- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Chiếc Vé Số Hy Vọng

24 Tháng Giêng 201412:00 SA(Xem: 62228)



ve_so-content


Hắn dừng xe lại ở cây xăng, đổ đầy xăng, rảo bước vào bên trong trả tiền, và như thường lệ hắn mua một chiếc vé số. Hắn đi trở ra xe và chợt nhớ ra đã quên hỏi kết quả xổ số kỳ trước; hắn lắc đầu và nói lầm bầm: “Đầu với óc!” rồi leo lên xe dông tuốt.

Hắn chẳng nhớ chính xác từ lúc nào đã bắt đầu mua vé số; có lẽ từ cái ngày hắn nghe tin có một gã may mắn trúng một giải lớn ở tiểu bang Georgia, từ đó hắn có thói quen mua vé số mỗi khi dừng xe ở cây xăng để đổ xăng. Hắn đã từng thấy nhiều người nghèo bỏ ra hàng mấy chục bạc để mua vé số. Không như họ, hắn chẳng bao giờ bỏ ra hơn một đồng để mua vé số. Một đồng và chỉ một đồng vé số mỗi lần là quá đủ! Hắn nghĩ như vậy vì hắn vẫn thường lý luận theo toán học: không có sự khác biệt đáng kể khi so sánh xác xuất xuất hiện một dãy số với xác xuất xuất hiện của hàng chục hay ngay cả hàng trăm dãy số tương tự một khi có đến hơn cả tỷ trường hợp có thể xảy ra. Trong những ngày đầu khởi sự mua vé số, hắn hy vọng thật nhiều sẽ được trúng các giải lớn và hắn đã sống trong niềm mong đợi đến dịp cuối tuần, để rồi sau rốt cảm thấy hơi thất vọng khi biết mình không trúng một giải nào cả. Thế nhưng dần dần hắn thấy vui vui với những giấc mơ của một kẻ ngỡ mình đang trúng số; thật vậy, với chỉ một chiếc vé số mà hắn dệt không biết bao nhiêu là giấc mơ tuyệt vời! Nào là hắn sẽ cho ba mẹ hắn tiền đủ để về quê nhà thăm các anh chị em của hắn phải ở lại bên đó khiến ba mẹ hắn nhớ thương họ thật nhiều; nào là hắn có thể trả tiền lo tất cả thủ tục giấy tờ để đem vợ con hắn sang đây mau nhất như có thể được và rồi gia đình hắn lại sống những ngày đoàn tụ hạnh phúc… Hắn đã sống trong hạnh phúc, tràn trề hy vọng với những giấc mơ đại loại như thế suốt cả tuần lễ cho đến cuối tuần, lúc mà hắn sẽ đi mua một “niềm hy vọng” khác; rõ ràng lúc nào hắn cũng thấy vui vẻ. Với hắn các tấm vé số thật là rẻ làm sao!

Một dạo trong tiệm tạp hóa khi đang trả tiền mua 1 chiếc vé số, hắn đọc được sự chế diễu trên vẻ mặt người chủ tiệm. Hắn chợt nhớ một ngày nọ chính gã này đã nhìn một người đàn bà nghèo khổ với vẻ diễu cợt khi bà ta bỏ ra hai chục đồng để mua vé số và y đã hỏi bà ta có phải bà thích đánh bạc lắm phải không. Lần này không muốn bị coi là kẻ mê cờ bạc nên hắn cười gượng và nói với gã chủ tiệm:

–Tôi nghĩ nó rẻ. À...Ý tôi là vé số thật rẻ tiền.

Gã chủ và những người khác trong tiệm nhìn hắn như nhìn một thằng khùng. Nhưng hắn chẳng cần quan tâm đến suy nghĩ của bọn họ; bằng chính kinh nghiệm bản thân hắn biết rõ thật sự hắn đã có được thật nhiều thứ bằng vào chiếc vé số này. Vì thế hắn vẫn cứ tiếp tục làm theo sở thích của mình: dừng xe ở cây xăng đổ xăng, trả tiền xăng, mua một cái vé số, sống với niềm hy vọng suốt một tuần lễ, dò số xem có trúng không, mua 1 “niềm hy vọng” mới, và rồi cứ lập lại hoài cái chu kỳ đó. Nhiều khi hắn quên hỏi kết quả xổ số tuần trước nhưng như thường lệ hắn chẳng lấy làm bận tâm về điều đó cho lắm.

Thế nhưng lần này thì khác hẳn. Một thằng bạn cũ của hắn vừa trúng số hai ngàn đô la đã tặng hắn hai chục đồng và một tấm vé số lấy hên. Người bạn nói nửa đùa với hắn rằng bảo đảm hắn sẽ là một triệu phú! Từ lúc đó hắn cảm thấy một nỗi bồn chồn kỳ lạ càng lúc càng lớn dần, niềm hy vọng trúng số độc đắc! Càng gần đến cuối tuần, niềm hy vọng đã trở nên một ước muốn mãnh liệt và sau rốt biến thành một nỗi ám ảnh; thay vì chiếc vé số đem lại hạnh phúc như thường lệ giờ đây thành nỗi lo âu trong lòng. Thế rồi tại cây xăng vào ngày Chủ Nhật hóa ra hắn không trúng được một con số nào trên tấm vé số đầy hứa hẹn của mình. Thoạt đầu hắn choáng váng và ngay sau đó nghi ngờ người thâu ngân đã đưa nhầm kết quả cho hắn, có thể đó là kết quả của tuần trước. Hắn nghĩ hắn phải là người trúng số và ngoài hắn ra không có thể là ai khác được! Càng nhìn vào tờ kết quả xổ số hắn càng thấy người mụ mẫm. Đột nhiên hắn thấy trong lòng dâng lên một niềm bi đát, tuyệt vọng; cùng một lúc có như có cái gì rạn vỡ bên trong người; cảm giác giống như một đống đá đổ nhào xuống khi ai đó vừa lấy đi một hòn đá nằm ở phía dưới chân đống đá. Suy nghĩ của hắn chậm chạp và khật khưởng y như chiếc xe số tay leo lên dốc nhưng không được sang xuống số nhỏ; tệ hơn nữa, ký ức của hắn dường như bị lộn tùng phèo và các “ngăn nhớ” bị lật nhào làm bao nhiêu thứ chứa trong đó văng tung tóe khắp nơi…

*

...Đây là lá thư của người vợ yêu dấu hắn vừa nhận được tuần trước. Y như mỗi lần hắn muốn lướt qua để đọc trọn lá thư là hắn bị khựng lại ngay ở cái dòng chữ: “Hãy giúp em! Ôi hãy giúp em! Anh ơi!” Nỗi đau chói làm nhức nhối và mỗi chữ như xé lòng đó là một con dao đang cứa lên trái tim hắn bởi hắn hiểu rất rõ điều gì nàng muốn nói qua những chữ này. Giây phút đó nàng cần có hắn, cần chính sự hiện diện bằng xương bằng thịt của hắn mà không phải một thứ gì khác có thể thay được! Đó là tất cả điều mà nàng cầu xin trong vô vọng nhưng hắn chẳng có thể giúp được gì cả và chính điều đó làm hắn cảm thấy mình quá đỗi bất lực, rất chi có lỗi và đau quặn thắt cả lòng. Hắn không nhớ đã ngồi bất động trước chiếc bàn trong bao lâu, mắt nhìn trừng trừng nhìn ra ngoài khung cửa sổ mà chẳng thấy một cái gì cả, cho đến khi nhận ra mình ràn rụa nước mắt thì ngoài kia những ngọn đèn đã lên trong bãi đậu xe của khu chung cư; nhìn lại lá thư trên bàn, những chữ trước đó màu xanh bây giờ đen hơn màn đêm.

*

…Một đêm mưa bão hắn cố đi ngủ sớm nhưng biết chắc mình chẳng bao giờ chợp mắt được trước nửa khuya. Trong lúc mơ mơ màng màng hắn nghe rõ ràng giọng nói dễ thương của đứa con trai bốn tuổi:

–Ba ơi! Coi nè ba!

Quá đỗi ngạc nhiên và choáng ngợp bởi niềm sung sướng khi được nghe lại giọng nói quen thuộc đó, hắn choàng tỉnh dậy và cứ tưởng như thật nên nhìn quanh quất tìm thằng bé để rồi cay đắng nhận ra rằng đó chỉ là ảo giác! Thế mà tiếng kêu đó vẫn như còn vang lên trong đầu hắn, trong tận cùng nỗi thất vọng hắn thấy lòng như bị ai thiêu đốt, một thứ lửa rất nóng và dữ dội làm hắn không thể chịu nỗi. Vừa run rẩy vừa thở hổn hển, hắn nhào đến bên cửa sổ, mở toang cửa ra để cho những hạt mưa và mưa gió tấp lên khắp mặt mày và ngực hắn cho đến lúc toàn thân ướt sũng. Khi hắn run lên lẩy bẩy vì lạnh là lúc ngọn lửa ghê gớm bên trong người hắn cuối cùng đã dịu đi.

*

...Hắn thấy mình đang ở phòng đợi ở phi trường vào cái ngày hắn theo gia đình rời Việt Nam đi định cư ở Mỹ. Trí óc hắn như bị che phủ bởi một màn sương và cảm thấy quá khốn khổ đau đớn đến nỗi không còn biết những gì đang xảy ra chung quang mình. Điều duy nhất trong đầu hắn lúc đó là cảnh mà hắn mường tượng đang xảy ra ở nhà mình. Có thể lúc này đây vợ hắn đang chuẩn bị thức ăn sáng cho con trai hắn trong bếp trong lúc thằng bé cứ hỏi hoài rằng ba nó ở đâu, có chở nó đi học không. Và hắn có thể thấy nước mắt chảy dài trên má nàng cùng vẻ mặt ngơ ngác của thằng bé… Ngay lúc đó hắn ước chi có thể khóc òa và chợt thấy đau nhói trong lồng ngực như có ai bóp nghẹt trái tim. Hắn không biết bằng cách nào và lúc nào hắn đã lên máy bay, nhưng hắn nhớ thật rõ cái cảm giác không thể nào chịu đựng nỗi khi thắt sợi dây an toàn; tim hắn tan nát với một nỗi đau quá đỗi. Hắn thì thào: “Thế đấy! Cái này không có thật! Không! Cái này không có thật!” Rồi hắn lẩm bẩm: “Vĩnh biệt em yêu! Vĩnh biệt con trai của ba! Xin vĩnh biệt đất tổ!” Vào lúc đó, hắn cảm nhận từng cơn sóng dữ dội đang cuộn trào trong lòng,và ngay cái lúc máy bay cất cánh chúng chợt vỡ oà thành những giọt nước mắt. Xin cám ơn ông Trời! Rốt cuộc hắn đã khóc được rồi!

*

...Hắn nhìn thấy một cái cây chết khô với các cành trơ trụi nằm bên kia đường nơi hắn làm việc. Lần đầu tiên hắn thấy cái cây có lẽ là vào một ngày mùa đông. Nếu không chú ý những vệt trăng trắng nơi vỏ cây tróc ra chắc hắn chẳng có thể nào phân biệt được cái cây khô này với các cây khác trong khu rừng bởi chúng trông giống nhau trong mùa đông vì đều không còn lá. Chẳng biết do đâu hắn bỗng có thói quen ngắm cái cây chết khô mỗi khi từ nơi đứng làm việc chợt nhìn ra ngoài trời. Bao giờ cũng thế, suốt bốn mùa cái cây khô cứ đứng một mình ở đó, tách biệt hẳn với các cây còn xanh tươi khác.

Vào mùa Xuân khi tất cả cây cối trong khu rừng đua nhau đơm nụ rồi nở hoa, cái cây khô trông xấu xí với lớp vỏ bị tróc ra và cành thì trơ trụi không một ngọn lá. Mùa Hạ về, lúc những chiếc lá xanh trên những ngọn cây khác nhảy múa ca hát cùng với gió, trên cái cây khô có thêm những cành nhỏ gãy lìa lặng lẽ rơi xuống. Rồi mùa Thu tới, khi những cây cối chung quanh tự làm đỏm cho mình bằng các chiếc lá đổi màu sặc sỡ, cái cây khô tội nghiệp cứ đứng nép mình ở đó bên bìa rừng. Có một điều bí ẩn chính hắn cũng không hiểu nổi là mỗi khi nhìn cái cây khô, hắn cảm thấy mơ hồ như thiếu một cái gì đó mà đã nhiều lần hắn cố nghĩ ngợi nhưng không thể nào đoán ra.

Mãi cho đến một buổi chiều đông trời mây âm u, một con quạ đến đậu ngay trên ngọn cái cây khô và chuyện đó làm cho hắn thấy lòng bồn chồn xao xuyến. Trước mắt là một cảnh tượng kỳ lạ: bóng con chim màu đen đơn độc đậu trên ngọn cây khô với những cành trơ trụi giống như những ngón tay ma quái in lên nền trời xám xịt. Bây giờ hắn hiểu được cái hắn chờ đợi lâu nay, con quạ đen này đây! Vâng chính con quạ đã hoàn thành bức tranh ẩn dấu lâu nay trong tiềm thức của hắn và hắn thấy lòng nhẹ nhõm như vừa cất được gánh nặng trên vai. Hắn như tên tội phạm vừa được tuyên án xong và thế là chấm dứt những ngày tháng khắc khoải đợi chờ vì không biết được số phận mình sẽ ra sao. Từ dạo đó hắn không còn bận tâm về cái cây chết khô kia nữa, nhưng thỉnh thoảng trong những giấc mơ, hắn lại thấy một bức tranh có một bộ ba gồm một con quạ cô độc, một cái cây chết khô, và một bầu trời u ám. Hắn như vừa thoát khỏi một điều gì đó thôi thúc, mơ hồ, huyền hoặc nhưng đồng thời lại rơi vào một nỗi ám ảnh khác rất đỗi kỳ bí và tối tăm. Bây giờ hắn không còn thấy bần thần khi nhìn cái cây khô, nhưng sự xuất hiện của con quạ dường như báo trước một điềm triệu của định mệnh…

*

...Kìa trong khu vườn vợ hắn làm bộ rượt theo thằng bé con thật dễ thương; thằng bé vừa chạy vừa cười ngặt nghẽo. Ánh nắng ban mai chiếu lên những khóm bông hồng và thật kỳ diệu, tất cả các giọt sương đọng trên các chiếc lá xanh, trên những nụ hồng hàm tiếu, những đóa hồng mãn khai bỗng chuyển mình hóa thành những hạt ngọc muôn mầu lóng lánh. Nơi mái hiên nhà, các chòm phong lan đong đưa nhè nhẹ theo từng cơn gió thoảng; hòa với tiếng chim hót, một điệu nhạc vui tươi bay lượn khắp khu vườn... và hắn nghe được bài hát quen thuộc hắn thích:“Ta về nơi đây đã im tiếng động, đã về trên sông những cánh bèo trôi... Ta về nơi đây tháng năm quá rộng… Bây giờ ta nhìn khói trời mênh mông…” (TCS)

*

Có tiếng còi xe và âm thanh của bánh xe nghiến trên mặt đường vẳng đến từ một nơi nào xa xôi và một tiếng đụng ầm, hắn cảm thấy người giật mạnh và chẳng hay biết gì nữa!

…Không ai còn nhớ điều gì đã xảy ra cho hắn sau lần cuối cùng nhìn thấy hắn mua tấm vé số đầy hứa hẹn – mà hắn vẫn thường gọi là “chiếc vé số hy vọng”. Có lẽ hình ảnh một gã khùng khùng như hắn đã lãng quên trong ký ức những người sống ở thành phố này. Thời gian vô tình trôi đi, hết năm này sang năm khác, mặt trời và mặt trăng như những tên lãng tử mãi mê ngao du trên bầu trời. Trong sân chơi có một ông già đi lòng vòng. Chính là hắn! Nhìn chăm chăm vào chiếc vé số nhàu bẩn trên tay hắn lẩm bẩm: “Chắc mẩm mấy con số này trúng mà! A! Mình trúng số!”; rồi hắn mỉm cười ngờ nghệch. Bên ngoài không xa lắm từ khu sân chơi có dãy rào cao vây kín, bên trên chiếc cổng, người ta có thể thấy trên tấm biển ghi: BỆNH VIỆN TÂM THẦN./.

THỌ MÂN
Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 281)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
11 Tháng Bảy 20265:19 CH(Xem: 408)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
11 Tháng Bảy 20262:04 CH(Xem: 493)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1030)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
08 Tháng Bảy 20265:41 CH(Xem: 904)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1028)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1597)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1626)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20264:45 CH(Xem: 1528)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1530)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
16 Tháng Tám 2025(Xem: 10440)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 17252)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16333)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16783)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
08 Tháng Bảy 20264:22 CH(Xem: 1027)
Sau một khoảng lặng khá dài, nhà thơ Phan Thanh Bình gửi đến Hợp Lưu năm bài thơ mới như những mảnh suy tưởng được chưng cất từ ký ức, lịch sử, tri thức và những đổ vỡ của đời sống đương đại. Ở đó, hình ảnh quen thuộc luôn được đặt trong những liên tưởng bất ngờ: mùi oản hương đi cùng chỉ số Dow Jones, phế tích vương triều mở ra một hệ đếm của ký ức, còn cơn mưa cuối cùng lại đổ xuống ngay trong bóng mình.
26 Tháng Sáu 20265:05 CH(Xem: 1625)
anh nằm ôm huế sượng trân / bởi tóc em buộc phù vân giữa lòng / huế mình chừ mãi long đong / nên trăng trong nội vẫn không chịu về
26 Tháng Sáu 20263:01 CH(Xem: 1639)
Có những thứ tưởng chừng phai hết thảy / Đến cuối đời vẫn thổn thức không nguôi / Như chiếc lá rơi qua mùa rất cũ / Chạm tim người một tiếng động xa xôi.
18 Tháng Sáu 20262:22 CH(Xem: 2401)
Có những bài thơ được viết ra để xuất bản ngay. Có những bài thơ lại chọn cách ngủ yên rất lâu trong ngăn kéo thời gian. Những Ngày Chủ Nhật của Nguyễn Chí Trung thuộc về trường hợp thứ hai. Được viết từ năm 2000, bài trường thi này phải đợi đến 26 năm sau mới đến với bạn đọc Hợp Lưu. Trong quãng lặng dài ấy, thời gian đã đổi thay nhiều điều, nhưng những câu hỏi mà thi sĩ đặt ra về nỗi buồn, sự hiện hữu, ký ức, cô đơn và hành trình làm người dường như vẫn còn nguyên tính thời sự. Chúng tôi xin giới thiệu tác phẩm như một món quà nhỏ gửi đến những độc giả yêu thơ Nguyễn Chí Trung — những người vẫn tin rằng có những tiếng nói thi ca không thuộc về một thời điểm, mà thuộc về nhiều thế hệ cùng chia sẻ một nỗi băn khoăn trước đời sống. TẠP CHÍ HỢP LƯU
(Xem: 408)
-Năm 1978 Tôi đặt chân đến Úc sau hơn 9 tháng ở Indonesia, dừng Sydney chuyển tiếp đến Thành phố một ngày có bốn mùa là Melbourne, chuyến bay Qantas khổng lồ 747 chở một nhóm 100 người chia ra lên khu vực thượng hạng trên chóp mũi. Tôi mang đôi dép hai màu chiếc đực chiếc cái đi bơ vơ giữa đám đông người Việt gốc Tàu cùng vali sang trọng.
(Xem: 903)
Sinh 1946, tôi rời Việt Nam năm 1982 – 36 tuổi – và sống tại Mỹ từ đó cho đến bây giờ ở tuổi 80. Năm nay – 2026 – Mỹ kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Nhìn lại bản thân và gia đình mình, chúng tôi đã được sống trên đất nước này ngót một phần năm chặng đường của dòng lịch sử Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ. / Càng đến tuổi xế chiều, rồi... chạng vạng cuộc đời, sự ra đi vĩnh viễn không còn là vấn đề bận tâm như thời còn trẻ mà chỉ còn lại nỗi ám ảnh tuổi già là “ra đi như thế nào”. Có lúc nghe tin người bạn, người thân làm ăn kiếm bạc triệu đô la tôi vẫn chúc mừng nhưng với tâm trạng dửng dưng như mùa thu lá rụng. Nhưng nghe tin một bạn già vừa thảnh thơi an nhiên ra đi nhanh như khuất bóng chiều, tôi lại mừng đến xúc động và ước chi mình cũng sẽ ra đi nhanh và nhẹ như giấc ngủ qua đêm. Thì ra, cái “nỗi niềm canh cánh” của đời người cũng đổi thay theo thời gian qua những chặng đường đời.
(Xem: 1526)
Tấm vé World Cup đầu tiên / Mùa hè năm 2026, thế giới quay cuồng trong bầu không khí cuồng nhiệt của ngày hội bóng đá lớn nhất hành tinh. Giữa mùa náo nhiệt ấy, tôi cũng có được niềm vui thầm kín nhưng mãnh liệt: lần đầu tiên chính thức sở hữu hai tấm vé xem World Cup trực tiếp (một cho tôi, một cho người con ) .
(Xem: 1359)
Tôi không sống bằng nghề báo nhưng luôn dành cho nghề báo một sự yêu quý đặc biệt. Dù công việc chính là một nghề khác, thỉnh thoảng tôi vẫn cộng tác với một vài tờ báo, có bài được đăng và nhận nhuận bút. Vì thế, tôi có cơ hội quan sát báo chí từ một khoảng cách vừa đủ gần để thấy những giá trị đáng trân trọng, đồng thời cũng nhận ra không ít vấn đề tồn tại.
14 Tháng Bảy 202612:37 SA(Xem: 281)
Bích Lan sinh trưởng ở Đồng Nai, tính tình hiền lành và có ngoại hình dễ nhìn. Năm nay bốn mươi tuổi. Ở cái tuổi mà nhiều người phụ nữ đã có con vào đại học, cô trở về căn hộ của mình mỗi chiều với một chùm chìa khóa và sự im lặng. Từ ban công tầng mười sáu nhìn xuống, thành phố đêm nào cũng sáng rực. Xe cộ vẫn xuôi ngược, những ô cửa vẫn hắt ra ánh đèn vàng ấm áp. Chỉ có căn hộ của Lan, nhiều lúc rộng đến mức nghe rõ tiếng dép của chính mình trên nền gạch. Sự nghiệp làm ăn thì thuận tiện nhưng về đường tình duyên thì có phần lận đận.
08 Tháng Bảy 20267:19 CH(Xem: 1029)
LTS: "Khi anh đi không người đưa đón – Khi anh về tám chín người khiêng" là một truyện ngắn lay động về sự phản bội, sự trả giá và lòng vị tha. Không lên án gay gắt, nhà văn Hoàng Thị Bích Hà để chính số phận nhân vật cất lên bài học về nhân quả và giá trị của nghĩa tình tào khang. TCHL
27 Tháng Sáu 20269:11 SA(Xem: 1597)
Tôi về căn nhà xây xong bỏ trống chưa bán được vì Covit 19 của ông con, căn nhà trống trơn không nước nóng đi vội tôi không mang theo bất cứ thứ gì ngoài vài gói mì gói, không muỗng nĩa, không khăn tắm tôi đi như người Tị nạn chạy trối chết ra khỏi nhà với vết răng cắn trên tay, một vết cắn nhá lửa của hiền thê nhớ đời, bắt đầu viết về Exodus của dân Do thái Việt Nam gia đình tôi lủng cũng vì chuyện viết lách của tôi, khi bà xã phát giác ra cái quá khứ lẫy lừng gái gú của tôi bà không vui nói tôi chỉ sống mộng mơ với quá khứ không biết sống với hiện tại và quý những gì mình đang có, một trận cãi nhau kịch liệt vợ hiền nổi giận biến thành bà La sát xuất chiêu cho tôi một vết cắn...
26 Tháng Sáu 20264:21 CH(Xem: 1529)
Âm bản & Dương bản (Négatif & Positif) – khái niệm có gốc từ điện ảnh phim nhựa, còn gọi là phim điện ảnh hoặc phim chiếu rạp, liên quan đến quy trình sản xuất phim có từ buổi sơ sinh của Nghệ thuật Thứ Bảy - Nàng Tiên Út từ cuối thế kỷ XIX (hiện phim nhựa và các loại máy quay máy chiếu phim nhựa đã được đưa vào các Bảo tàng Điện ảnh), cái quy trình mà nếu ai đó muốn tìm hiểu trên Google sẽ không bao giờ có được thông tin đầy đủ… Nhưng, cuốn sách này không đi sâu vào công nghệ Điện ảnh, chỉ mượn khái niệm Âm bản & Dương bản như một cánh cửa ban đầu, một ký hiệu nghệ thuật nhỏ để phác họa hành trình tinh thần của tác giả, cùng đôi ba lát cắt tự sự về nghề qua đó hé lộ giúp người đọc đôi chút về đời sống của những người làm phim Việt qua mấy thế hệ, ở xứ sở Lắm người nhiều ma …
11 Tháng Bảy 2026(Xem: 486)
Di sản ngàn đời của ông cha để lại mà mình không biết đến, không biết quý, thì đó là một điều đáng để cho chúng ta phải suy nghĩ! Cuộc triển lãm Vietnamese Ceramic: A Separate Tradition (Tạm dịch là Đồ Gốm Việt Nam: Một Truyền Thống Riêng Biệt), của viện bảo tàng Seattle Art Museum được trưng bày trong từ những năm qua, vẫn còn để lại một số đồ cổ Việt Nam tiêu biểu. Tôi đã tham dự để giúp một số việc chuyển ngữ và một vài vấn đề tổ chức liên quan đến cộng đồng. Chính trong dịp này, tôi có cơ hội tìm hiểu thêm về các viện bảo tàng và nhất là có dịp nghiên cứu về đồ gốm Việt Nam mà trong bao nhiêu thế kỷ qua đã bị chính người Việt đặt vào một địa vị quá thấp kém, khiến ít người ngó ngàng đến.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3140)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3062)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 3571)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 2188)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13949)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 30076)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 36148)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 11639)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 13095)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2899)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 4103)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 4052)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 4581)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 5100)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 8333)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7731)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10658)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.