Việt Nam đã thay đổi đến đâu trước những vấn đề mà XÓM BỜ MƯƠNG đặt ra: môi trường, bạo lực, sự vô cảm, và phẩm giá con người? Chúng tôi xin giới thiệu lại truyện ngắn này. Câu trả lời, có lẽ, xin dành cho mỗi bạn đọc.
29 Tháng Bảy 20263:34 CH(Xem: 2415)
Có những tác phẩm không thuộc về một thời điểm. Chúng lặng lẽ nằm lại trên trang giấy nhiều năm, rồi một ngày nào đó bỗng hiện lên với sức nặng như thể vừa mới được viết hôm qua. Cát Hoang là một truyện ngắn như vậy. Lần đầu xuất hiện trên Tạp chí Hợp Lưu bởi lối viết tối giản, đứt đoạn như điện ảnh, ngôn ngữ đầy ký hiệu, và một thế giới nghệ thuật khiến người đọc vừa bối rối vừa ám ảnh. Nhà phê bình Thụy Khuê từng nhận xét đây là một truyện ngắn có cấu trúc của thơ hiện đại, nơi mỗi câu chữ đều trở thành một ám hiệu, buộc người đọc phải đọc bằng trực giác nhiều hơn bằng cốt truyện. Trong thế giới ấy, có một bãi đất nổi giữa dòng sông, một cộng đồng sống như chưa từng biết đến ánh sáng của văn minh, nơi trẻ em không được học chữ, nơi người biết chữ bị gọi là "con điên", và nơi bạo lực dần trở thành trật tự bình thường. Đó là một không gian hư cấu. Nhưng điều khiến Cát Hoang sống mãi không nằm ở tính hư cấu ấy, mà ở khả năng đánh thức những câu hỏi chưa bao giờ cũ:
22 Tháng Bảy 202610:14 CH(Xem: 2623)
Đất nước ta khởi đi từ hình bóng một người mẹ thuở hồng hoang. Lịch sử chúng ta khởi đi từ lời ru và những cuộc phân ly. Giữa huyền thoại về những người anh hùng, thấp thoáng bóng dáng những người mẹ trầm mình trên sông.
10 Tháng Chín 2026(Xem: 77)
Cách đây chín năm, một bài viết của Ngô Thế Vinh đã nhìn Cao nguyên Tây Tạng như “Cực Thứ Ba của Trái Đất”, kho dự trữ băng tuyết khổng lồ và là nơi phát nguyên của những dòng sông lớn nuôi sống hàng tỉ cư dân châu Á, trong đó có Sông Mekong. Đức Dalai Lama từ rất sớm đã cảnh báo rằng vấn đề môi sinh Tây Tạng còn cấp thiết hơn cả những vấn đề chính trị: băng tuyết tan nhanh, phá rừng, khai thác khoáng sản, ô nhiễm nguồn nước và những con đập đang làm biến dạng các dòng sông. Từ đầu nguồn Tây Tạng tới các đồng bằng hạ lưu, tất cả nằm trong cùng một hệ sinh thái liên lập. Thông điệp bài viết năm 2017 vẫn nguyên tính thời sự: “Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết.”
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1495)
“Một suy ngẫm nối tiếp Từ bài viết “CUỘC TỰ VẤN LƯƠNG TÂM LỚN NHẤT VÀ RUNG CẢM NHẤT TRONG ĐIỆN ẢNH” của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey của Christopher Nolan, chúng tôi thử đi thêm một bước: từ Troy của Homer nhìn về những cuộc chiến của thế giới hôm nay.” MINH HẠO -
09 Tháng Tám 2026(Xem: 1367)
Hợp Lưu trân trọng giới thiệu bài viết của Mai An Nguyễn Anh Tuấn về The Odyssey — bộ phim mới của đạo diễn Christopher Nolan. Không chỉ là một bài điểm phim, tác giả đã đọc cuộc trở về của Odysseus như một hành trình trở về với lương tri và Nhân tính; nơi chiến thắng, quyền lực và những cuộc chinh phạt cuối cùng phải đối diện với món nợ máu của những người vô tội. Từ thành Troy của Homer đến một thế giới hôm nay vẫn còn “gió tanh mưa máu”, bài viết đặt ra một câu hỏi tưởng cổ xưa mà vẫn nhức nhối: Sau mỗi cuộc chiến, ai sẽ là người trả giá cho những gì con người đã gây ra cho con người? — BAN BIÊN TẬP HỢP LƯU
22 Tháng Bảy 2026(Xem: 2528)
MẢNH ĐẤT ÍT NGƯỜI NHIỀU MA… NGƯỜI, viết hoa, theo tính chất triết học cả Đông lẫn Tây, và theo cách hiểu của tâm lý đời thường nhiều biến động này là “Tử tế”, đang ít dần đi cùng với sự teo tóp của Lương tri, sự lẩn trốn của cái Thiện, sự đánh mất Tình thương và Lòng trắc ẩn… Ma, theo nghĩa khái quát về bản chất Ma Quỷ trong con người đang trỗi dậy, không chỉ là hình tượng dọa nạt con trẻ nữa mà đang trở thành thế lực khủng khiếp đe dọa thống trị toàn bộ cơ chế hoạt động lẫn tinh thần – đạo lý xã hội…
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 4330)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 14837)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30982)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 37608)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 12682)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13976)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 5023)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 7450)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 6617)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 7016)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 7908)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 9697)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 8936)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 11825)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.