- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

VẤN

23 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 104842)

 


songthao_1-content

 Song Thao_ Photo: Võ Văn Thạnh 10/2005


Bt chước nhà văn Song Thao, tôi dùng vỏn vẹn chỉ một chữ, làm tựa đề cho cuộc trao đồi này. Nhà văn Song Thao cư ngụ cùng thành phố với tôi, mặc dầu chẳng “cách hai đoạn đường dài”, mặc dù không “cách nhau một dậu mồng tơi”… nhưng gạt bỏ vấn đề địa hình nhiêu khê nọ, chúng tôi luôn gần kề trong gang tấc, bởi giản dị, chúng tôi cùng táy máy “vọc chữ” dưới ngôi nhà chung: Văn chương. Lần chuyện trò này, hình thành do hai điều: Thứ nhất, những người bạn phương xa của tôi vẫn thường dọ hỏi: Song Thao là ai? Thứ hai, cách đây mấy hôm, nhà văn chung “phường khóm” với tôi đã vừa in xong cuốn Phiếm số 9. Để câu chuyện đi gần với tinh thần “vui thôi mà” của cố thi sĩ Bùi Giáng, tôi tránh hỏi tới những vấn đề nặng nề, nghiêm trọng của tình hình đất nước. Hy vọng những người từng tủm tỉm cười khi đọc Phiếm, sẽ hay biết đôi điều về tác giả, vốn kín tiếng nhưng rất sung (hiểu ở nghĩa viết mạnh).

 Hồ Đình Nghiêm

Hồ Đình Nghiêm (HĐN): Thưa anh Song Thao, do đâu, nguyên cớ nào anh vẫn thủy chung khi đặt tựa đề. Cô độc chỉ một chữ, không hai, chẳng ba… Nó trần trụi, nó đứng lẻ loi, nó lẻ bạn, nó mình ên. Tuồng như nó… lạnh?

 

Song Thao (ST): Nhà văn có khác, cảm được cái lạnh của chữ. Chữ có lạnh thật không, cũng dám lắm. Nhưng những cái tựa đứng vững chãi một mình của Phiếm là thứ nhà nòi. Hiên ngang chứ không cô đơn, lẻ bạn hay mình ên. Khi đặt cái tựa một chữ cho Phiếm, tôi thấy như mình cho chữ nghĩa một sức mạnh, như một cơn gió quất, một ngọn sóng thần. Nói nghe ghê gớm vậy chứ việc đặt những cái tựa...vạm vỡ như vậy là một sự tình cờ. Khởi đầu, tựa của Phiếm cũng khi ba chữ, khi hai chữ, khi một chữ. Sau thấy những cái tựa một chữ nghe có vẻ dứt khoát, hiên ngang hơn nên quen tay cứ một chữ mà chơi. Riết rồi bạn bè, độc giả khi gặp hỏi một cách thích thú: vẫn một chữ chứ? Thấy việc đặt những cái tít một chữ vô hình trung thành một dấu ấn của những bài Phiếm. Vậy là chơi luôn! Ngờ đâu lại có người thấy nó lạnh! Chắc người lạnh mới cảm thấy chữ lạnh chăng?

 

HĐN: Hầu như mỗi tuần, anh đều “đẻ” ra một câu chuyện phiếm. Anh có bí quyết nào về “sự cố” mắn đẻ kiểu ấy? Và chắc là anh sẽ quyết không nghỉ hưu. Ý tôi muốn hỏi theo “tinh thần phiếm”: Anh chẳng kế hoạch hóa, chẳng đi cột?

 

ST: Anh đừng xúi dại tôi chứ. Cột làm chi! Con cái ngày nay nhiều đứa rất có hiếu, cũng biết an ủi, mang niềm vui lại cho bố mẹ. Mấy đứa con Phiếm của tôi lại được nhiều người thương, chắc chúng cũng có chút duyên nào đó. Đẻ con ra mà được khen, nở lỗ mũi là cái chắc. Nở lâu nên mũi quen hơi, xẹp xuống không được nữa. Thực ra cái tội mắn của tôi là lỗi của mấy ông Chủ bút hay Tổng thư ký của các báo. Họ là những người mẫn cán nên làm công việc thúc vào bàn tọa các người viết một cách chăm chỉ. Thế là cứ sòn sòn tuần một. Một năm có 52 tuần, hai năm có 104 tuần, ba năm có 156 tuần... Thế mà tôi đùa với Phiếm đã được bảy năm có lẻ rồi. Biết bao nhiêu là sinh linh đã ra đời. Để chúng lê la la liệt cũng tội nên xây nhà cho chúng ở. Năm một căn, năm hai căn, giờ đã tới căn thứ 9 rồi. Biết đến bao giờ thì hưu? Người ta thường bảo vạch đầu gối ra cắt vẫn còn thấy máu thì vẫn còn có đường ngon lành!

 

HĐN: Một tuần có bảy (hay tám) ngày? Một tuần với linh tinh đủ công chuyện phải thanh thỏa, mất bao lâu thời gian (giờ thứ 25) để anh “trả nợ” cái gọi là Phiếm?

 

ST: Hình như sống với Phiếm đã thành quán tính của tôi. Từ hồi nào không biết. Ăn ở với người tình có ai đếm thời gian. Nó miên man bất tận đến không cảm thấy thời gian nữa. Anh bắt tôi đếm, làm khó nhau vừa thôi chứ!

 

HĐN: Tôi dùng chữ trả nợ, anh có cho là quá đáng? Viết văn, xem như thú tiêu khiển của anh, hay do một thôi thúc nào khác?

 

ST: Viết, dù viết gì chăng nữa, bao giờ cũng là thú tiêu khiển. Chắc anh cũng viết văn nên cũng cảm thấy như tôi, mỗi lần đặt cái chấm hết dưới một bài viết, thú vô cùng. Như gửi được chút tâm tình của mình ra cho người đồng điệu. Tâm hồn gặp tâm hồn, khoái cách chi đâu! Mà tâm hồn là thứ động đậy hàng giờ hàng phút, nó quậy vô cùng, cách chi mà giữ được nó trong lòng mình. Chữ “trả nợ” xem chừng có vẻ đời thường quá. Tôi dùng hình ảnh một người có tính thích chia sẻ, gọi là khoe...của cũng được, khi khoe được thì khoái xiết bao. Đó có phải là sự thôi thúc không?

 

HĐN: Dạo này tôi ít được đọc truyện ngắn của anh. Giữa hai món, truyện ngắn và phiếm, cái nào dễ ăn hơn? Mặc dầu cả hai đều phải “cõng” trên lưng chữ một thông điệp nào đó.

 

ST: Viết là một cách thế biểu tỏ. Viết cái chi cũng vậy. Nếu không đặt tất cả tấm lòng mình vào thì mình chỉ là một thứ...thợ. Chán chết! Vậy thì viết truyện hay viết phiếm đều cần có tấm lòng với chữ nghĩa. Viết truyện là trải lòng mình ra, viết phiếm là bày tỏ cõi lòng với người đọc. Viết phiếm như vậy có vẻ...cộng đồng hơn. Hai bên, người viết và người đọc, dễ thông cảm với nhau hơn. Từ khi mặn nồng với phiếm, tôi nhận được nhiều phản hồi của người đọc hơn, bằng gặp gỡ, thư từ, e-mail hay điện thoại. Có lẽ nhận được tiếng vỗ tay mau chóng và ồn ào hơn nên tôi cặm cụi với phiếm. Kể cũng bậy thật. Nhưng biết làm sao hơn khi cái tay viết truyện bỗng rời rã, gần như buông xuôi, không còn chi để chia sẻ thì biết tỏ bầy cái chi! Không biết sự tình đó có thể gọi là ngay thẳng với mình không!

 

HĐN: Có lần, nhà văn Võ Kỳ Điền nói, gần như than: “Bây giờ tôi ráp hai múi dây lại cũng chẳng xẹt ra được chút lửa, sao trong người anh Song Thao chứa đựng được một bình điện bất tận đến dường ấy!” Sẵn đây, anh có thể chia sẻ, bộc lộ ít nhiều nhằm “xoa dịu nỗi đau” của anh Võ Kỳ Điền?

 

ST: Có hai điều tôi nghĩ tới khi được anh hỏi câu này. Thứ nhất: hầu như là một...chân lý, cái chi xài hoài thì tốt hoài, như một thói quen vậy. Tôi không hiểu anh nhà văn họ Võ có dấu kín bình điện ở xó xỉnh nào nên nó bị sét không xẹt nữa chăng? Thứ hai: có thể anh Võ Kỳ Điền không nói ra nhưng, có nơi có lúc, anh xài bình quá lố đến bây giờ bình teng beng ra hết xài! Về tôi, xin đảo ngược lại.

 

HĐN: Nhà thơ Luân Hoán cũng thuộc loại thường dân may mắn được nằm kề nhà máy điện, điều đó chúng ta đều biết. Nhà văn Song Thao có làm thơ? Đại loại kiểu như ông Bảo Sinh ở Hà Nội: “Mặt buồn vợ hỏi giận ai? Vui tươi vợ bảo có bồ rồi sao!”/ “Muốn cho trộm chẳng đến nhà, đề vào trước cửa: đây là nhà thơ”/ “Vợ là cơm nguội nhà ta, lại là phở tái thằng cha láng giềng”… Rất phiếm.

 

ST: Thơ là một thứ kiệm chữ. Viết ít hiểu nhiều. Viết ít thì báo bổ không ưa. Vậy thì tội chi mà thơ với thẩn cho mất thời giờ. Nói cho vui vậy thôi, thơ là tinh lọc chữ nghĩa, tôi không dám lân la tới. Tôi có một điều dại là chơi với ông Luân Hoán. Ông này thì ngồi đâu cũng ra thơ. Đi đâu ông ấy cũng kè kè ba thứ trong người: cây viết, tờ giấy và cái máy hình. Vậy là ra thơ. Thơ ông post hàng ngày trên website của ông ấy luôn luôn có kèm theo hình. Và có cả...thời tiết nữa! Có lẽ vì thơ ông ấy cũng nắng mưa như đất trời. Có thể nói mưa ra sao thơ ông Luân Hoán cũng ra như vậy. Chơi với một con người đẫm thơ như vậy, thỉnh thoảng tôi cũng được ông ấy rủ làm thơ. Thường thì tôi lơ đi, nhưng có khi, chắc đúng khi nàng thơ đang hái hoa bên nhà tôi, tôi cũng lăng nhăng dăm ba câu. Cũng khoái lắm, nhưng khi bình tĩnh đọc lại, thấy thơ của mình chuyển thành vè. Vậy là chừa cái tính cả nghe bạn xúi.

 

HĐN: Ở bài “Chữ”, anh viết: “Ngẫm ra thì đúng là một trò chơi. Ngẫm vào thì trò chơi này quả là mệt… Chắc vì vậy nên chẳng có mấy nhà văn nhà thơ có được một bộ vó đầy đặn!” Tôi hồ nghi về điều này. Anh có thể cho độc giả biết về bộ vó của anh?

 

ST: Bộ vó của tôi thì anh lạ chi. Gồm đầu mình và chân tay. Được cái cũng cân cái. Đi đứng cũng vững vàng. Chưa chống gậy dù vẫn có gậy gộc còn có thể chống được. Tôi mới đọc một bài viết của nhà báo Nguyễn Khắc Mẫn ở trong nước viết về nhà văn Sơn Nam. Khi Sơn Nam phải vào bệnh viện vì một tai nạn lưu thông, thấy bộ vó của ông nhà văn, một người bạn hỏi ông cân nặng được bao nhiêu ký. Sơn Nam nói khoảng ngoài bốn chục chi đó. Một người đi nuôi bệnh nhân nằm bên cạnh nghe thấy vậy, ngứa miệng chọc vô: “Bác làm gì được bốn chục cân. Chỉ 37 cân là cùng!”. Nhà văn của chúng ta cười hóm hỉnh: “Ừ thì tự trấn an mình một chút có sao đâu. Hồi nào tới giờ có cân đâu mà biết!”. Tôi mặn câu chót của Sơn Nam.

 

HĐN: Vậy là anh đã trình làng tới cuốn Phiếm số 9. Điều ấy chứng tỏ có đông độc giả. Sách anh tiêu thụ có nhanh không? Và hiện tại, anh có nhận định nào về tình trạng gần như ngắc ngoải của dòng văn học hải ngoại?

 

ST: Có thể nói những cuốn Phiếm thuộc loại dễ tiêu thụ. Các nhà sách đều ưu ái đón nhận, độc giả mua sách thẳng nơi tôi bằng Bưu Điện cũng khá. Nhưng có một điều phải nhận là so với cuốn Phiếm1 do nhà Văn Mới xuất bản vào năm 2005 bán hết ngay và nhà Nhân Ảnh đã tái bản hai lần đều bán hết thì tới cuốn Phiếm 9 tình trạng rất “nửa đường đi xuống”! Rất ầu ơ ví dầu! Sự đi xuống này như xuống một con dốc thoai thoải, càng ngày càng xuống sâu hơn. Tôi mới viết một bài về sách trong đó tôi nghĩ là sự đi xuống này có hai nguyên nhân: lớp độc giả càng ngày càng già, lớp về với ông bà, lớp mắt kém, thận suy không đọc được sách nữa. Nguyên nhân thứ hai là vì cái có thể gọi là cuộc cách mạng về kỹ thuật. E-book đang dần dần thay thế sách in. Hậu quả là không chỉ có sách báo tiếng Việt tại hải ngoại bị ảnh hưởng mà sách báo tiếng Anh tiếng Pháp chi cũng lãnh đủ. Cứ xem sự thu hẹp hay chết ngắc của các tờ báo và tạp chí cổ thụ có hàng mấy trăm năm tuổi thì biết. Sách tiếng Việt bị chơi cú đúp như vậy, đìu hiu là lẽ dĩ nhiên. Các tạp chí văn học của chúng ta như Văn, Văn Học, Thế Kỷ 21 đều đã mồ yên mả đẹp. Sách xuất bản chẳng còn bao mà tiêu thụ cũng vào loại ngắc ngoải. Bước đi của kỹ thuật nó như vậy, lấy chi mà cản được nó. Chỉ biết ngậm ngùi. Mà ngậm ngùi, theo nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc, “thường rất yếu ớt và hoàn toàn bất lực”.

 

HĐN: Internet có nhiều lợi điểm, đằng khác, tôi ngờ là chính nó đã góp phần tước đoạt số đông, những người ưa đọc văn bản được in ấn thành sách. Anh có đồng quan điểm ấy không? Những nhà sách lần hồi thưa thớt khách lai vãng là một bằng chứng.

 

ST: Internet là thủ phạm của sự đìu hiu của sách vở. Điều đó là cái chắc, còn ngờ chi nữa. Cứ ngẫm lại mà coi. Phần lớn chúng ta vẫn cảm thấy thích thú hơn khi đọc những trang sách in cầm trong tay. Cầm một cuốn sách mới, ngắm nghía bằng mắt, sờ bằng tay, ngửi mùi giấy bằng mũi, chỉ thiếu chuyện...ăn sách, thấy thú vị hơn nhiều là đọc trên internet hay trên cái máy e-Reader vô hồn nhiều chứ. Nhưng sự thể đã tới chỗ đó thì chúng ta phải theo thôi. Có than van cũng chỉ là để vơi đi nỗi sầu muộn trong lòng. Tôi mới đọc được bài “Chuyện Sách” của nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc, trên internet. Ông cho biết ông đã mua một cái Kindle, một cái máy chuyên đọc sách điện tử. Lúc đầu đọc cũng hơi khó chịu, riết thành quen, thấy đọc sách điện tử trên màn ảnh cũng không khác chi đọc trên sách in. Ngay cả thơ là thứ cần đọc một cách cẩn trọng hơn, ông Quốc cũng đọc trên màn hình của máy và “cũng thấy được chữ trôi và thở, cũng nghe được hơi ấm từ chúng, y như trên trang giấy”. Nhà phê bình họ Nguyễn làm tôi đau nhói: đến một người thường xuyên chơi với chữ nghĩa mà cũng không thấy cái lạnh tanh của máy, thật hết ý! Ông Nguyễn Hưng Quốc còn trẻ, tôi...nhiều tuổi hơn, chưa cảm được như ông Quốc, còn nhà văn “trẻ” Hồ Đình Nghiêm thì sao?

 

 

HĐN: Một anh bạn vừa từ Huế sang đây thăm con có kể câu chuyện khá thú vị, tôi xin được tóm tắt: “Xóm anh ở có người đàn bà mang phải chứng bệnh nan y, sang bệnh viện trung ương, thảy các bác sĩ đều lắc đầu, ước đoán kéo dài tuổi thọ chừng hai tháng là cùng. Gặp khuôn mặt “buồn nhiều hơn vui” của bà ấy, anh đề nghị, đằng nào chị cũng thác, còn nước còn tát, cứ thử nấu nước sả uống xem.- Được, tôi sẽ nghe lời anh, nhưng phương thuốc ấy đáng tin không? Nó xuất phát từ nguồn thông tin nào? Ậy, từ Canada mà chị, tôi đọc sách Phiếm của ông Song Thao đàng hoàng. Kết quả, gần cả năm trời rồi mà người đàn bà ở trong xóm vẫn kiên cường hổng chịu đi gặp Các-mác mí lị Lê-nin!”. Qua câu chuyện trên, tôi nhặt ra được hai điều: Thứ nhất, cuốn Phiếm nào đó của anh đã đi xa, về tới Việt-nam và thuyết phục được người đọc, dẫu ngộ nhận. Thứ hai, đôi lúc chữ nghĩa cũng có thể cứu được, ít nhất một người. Anh có điều gì tâm sự, để nói thêm về trường hợp ngoại lệ vừa kể? Cho tôi đùa chút nhé: Giả như người đàn bà ấy mất trước hạn kỳ hai tháng, vô tình anh trở thành một ông… lang băm!

 

ST: Phiếm không phải là “cẩm nang y học”. Nếu nó chữa được bệnh thì đó là...ý trời. Ngoài sự mong chờ của tác giả. Một trong những kết quả của y khoa là lòng tin vào thuốc. Người ta đã thí nghiệm nhiều bằng giả dược. Trường hợp cứu nhân độ thế ngoài ý muốn này của Phiếm mang lại cho tôi được hai niềm vui. Thứ nhất: những đứa con của tôi có đứa đã bay về được tới quê hương. Tôi nhớ là chưa bao giờ cho chúng tiền máy bay về Việt Nam cả! Thứ hai: Phiếm đã được lòng tin của độc giả. Cái thứ có người cho là ba láp vớ vẩn mà được như vậy quả là... trên cả tuyệt vời!

 

HĐN: Một người bạn tôi (phái nữ) ở bên Mỹ có viết trong email: “Bây giờ khi chọn bạn tình, quý vị nữ lưu phương Tây đều đặt nặng vấn đề tới đầu óc khôi hài. Anh nào đẹp trai con nhà giàu học giỏi mà thiếu yếu tố biết chọc cười đối tượng, mấy nường đều xem như “nơ-pa”. Đọc văn anh Song Thao, đoán anh ấy chắc là người luôn dzui dzẻ? Tiếp cận được một người như vậy, hẳn mình sẽ yêu cái đời sống vốn nhạt nhẽo này…” Tôi tin lời cô bạn ấy nói. Tôi cũng luôn tin là đời sống anh cùng gia đình luôn an vui, hoan lạc tiếng cười. Có khi nào nhà văn Song Thao gặp “sự cố” hơi bị buồn não nề không?

 

ST: Sống mà không buồn thì đâu có ra người! Tôi không lạc quan tếu nhưng tôi tin đời, yêu người. Cuộc sống có là chi mà phải rầu rĩ vì nó. Cứ coi tai nạn sóng thần và động đất vừa xảy ra ở Nhật Bổn thì biết. Cha mẹ, vợ con, dòng họ, nhà cửa, du thuyền, xe hơi, máy móc tưởng là những thứ ta có thể tin cậy bám víu để tạo nên một cuộc sống tiện nghi và an bình. Ngay cả cuộc sống quý giá của chục ngàn con người mà chắc chắn trong đó có nhiều trẻ em và người trẻ, những người không chờ một kết thúc vội vã và bất thần. Vậy mà chỉ trong chớp mắt, có đó, mất đó. Thế giới bàng hoàng với những mất mát lớn lao nhưng họ bàng hoàng hơn với tư cách của tất cả nạn nhân người Nhật. Họ vẫn giữ nhân cách, quan tâm và chú ý tới người bên cạnh, không chen lấn hỗn độn khi xếp hàng nhận những dịch vụ cứu trợ, vẫn bình tĩnh nhường cho trẻ em, phụ nữ và người già quyền ưu tiên, và không có một vụ cướp giật, phạm pháp nào, điều đã xảy ra ngay tại Mỹ trước đây khi trận bão Katrina tàn phá Florida vào năm 2005. Cái chất NGƯỜI đó (tôi phải viết hoa chữ NGƯỜI) mới đáng trân trọng.

 

HĐN: Một tuần có sáu ngày, hay bảy? Tôi biết anh rất lu bu, quấy rầy anh như vậy cũng tạm đủ. Xin thay mặt những người đọc Phiếm thầm lặng ở phương xa, cám ơn nhà văn Song Thao đã vui lòng chia sẻ, đã làm ổn những câu hỏi cắc cớ này. Mong được hầu chuyện cùng anh sau khi anh lại in xong một tác phẩm khác. Trong khi chờ đợi, thân chúc anh luôn được sức khoẻ và… sung như đã từng. Anh có cả thảy bao nhiêu đứa con?

 

ST: Tới nay tôi có tất cả 17 đứa con bằng giấy. Không biết có nên kể thêm 4 đứa bằng xương bằng thịt không? Bốn đứa con này đang làm tính nhân, nhân thêm cho tôi một số cháu. Còn 17 đứa con bằng giấy đã mang đến cho tôi vô số bạn mới và rất nhiều những tâm hồn đồng điệu. Tôi cho đó là những lời lãi đích thực. Tôi trân quý những cái được này của tôi.

Cám ơn nhà văn Hồ Đình Nghiêm đã cho tôi cơ hội xả xú bắp rất quý hóa. Cám ơn bạn đọc đã bỏ thời giờ theo dõi cuộc nói chuyện giữa anh em chúng tôi.

 

 

Hồ Đình Nghiêm thực hiện,

Tháng 3/2011.

phiem_9


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 940)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 725)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1485)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1585)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 1348)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 1226)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3377)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 2140)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3168)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2652)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9943)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16781)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15767)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16207)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1585)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3377)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3168)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 3123)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 1348)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5304)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 7317)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6664)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 940)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 725)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1485)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2652)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2422)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2265)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2508)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2493)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 1226)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13620)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29724)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35749)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10862)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12700)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2140)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 3168)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3337)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3623)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 4170)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7859)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7170)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 10009)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.