- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Trang Nhà

Khí tiết Hoàng Diệu và những bài sử ca về Hà thành thất thủ

19 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 116688)
hoangdieu_2mHoàng Diệu tự là Quang Viễn, hiệu là Tĩnh Trai, xuất thân trong một gia đình nho học ở xã Xuân Đài, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam. Thuở nhỏ ông rất thông minh, có tài văn học, đỗ Cử nhân năm 20 tuổi (1848), đỗ Phó bảng năm 25 tuổi (1853). Lúc đầu ông được bổ làm Tri phủ Tuy Phước, rồi Tri phủ Tuy Viễn (Bình Định). Do nhầm lẫn trong tra xét tội phạm, ông bị giáng chức và chuyển về làm việc ở huyện Hương Trà (Thừa Thiên). Sau đó, ông được phục chức, đổi làm Tri phủ huyện Đa Phúc (Phúc Yên), rồi thăng án sát tỉnh Nam Định, Bố chính tỉnh Bắc Ninh. Năm 1873 ông được thăng chức Tham tri bộ Hình, rồi Tham tri bộ Lại kiêm Đô sát viện, sung Cơ mật đại thần. Năm 1878 ông lại được thăng Tổng đốc An Tĩnh (Nghệ An – Hà Tĩnh). Cũng năm này, ông còn được cử làm Phó toàn quyền của Việt Nam đàm phán với Tây Ban Nha về việc thương mại của Tây Ban Nha ở Việt Nam. Năm 1879 ông làm Thượng thư bộ Binh. Năm 1880 được bổ làm Tổng đốc Hà Ninh (Hà Nội - Ninh Bình). Chính sự kiện này đã đưa ông trở thành nhân vật lịch sử sáng chói, là người tử tiết khi Hà thành thất thủ lần thứ hai (1882) bên cạnh Nguyễn Tri Phương, người đã tử tiết cùng thành Hà Nội thất thủ lần thứ nhất (1873).

Phẩm chất và khí tiết của Hoàng Diệu tiêu biểu cho tinh thần và khí phách của người Hà Nội nói riêng, của người Việt Nam nói chung, trong thời kỳ lịch sử đau thương và anh dũng khi phải đương đầu với lực lượng ngoại xâm phương Tây hùng mạnh. Ông trở thành một gương mặt tiêu biểu của văn hóa và văn học Thăng Long cuối thế kỷ XIX.

Một thời đại vinh quang và cay đắng. Thời đại của những anh hùng chiến bại. Thời đại của những người anh hùng phong kiến và nông dân, chống gươm gục ngã dưới làn đạn đại bác của bọn Tây dương, chết mà còn uất hận vì bất lực, vì ngỡ ngàng và thất vọng, chết vì lòng trung muôn thuở của lớp nhà nho ôm chí “tang bồng hồ thỉ” không thành. Chết tuy biết vì sao mình chết, do đâu mình chết mà không làm gì được. Chết một lần dưới làn đạn Tây dương. Chết thêm một lần về tinh thần bởi lòng trung bị khủng hoảng, bị phản bội, ấy là thời đại của những con người như Hoàng Diệu, ấy là những anh hùng cứu nước như Hoàng Diệu.

Hãy nghe lời ai oán của Hoàng Diệu, trong bài Di biểu, viết ngày 25 tháng Tư năm 1882, ngày đau thương của toàn dân Hà Nội nói riêng, của toàn dân tộc nói chung, ngày Hà thành thất thủ. Ông căm thù giặc Pháp. Ông oán trách triều đình nhu nhược, đớn hèn. Nhưng đến khi chết, ông vẫn mong những kẻ nhu nhược đớn hèn ấy, cả đấng chí tôn của ông, hiểu ông, cảm thông với ông, thâu nhận ông:

“Mấy dòng lệ máu, muôn dặm cửa trời, chỉ mong rực rỡ đôi vầng, xét thấu tấc gang là đủ”. Chỉ thế thôi. Ít ỏi, nhưng là tất cả, với một thần dân, một “bậc đại phu giữ bờ cõi”, về cái chữ “trung” cay nghiệt trói buộc con người ta. Và như thế, cũng đủ thấy ông trống trải, hoang mang, tuyệt vọng đến mức nào. Thất vọng vì vua, mà cũng hy vọng vào vua. Thật là mâu thuẫn.

Ông chết vì trung với vua chăng? Vì ông cố làm một tôi trung như bao tấm gương trung thần nghĩa sĩ trong sử sách ghi lại chăng? Câu chữ, giọng điệu của bài Di biểu có vẻ là như vậy. Mà lại có vẻ không là như vậy.

Ông không phủ nhận lòng ông vì vua. Mà ông cũng không giấu giếm rằng ông không theo ý vua. Có cái trắc trở ở ông nơi chọn câu, chọn chữ để nói cho hợp với khẩu khí nhà nho, khẩu khí kẻ trượng phu của một nước có vua hẳn hoi. Mà vẫn không nén được phải nói trắng ra những hậm hực, cay đắng của lòng mình, một con người phải sống và hành động theo trái tim mình, theo lý tưởng của mình, chứ không phải bị câu thúc bởi một thứ nhãn hiệu hình thức nào khác.

Có trăn trở, đó là cái trăn trở để tìm cách nói cho hợp khẩu khí nhà nho. Còn trong lòng ông đã sẵn một sự quyết định dứt khoát và rành mạch con đường hành động. Tuy nhiên, đó đâu phải là những quyết định dễ dàng. Đó là cả một cuộc đấu tranh, dằn vặt, căng thẳng trong mỗi con người mang tiếng kẻ sĩ thời này. Đó là sự rời bỏ những mệnh đề luân lý sơ cứng, hơn thế, những mệnh đề sống quan trọng nhất, mà cũng máy móc nữa, của con người được gói gọn trong mấy chữ của nho gia về lẽ cương thường.

Hoàng Diệu ở trong hoàn cảnh ấy - hoàn cảnh mà người ta không thể máy móc thực hiện mọi điều tiên thánh, tiên nho dạy. Trong một hoàn cảnh lịch sử hết sức cay nghiệt này, có khi người ta phải lựa chọn một trong hai con đường, mà sự lựa chọn nào cũng dường như là quá sức, hoặc là trở thành kẻ ngu trung, theo vua, hàng giặc; hoặc là trở thành người chống giặc, cứu nước, nhưng lại cam chịu tiếng nghịch thần.

Đã đành là kẻ sĩ thì phải luôn tâm niệm:

Hễ làm người chớ ở hai lòng; đã vì nước phải theo một phía 

Trước làm nghĩa, sau cũng làm nghĩa, trước sau cho trọn nghĩa vua tôi.

 (Hịch kêu gọi nghĩa binh đánh Tây)

Điều đó thật dễ dàng trong thời có những đấng “minh quân”, trong buổi thịnh trị, khi mà vua tôi trên dưới một lòng. Nhưng điều đó thật khó đối với kẻ sĩ Việt Nam ở cuối thế kỷ XIX, khi mà ông vua, dù muốn dù không, dù lý do này hay lý do khác, ít nhiều đã tách khỏi dân, khỏi nước, thì kẻ sĩ chân chính cũng khó có thể tuân theo.

Không phải ngẫu nhiên mà ở thời kỳ này, câu nói của Khổng Tử: “Kiến nghĩa bất vi vô dũng dã” (Thấy việc nghĩa không làm không phải là người dũng vậy) lại được đề cao một cách nhiệt liệt đến thế. Hầu như nhà nho yêu nước nào cũng nói tới nó. Hầu như sĩ phu, dũng sĩ nào cũng nói tới nó. Nó là nguyên tắc sống cao nhất của mọi người, kể cả người có học và kẻ quê mùa. Hơn nữa, đó cũng chính là chỗ dựa tinh thần của những con người vốn là sản phẩm của tư tưởng Nho giáo, của thời đại Nho giáo đã cuối mùa, đã mất hết sức sống trên phạm vị thế giới. Nhưng họ là Nho sĩ, mà là Nho sĩ thì không thể làm việc gì mà không có danh nghĩa. Mà lại phải là danh nghĩa chính đáng, “danh chính ngôn thuận”. Cái danh chính ấy là chữ “Nghĩa” của tiên thánh tiên Nho, vì đó là lời tiên thánh tiên Nho. Nó trở thành triết lý sống, là cứu cánh tinh thần của kẻ sĩ trong thời loạn.

Bởi vậy, đây là thời đại của những người anh hùng vì nghĩa mà hành động, vì nghĩa mà trung hay bất trung với vua, vì nghĩa cũng là vì dân, vì nước. Và vì nghĩa mà cái tiếng “bất trung” lại như được cảm thông, chia sẻ, thậm chí được chiêu tuyết. Bởi thế mới có một Trương Định: “Theo bụng dân phải chịu tiếng quân phù, gánh vác một vai khổn ngoại” (Nguyễn Đình Chiểu); một Nguyễn Duy Cung: “Thà làm ma có hồn trung vía nghĩa”; một Nguyễn Cao: “Thà chết đi cùng trời đất đi về”; một Hồ Huân Nghiệp: “Việc nghĩa phải làm, không kể đến thành bại”... Vì nghĩa chứ không phải vì cái gì khác mà những kẻ sĩ, những anh hùng thời đại này đã xông lên và ngã xuống dưới làn đạn của bọn Phú Lãng Sa xâm lược, và dưới cả búa rìu tinh thần của triều đình phong kiến nhu nhược, đớn hèn. Họ ngã xuống cho sự sống của cả dân tộc.

Biết bao tấm gương anh hùng hy sinh vì nghĩa đã làm sáng dậy một thời kỳ đen tối, mà trong đó, Hoàng Diệu rực rỡ như biểu tượng của tinh thần chiến đấu chống Pháp của cả thời đại. Tên tuổi Hoàng Diệu gắn liền với Hà Nội, với đất nước, trong cuộc chiến đấu sinh tử bảo vệ mảnh đất thiêng liêng này của dân tộc. Tấm gương Hoàng Diệu hy sinh vì nước đã khích lệ lớp lớp anh hùng đứng lên chống Pháp. Ngày 25 tháng Tư năm 1882 là ngày “quỷ khốc, thần sầu” trên thành Hà Nội, và cũng chính là ngày người anh hùng Hoàng Diệu biểu hiện rực rỡ tinh thần và khí phách quyết chiến của mình trước một đội quân xâm lược tàn ác và một triều đình run sợ.

Chỉ còn lại một bài Di biểu của Hoàng Diệu ghi lại vội vàng những nỗi niềm đau đớn của ông trước giờ tự tận, khi giặc phá được thành. Trong đó chất chứa bao hờn căm với lũ giặc ngoại xâm, lời oán trách đến chảy máu triều đình nhu nhược, u mê, phơi bày một tấm lòng son sắt tuyệt vời với dân với nước. Con người ông cứ tự hiện lên, rờ rỡ, lớn lao trên từng chữ, từng câu, thống thiết và cay đắng:

“Tôi từ khi vâng mệnh ra đây, đã được ba năm, thường huấn luyện quân sĩ, sửa sang thành trì, không những chỉ để củng cố đất ta, mà còn để ngăn chặn loài lang sói nữa. Ngờ đâu chim còn đang ràng tổ, thú đã vội thay lòng, ngày tháng Hai năm nay bỗng thấy tàu Tây tụ tập, dồn quân thêm nhiều, quân nó từ xa đến, lòng dân ta xôn xao. Tôi thiết nghĩ Hà Nội là cổ họng của miền Bắc, mà là đất trọng yếu của nước nhà, nên một khi mà sụp đổ, thì các tỉnh khác cũng tan rã theo, vì thế tôi lấy làm lo sợ, một mặt kíp tư cho các hạt lân cận, một mặt báo tin lên triều đình, xin cho thêm quân để kịp đối phó”.

Một tinh thần chiến đấu chống xâm lược thật quyết liệt và mạnh mẽ. Thế nhưng nỗi niềm ghi lại trong Di biểu lại là nỗi đớn đau, không phải vì giặc mạnh nên ông chống giữ không nổi, mà là vì triều đình, vì đám quan tướng triều đình nhút nhát hèn đớn chịu khoanh tay trước giặc dữ:

“Không ngờ mấy lần có chiếu xuống, hoặc trách tôi nắm binh quyền mà lòe nạt, hoặc kết tội tôi là xử lý không được thích nghi, cúi đọc lời phán truyền, thực nghiêm khắc hơn rìu búa! Kẻ dưới quyền thất vọng, khôn tính bước tiến lui”.

Đặt trong bối cảnh này, có thể xem nhận xét của Trần Văn Giàu trong Lời giới thiệu bộ Hợp tuyển thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX(1) là thích hợp: “Mối nguy cơ chính của dân tộc là triều đình Huế”. Hoàn cảnh Hoàng Diệu cũng là hoàn cảnh chung của mọi sĩ phu yêu nước chống Pháp thời kỳ này. Người ta không sợ súng đạn giặc Pháp: “Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ đạn to, xô cửa xông vào liều mình như chẳng có” (Nguyễn Đình Chiểu). Mối lo là những búa rìu do triều đình giáng xuống làm ly tán lòng người, làm nhụt chí chiến đấu. Làm cho người ta hoang mang, không đồng lòng, đồng sức đánh giặc. Tác giả khuyết danh của bài thơ Mất thành Hà Nội đã viết về khí tiết lẫm liệt, về cái chết trong bất lực và oán giận của Hoàng Diệu với triều đình cùng đám quan lại sợ chết lúc bấy giờ:

Trái phá Tây chăm chực bắn vào,

Chỉ không cho đánh, biết làm sao?

Ngọn cờ tướng lệnh oai linh gượng,

Chén rượu Đông môn khảng khái phào.

Uất khí Nùng sơn cây muốn cựa,

Thương tâm Nhị thủy sóng tranh xao,

Rặng hoa Võ Miếu rơi thơm mãi,

Sống trộm ghê trông thẹn biết bao.

Trong một bài chiếu dụ văn thân, vua Tự Đức đã công khai dọa nạt, ngăn cấm các nghĩa binh và sĩ phu tham gia đánh Pháp. Ông ta nói: “Bàn hòa là người có công, bàn chiến là kẻ có tội, pháp luật thực là đúng đắn”. Vua ngăn dân đánh giặc! Vua khen kẻ “cầu hòa” là để... giữ nước!

Đã qua rồi cái thời “vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục, cả nước giúp sức” cùng kháng chiến, như xưa kia Trần Quốc Tuấn yêu cầu. Đã qua rồi cái thời quân tướng “hòa nước sông chén rượu ngọt ngào” như Nguyễn Trãi nếm trải. Đã qua rồi cái thời những ông vua - chiến sĩ khích lệ lòng tướng ở hội nghị Bình Than, khích lệ lòng dân ở hội nghị Diên Hồng dưới triều Trần... Một sự nhu nhược, đớn hèn ít nhiều có thể còn có sự o ép của thời cuộc. Vua thì thế, còn quan tướng của triều đình, như Hoàng Diệu thấy: “Quan võ thì sợ giặc chạy trốn từng đàn, quan văn nghe gió cũng chạy theo nốt”. Trước tình thế ấy, Hoàng Diệu không thể theo ý vua, không thể theo ý các quan trong triều được: “Hàng ngày bàn bạc với đôi ba người chức việc, có người bàn nên mở cổng cho chúng tự do ra vào; có người bàn nên rút hết quân đi, để chúng khỏi ngờ vực. Những kế đó dù tôi có phải thịt nát xương tan cũng không bao giờ nỡ làm”. Đó cũng là thái độ của các văn thân yêu nước đương thời đối với chiếu dụ của Tự Đức: “Thánh chỉ nói như thế, há không phải có ý quý âm rẻ dương, theo tà làm loạn chính đấy ư?” (Hịch văn thân Hà Nội gửi văn thân Nam Định).

Hoàng Diệu tự tận, vì biết sức kiệt thế cô, vì tỉnh ngộ một sự thật phũ phàng, đó là sự đầu hàng của triều đình Huế trước lũ giặc cướp nước. Ông nhìn thấy sự thất bại của sự nghiệp mình, cũng như những người đồng chí hướng với mình. Chỉ có cái chết mới giúp ông trốn khỏi nỗi tuyệt vọng của một người quá kiêu hãnh, quá hăng hái giúp đời, giúp nước. Cái chết sẽ giải thoát cho ông khỏi những ân hận và sự bất lực của người “sĩ quân tử” trong cơn dâu bể, biểu hiện một thái độ tuyệt đối “bất cộng đái thiên” với lũ giặc cướp nước: “Nơi trung thổ trở nên đất địch, sống thẹn cùng nhân sĩ Bắc Hà; lòng cô trung thề với thành Long, chết mong theo Nguyễn Tri Phương dưới đất” (Di biểu).

Hoàng Diệu mất. Giặc Pháp chiếm thành. Kể từ hôm ấy, ngày 25 tháng Tư năm 1882, đến hơn 60 năm sau, ngày 19 tháng Tám năm 1945, thành Hà Nội mới trở lại về tay người Việt Nam, sau bao hy sinh mất mát, bao máu và nước mắt. Giặc Pháp chiếm thành. Và từ đây, Hà Nội trở thành nơi tung hoành của những mụ Đội Chóp, những quan Tây, quan ta, những me Tây, những mụ đầm Tây...

Mảnh đất đế đô nghìn năm văn hiến bị giày xéo, thành nơi ăn chơi, hành lạc của bọn cướp nước và bán nước: “Để cho đất Thăng Long là nơi danh thắng, lại thành chim yến sợ phải vào rừng; ngựa Hồ uống nước qua sông, đuổi dồn chim nhạn bay về chằm lớn” (Hịch văn thân Hà Nội gửi văn thân Nam Định).

Đất nước tuy xưa, mà cảnh đã thay. Đó là cảm xúc đau đớn của nhiều nhà thơ viết về Hà Nội, hay những nơi chịu cảnh như Hà Nội. Đó là cảm giác ngỡ ngàng, chống chếnh, cô đơn trong nỗi hoài cổ da diết của thơ Tú Xương, “Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi dò” (Sông Lấp), hay cảm xúc của Nguyễn Khuyến về cảnh “biến cải vũng nên đồi” của Hà Nội những ngày này:

Thập niên thử địa thử trung thu

Thành quách y y cãnh dĩ thù

Bạch chúc hồng đăng mê viễn cận

Tố quan, thanh cái tạp thuỳ ngô

(Mười năm trước đây cũng tiết trung thu ta ở đất này,

Đến nay thành quách vẫn y nguyên, nhưng cảnh đã khác,

Nến trắng, đèn đỏ lấp loáng như gần như xa,

Mũ trắng, lọng xanh, ta với Tây lẫn lộn.)

(Tết trung thu năm Giáp thân ngụ tại HàNội cảm tác, gửi bạn đồng khoa là ông Cử họ Ngô)

Hoàng Diệu mất. Hà Nội lầm than. Nhưng tinh thần và khí phách Hoàng Diệu vẫn sống cùng nhân sĩ và dân chúng Hà Nội, giúp người Hà Nội sức mạnh để sống và chiến đấu. Những bài sử ca ca ngợi chiến công và khí tiết Hoàng Diệu, thái độ của nhân dân đối với giặc Pháp và triều đình nhu nhược. Hoàng Diệu trở thành biểu tượng bất tử của tinh thần chống Pháp của ngươi Hà Nội, của cả dân tộc Việt Nam trong những ngày đau thương, tang tóc ấy. Ca ngợi tấm gương Hoàng Diệu, khí tiết Hoàng Diệu, đó là sự gửi gắm lòng yêu nước của người Hà Nội, của người Việt Nam những tháng năm ấy. Hoàng Diệu trở thành một giá trị biểu trưng cho tinh thần chống Pháp tuyệt đẹp của người Hà Nội, của dân tộc ta. Cũng như biết bao anh hùng khác đứng lên giết giặc cứu nước và hi sinh vì nghĩa lớn, Hoàng Diệu đã hồi sinh trong tâm hồn người Việt Nam, cổ võ tinh thần triệu người đánh giặc. Hoàng Diệu chết mà vẫn đánh giặc:

Sử nhân giai tiên sinh

Hà thành hà chí bĩ?

Duy nhân bất tiên sinh

Hà thành cố nãi nhĩ

Công sinh hữu tử tâm

Công tử hữu sinh khí

Thị phi công luận gian

An túc vi công luỵ

(Nếu mọi người như ông

Hà thành đâu có thế?

Vì mọi người khác ông

Hà thành mới như vậy

Ông sống quyết liều chết

Ông chết vẫn như sống

Người đời bàn phải trái

Không làm luỵ đến ông)

 (Điếu Hoàng Diệu tuẫn tiết)

Cực lục thiên thu truyền tiết liệt

Cô thần nhất tử kiến trung can

Thâu sinh tử nhật tâm do quý

Nghịch tặc đương niên cốt dĩ hàn

Thiên tải Nung sơn tiêu chính khí

Anh hùng đáo lệ xứ tương can

(Sử sách nghìn năm còn truyền tiết liệt,

Người cô thần lấy cái chết để tỏ gan trung nghĩa.

Những kẻ sống cẩu thả khi ấy hẳn còn xấu hổ,

Bọn nghịch tặc bấy giờ sợ mất mật.

Nghìn năm núi Nùng còn nêu chính khí,

Khách anh hùng tới đó dòng lệ ngổn ngang.)

 (Sĩ tử Hà thành viếng Hoàng Diệu)

Đó là con người “sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc” (Nguyễn Đình Chiểu). Hàng loạt tác phẩm mang đề tài ca ngợi Hoàng Diệu ra đời, cùng biết bao những hình ảnh của bọn quan lại hèn nhát, tham sống, sợ chết được dựng lên, mà đằng sau nó là cả triều đình phong kiến nhà Nguyễn nhu nhược, hèn nhát làm thành cái nền xám xịt cho hình tượng Hoàng Diệu càng thêm cao, thêm sáng, thêm rực rỡ chói lọi.

Thơ văn thời kỳ này ra sức tuyên truyền, kêu gọi sĩ phu, nhân dân chống Pháp xâm lược. Đồng thời nó cũng ra sức tố cáo, phê phán triều đình, quan lại đầu hàng. Đánh Tây. Thì đã hẳn. Đó là cái việc nên làm, là vì nghĩa cả. Đánh vào triều đình, vào vua quan, đó mới là sự táo bạo và cương quyết của nhân dân, đặc biệt là của tầng lớp nhân sĩ trí thức từng được giáo dục công phu về luân thường đạo lý Nho giáo, về bổn phận và trách nhiệm phải tuân phục vô điều kiện “đấng chí tôn”. Người sĩ phu phong kiến thời kỳ này nhận thức rõ họ cần phải chống vua nào và cần phải theo vua nào. Họ chống Đồng Khánh vì Đồng Khánh theo giặc, nhưng họ lại theo Hàm Nghi, vì Hàm Nghi là ông vua kháng chiến, hành động theo yêu cầu của dân tộc. Họ vẫn mang một lòng trung son sắt với vua, nhưng đó phải là “minh quân”, chứ không phải là đám “hôn quân bạo chúa”. Nếu cần, họ sẵn sàng chống lại mệnh vua, thậm chí chống đối lại vua, nếu vua theo giặc, bán rẻ giang sơn gấm vóc.

Vì thế mà văn chương thời kỳ này đậm đặc tính hài hước, trào phúng, trong khi đả kích mạnh mẽ vào những kẻ sợ giặc, hàng giặc. Đó là những Đề đốc Lê Trinh tham sống sợ chết, lại giả dối tỏ ra muốn chết:

Thắt cổ, tay còn bưng lầy chạc,

Trầm mình, đầu lại gối lên cao.

Rờ lưng tìm thuốc, rơi đâu mất,

Tuốt vỏ gươm ra, cắt chẳng vào

 (Khuyết danh - Vịnh quan Đề)

Đó là những Khâm sai đại thần, đứng hàng Nhất phẩm như Trần Đình Túc, phải uốn gối cúi đầu vâng dạ trước một mụ me Tây: “Nhất phẩm khâm gìa dạ dạ ran” (Vịnh cô Đội Chóp) v.v... Cái giọng châm biếm, mỉa mai đó không mất đi cả trong những bài sử ca hào hùng và bi thương về Hà thành thất thủ. Ta gặp lại ở đây cũng Đề đốc Lê Trinh mấy lần làm “động tác giả tự tử”:

Thế mà nghe những mơ hồ,

Rằng quan Đề đốc dưới hồ cửa Tây.

Kẻ rằng treo ở cành cây,

Kẻ rằng hẳn dưới giếng này chẳng chơi

 (Hà thành chính khí ca)

Và nhiều nữa, những Tri phủ Hoài Đức, Tri huyện Thọ Xương, Tuần phủ Hoàng Hữu Xứng, án sát Tôn Thất Bá v.v... Ngòi bút tác giả Hà thành chính khí ca đã khái quát bè lũ quan lại bán nước, hại dân bằng những câu cô đúc sau:

Khi bình làm hại dân ta,

Túi tham mở rộng chẳng tha miếng gì.

Đến khi hoạn nạn gian nguy,

Mắt trông ngơ ngác, chân đi gập ghềnh.

Căm lũ phản bội đê hèn bao nhiêu, lại càng thương xót người anh hùng quyết tử vì tổ quốc bấy nhiêu. Cũng là ăn lộc vua, lộc nước, nhưng chỉ một mình Hoàng Diệu dám vì dân, vì nước:

Được mấy kẻ anh tài phải đạo,

Đều ăn cơm mặc áo trên đời.

Đến khi có việc tày trời,

Trơ trơ chỉ thấy một người tận trung.

 (Hà thành thất thủ ca)

Trong bài Di biểu, Hoàng Diệu viết: “Ngày mồng bảy tháng này, chúng hạ chiến thư, ngày hôm sau là chúng tiến đánh, quân chúng đông như kiến tụ, súng của chúng gầm như sấm vang; ngoài phố lửa cháy lan tràn, trong thành ai nấy táng đởm. Tôi vẫn gượng lệnh đốc chiến, đi trước quân lính, bắn chết được hơn trăm tên, giữ thành được nửa ngày. Vì chúng nó sung sức mà quân ta tuột hơi rồi, lại thêm tuyệt đường cứu viện, thế lâm đường cùng, quan võ thì sợ giặc chạy trốn từng đàn, quan văn nghe gió cũng chạy theo nốt. Lòng tôi đau như cắt, một tay không thể duy trì”. Đó là lời nói chân thực, ghi trực tiếp cái cảnh mà ông đang nếm trải, nên không che được nỗi thất vọng, ngao ngán, bất lực, đau xót của một kẻ biết mình đã thất bại. Cùng diễn tả cảnh chiến trận ấy, nhưng tác giả những bài sử ca có được một khoảng cách thời gian nhất định để kịp trấn tĩnh trước nỗi đau, để có thể nhìn nỗi đau vỡ thành ấy bằng con mắt lạc quan hơn, bình tĩnh hơn, bằng cái tinh thần và ý chí của chính mình, những người đang và sẽ tiếp tục sự nghiệp của Hoàng Diệu, biến nỗi đau thất bại thành lòng căm thù và hăng hái khích lệ mọi người noi theo Hoàng Diệu, tiếp tục chiến đấu. Chính vì vậy mà khí thế trận đánh này được diễn tả thật hào hùng:

Ra oai xuống lệnh vừa xong,

Bỗng nghe ngoài đã ầm ầm pháo ran.

Tiêm cừu nỗi giận xung quan,

Quyết rằng chẳng để chi đoàn chó dê.

Lửa phun súng phát bốn bề,

Khiến loài bạch quỷ hồn lìa phách xiêu.

Bắn ra kể chết cũng nhiều,

Phố phường trông thấy tiếng reo ầm ầm.

 (Hà thành chính khí ca)

Cũng như Hoàng Diệu, tác giả các bài sử ca chỉ ra nguyên nhân thất bại chính là do triều đình nhu nhược, hèn nhát đã ngăn trở chiến đấu, do bọn quan tướng triều đình sợ chết, phản bội đã tiếp tay cho giặc:

Nội công phải những bao giờ,2

Thấy kho thuốc cháy, ngọn cờ ngả theo.

Quan quân sợ chết thảy đều,

Thành Tây, bạch quỷ đánh liều trèo ra.

 (Hà thành chính khí ca)2

Tổng đốc Hoàng Diệu thế cùng, phải treo cổ tự vẫn trong vườn Võ Miếu. Như lời ông nói trong Di biểu, lòng trung của ông, vua khó mà nhận nổi. Vậy nên nó là tấm “cô trung”. Cho đến lúc này, ông chỉ thẹn cùng nhân dân, cùng các hào kiệt đang hăng hái đánh giặc, vì ông không giữ vẹn được thành, chứ không phải thẹn với vua, với triều đình bán nước hàng giặc. Đây quả là một tư tưởng lớn lao, táo bạo của Hoàng Diệu đã thức ngộ biết bao kẻ sĩ vẫn còn cấn cái chọn đường./.

 

 Nguyễn Phạm Hùng

(Đại học Quốc gia Hà Nội)



(1) Hợp tuyển thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX. Nxb. Văn học, Hà Nội, 1976.

2 Các trích dẫn tác phẩm lấy từ Hợp tuyển thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX. Nxb. Văn học, Hà Nội, 1976.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 585)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 451)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1222)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1256)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
05 Tháng Sáu 20262:52 CH(Xem: 1104)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
05 Tháng Sáu 20262:02 CH(Xem: 975)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3190)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20262:56 SA(Xem: 2036)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3025)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2530)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
16 Tháng Tám 2025(Xem: 9846)
Giáo sư Trần Ngọc Ninh đã ra đi thanh thản ở tuổi 103 vào ngày 16 tháng 7 năm 2025 tại Bệnh viện Hoag, thành phố Newport Beach, miền Nam California. Tin tức về sự qua đời của giáo sư chỉ được gia đình thông báo hai tuần sau đó, theo đúng nguyện vọng của thầy về một tang lễ Phật giáo vô cùng đơn giản, được tổ chức riêng tư trong phạm vi gia đình. Không có cáo phó, không có điếu văn, và gia đình đã thực hiện đúng những gì thầy mong muốn. Thầy được an táng tại nghĩa trang Loma Vista Memorial Park, thành phố Fullerton, cách Little Saigon khoảng 20 km, bên cạnh phần mộ của người vợ quá cố, mất vào năm 2020 trong thời kỳ đại dịch Covid-19. Bia mộ của thầy rất giản dị, không ghi học hàm hay danh hiệu – chỉ khắc tên thầy và pháp danh “Orgyen Karma, biểu tượng cho hoạt động giác ngộ”.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16691)
Cristoforo Borri dành hai chương III và IV, trong Phần II của Ký Sự Đàng Trong để viết về nhân vật mà ông quý trọng và tôn vinh: quan Khám lý Trần Đức Hoà -ân nhân thứ hai của đạo Chúa (sau Minh Đức Vương Thái Phi)- là người đã cứu sống cha Buzomi và mời các giáo sĩ về vùng ông cai trị, năm 1618, trong cơn sóng gió, các giáo sĩ phải lẩn tránh, ông đã cấp nhà ở và dựng nhà thờ cho họ ở Quy Nhơn, tạo ra cơ sở đạo Chúa ở Nước Mặn. Xin tóm tắt lại những sự kiện đã xẩy ra: / Đạo Chúa ở Đàng Trong do cha Buzomi đặt nền móng từ năm 1615, nhờ Minh Đức Vương Thái Phi giúp đỡ và che chở, có được nhà thờ lớn ở Đà Nẵng. Năm 1616, Macao gửi thêm ba thầy giảng người Nhật sang trợ giúp. Năm 1619, cha Buzomi bình phục; quan Khám lý đưa ông trở lại Hội An, các đạo hữu Dòng Tên gặp nhau trong niềm vui khôn tả. Họ quyết định: Cha Pedro Marques ở lại Hội An. Các Cha Buzomi, de Pina, Borri và thầy giảng Bồ, theo quan Khám lý về Quy Nhơn[1].
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 15690)
Kỳ trước, chúng tôi đã trình bày Đời sống thế tục ở Đàng Trong theo sách Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri. Kỳ này, xin giới thiệu Đời sống tôn giáo ở Đàng Trong qua ngòi bút của Borri, về giai đoạn đầu tiên đạo Chúa được truyền vào nước ta, từ 1615 đến 1622, dưới thời chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên./ Cristoforo Borri xác định vai trò tiên phong của Dòng Tên / Cristoforo Borri xác định các giáo sĩ Dòng Tên đúng là những người đầu tiên đem đạo Chúa vào Đàng Trong, bằng cách chỉ trích sự bịa đặt trong cuốn sách của một giáo sĩ Y Pha Nho [Hordũnez de Zeballos] kể rằng ông ta đã đến Đàng Trong trước đó, đã rửa tội cho một bà công chúa và nhiều người trong hoàng tộc, mà Borri cho là hoàn toàn hoang tưởng.
18 Tháng Mười Hai 2024(Xem: 16123)
Tác phẩm Ký sự Đàng Trong của Cristoforo Borri[1] nguyên bản tiếng Ý, được viết để đệ lên Giáo Hoàng Urbain VIII (1623-1644), theo truyền thống các văn bản của giáo sĩ tường trình với Đức Thánh Cha và Tòa thánh về hiện tình đất nước mà họ đã đến truyền giáo, cũng là cuốn sách đầu tiên của người Âu viết về Đàng Trong, in năm 1631, cung cấp những thông tin giá trị trên ba mặt: lịch sử, tôn giáo và ngôn ngữ. Và ông đã ghi lại những chữ quốc ngữ đầu tiên trong tác phẩm Ký sự Đàng Trong. Giáo sĩ Cristoforo Borri (1583-1632), thông bác nhiều địa hạt, từ sinh vật học đến thiên văn, ngoài việc báo cáo tình hình Đại Việt, có tính cách "gián điệp" cho Tòa Thánh, ông còn yêu mến đất nước này, hòa mình vào đời sống Việt Nam đầu thế kỷ XVII, tìm hiểu xã hội và con người.
05 Tháng Sáu 20263:26 CH(Xem: 1256)
Anh có về xứ Huế với em không? Lên Ngự Bình, Nguyệt Biều hay Lương Quán? Bến nước sông Hương ngắm nhìn đàn cá quẫy / Bên bụi tre ngà còn đó dấu khắc tên /
08 Tháng Năm 202611:30 CH(Xem: 3190)
gió sẽ lạnh những chiều xa thành phố / mùa đi qua cho lá rụng xuống đường / tà áo ấy đã mòn thêm mặt lộ / khi mưa về làm ướt cả muôn phương
04 Tháng Năm 20261:46 SA(Xem: 3023)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
02 Tháng Năm 20265:34 CH(Xem: 2959)
Mõ phố rao buồn / Ngọng nghịu hồi chuông / Ù con gió chướng Áy cỏ tai ương
(Xem: 1104)
Thời gian trôi nhanh quá! Loay hoay đã đến ngày Đại tường của chị, rồi đến của anh, cách nhau đúng một tháng. Anh chị đã đến và rời cõi đời này như đôi chim liền cánh, luôn ở bên nhau. Khi chim Yến bay về nơi miên viễn, hậu sự đã xong, chẳng còn chi vướng bận, cũng là lúc anh giã từ cõi thế.
(Xem: 5168)
Vốn âm nhạc của tôi không có bao nhiêu, nghèo nàn lắm. Có thể nói tôi rất dốt về âm nhạc. Đây là sự thực và đôi lúc, một mình suy tư, đem lòng đối diện với lòng, tôi tự cảm thấy có một chút xấu hổ. Không phải là tôi không được học nhạc. Trái lại, hệ thống giáo dục thời chúng tôi, thuở xa xưa ấy, ba phần tư thế kỷ tức 75 năm trước đây, từ lớp Đệ Thất (lớp 6 bây giờ), năm đầu tiên của bậc Trung-Học phổ thông, môn âm nhạc đã có trong chương trình giảng dạy. Ngoài những môn học chính như Việt Văn, Toán, Lý Hóa, Sinh Ngữ v.v. mỗi tuần còn có ba giờ dạy môn học phụ: một giờ “Họa”, một giờ “Hán Văn”, một giờ “Nhạc”. Học sinh chúng tôi thời đó, tiếp thu ba môn học phụ này để bổ túc kiến thức phổ thông, và chỉ được dạy ở Trung-Học Đệ-Nhất-Cấp, nay gọi là Trung-Học Cơ-Sở…
(Xem: 7152)
Tôi chỉ thấy dễ chịu khi máy bay hạ cánh xuống California. Không phải vì nước Mỹ tốt hơn. Mà vì tôi vừa rời khỏi một nơi khiến lòng mình nặng trĩu. Một tháng đi qua Sài Gòn, Nha Trang, Đà Nẵng, Hà Nội. Một tháng đủ để cảm nhận nhịp thở của một đất nước đang lớn lên – nhưng lớn lên như một đứa trẻ không được hỏi ý kiến mình muốn trở thành ai.
(Xem: 6465)
Nhà Ba Má tôi ở ngay phố chợ Qui Nhơn, một căn nhà rộng lớn rất đẹp. Ngày xưa xa xôi thời còn nhỏ, mỗi năm đến độ xuân về, nhà tôi thường có một chậu mai đẹp chưng giữa phòng khách thật sang trọng. Ngày ấy mấy anh em tôi thường lấy những tấm thiệp chúc xuân be bé gắn lên cành mai. Mai vàng nở tươi, e ấp dịu dàng trong tiếng nhạc xuân nghe rộn rã xuân về.
09 Tháng Sáu 202612:52 SA(Xem: 582)
Tôi trở lại thăm Hà-Nội sau hơn bốn mươi năm xa cách. Trong gần một tuần lễ, tôi bận rộn và mệt nhoài theo các con tôi đi thăm gần hết các thắng cảnh trong thành phố và các vùng lân cận mà các con tôi đã lập chương trình từ trước theo đề nghị trong các sách du lịch. Nơi cuối cùng là đi thăm Tam Cốc, sáng đi chiều về, và hôm sau sẽ trở lại Mỹ. Tôi chiều các con tôi, nên những nơi mà tôi muốn đến để tìm lại những kỷ niệm ngày xưa thì chưa có thời giờ, mà nếu không đến được thì đó là một điều thiếu xót cho chuyến đi của riêng tôi.
09 Tháng Sáu 202612:06 SA(Xem: 449)
Chị Tư hơn tôi hai tuổi. Tôi cá tính bao nhiêu thì chị Tư hiền lành, dịu dàng bấy nhiêu. Lại xinh nữa. Ngày xưa, chị được bình bầu là "hoa khôi xóm". Bà bán mì đầu hẻm bảo thế. Bả bảo, mấy người thường ăn mì ở đây khen : “Xóm này không ai đẹp và hiền như con Tư ”.
05 Tháng Sáu 20263:48 CH(Xem: 1222)
Chị Hương đẹp lắm! Một vẻ đẹp đài các sang trọng của một giai nhân xứ Huế. Dáng người dong dỏng cao, thanh thoát, nước da trắng hồng, mái tóc óng mượt buông lơi xỏa sau bờ vai tròn. Đặc biệt chị có đôi mắt rất có hồn, đẹp và yên bình như mặt nước hồ thu. Nụ cười như tỏa nắng, để lộ những hạt răng trắng muốt rất có duyên! Khi chị Hương bước vào tuổi xuân xanh thì tôi chỉ mới là con bé con đang học tiểu học. Thời còn đi học chị là hàng xóm của tôi.
02 Tháng Năm 20266:09 CH(Xem: 2530)
Như Nguyệt là hàng xóm của tôi. Con trai chị- cháu Phạm Thành Phong vừa nhận được giấy báo trúng tuyển vào lớp kỹ sư chất lượng cao của trường Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh. Cả nhà vui mừng khôn xiết. Riêng Như Nguyệt, mừng đến nỗi suốt đêm không sao chợp mắt, lòng xôn xao một niềm vui khó tả. Đó không chỉ là thành quả học tập của con, mà còn là sự đền đáp xứng đáng cho bao năm tháng chị cố gắng, nỗ lực đồng hành cùng con với tấm lòng của một người mẹ. Mừng con thi đậu trường con yêu thích. Đó cũng là những năm tháng hai mẹ con gồng gánh mà đi.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2355)
Trong một cuộc trò chuyện gần đây, Phạm Thị Hoài nói về AI với sự tỉnh táo lạnh lẽo của một người đứng ngoài cuộc: AI là mặt bằng chung tốt nhất, hai phần ba người viết có thể bị thay thế, và điều quan trọng không còn là năng lực — mà là ta sẽ làm gì với sự “vô dụng” của mình. Một nhận định sắc. Nhưng cũng là một lời thú nhận.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2189)
Tháng Tư ở Việt Nam chưa bao giờ chỉ là một tháng. Nó là một vết cắt. Ngày 30 tháng 4 năm 1975 — với một số người, đó là ngày kết thúc chiến tranh, ngày đất nước thống nhất. Nhưng với nhiều người khác, đó là ngày mọi thứ họ biết… kết thúc.
23 Tháng Tư 2026(Xem: 2363)
Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.
19 Tháng Tư 2026(Xem: 2388)
Một buổi tháng 4, 2025. Cái tháng mà bức màn ký ức của tôi lay động, không bởi gió thời gian, mà bởi bao nhiêu lệ chữ òa về rơi vỡ muôn mảnh bể dâu tưởng đã là phế tích bị lấp vùi. Và hai câu thơ trên của Cao Vị Khanh làm tôi, ưng ức, đau đớn, tưởng nhớ, trong lòng cảm thấy một nỗi rất vắng rất xa… Bao nhiêu chữ của bao phận người hơn nửa thế kỷ vẫn đong chưa đầy hồ lệ ký ức và hệ lụy của cuộc dâu biển ấy vẫn miên man xô đẩy trên trang sử đầy thương tích một thời, “một vết thương không bao giờ lành” như nhà văn Ngô Thế Vinh đã viết trong tập truyện Mặt Trận Sài Gòn. Và hôm nay, tôi mở vết thương ấy - tập thơ Ký Ức Tháng 4 - của nhà thơ Cao Vị Khanh.
05 Tháng Sáu 2026(Xem: 974)
-Trần Thị Nguyệt Mai: Xin anh nói cho độc giả biết một chút về anh? -Trang Châu: Tôi sinh ngày 28 tháng 3 năm 1938 ở Huế. Mồ côi mẹ năm 10 tuổi. Tôi được theo học các trường Pellerin, Institut de la Providence ở Huế và Lycée Yersin ở Đà Lạt. Lên đại học tôi chọn Y Khoa Sàigòn, vào quân y, ra trường cuối năm 1965 với cấp bậc y sĩ trung úy. Tôi chọn phục vụ quân y Dù từ 1966 đến 1971. Tiếp theo là y sĩ điều trị Quân Y Viện Trần Ngọc Minh. Giữa năm 1972 được lệnh thuyên chuyển về Trường Quân Y, đảm trách chức vụ Trưởng Khối Sinh Viên và Khóa Sinh một thời gian ngắn và sau đó là Trưởng Khối Tâm lý Chiến kiêm Chủ Bút Tập San Quân Y cho đến ngày mất Miền Nam năm 1975. Tị nạn tại thành phố Montréal, tỉnh bang Québec, xứ Canada, từ 14 tháng 5 năm 1975. Trở lại nghề Y vào tháng 9 năm 1977. Tháng 4 năm 1988 tình nguyện theo tàu của Hội Médecins du Monde (Pháp) về Biển Đông cứu người vượt biển. Tàu đã gặp 5 ghe vượt biển, vớt được 327 thuyền nhân. Nghỉ hưu từ đầu tháng 3 năm 2016.
06 Tháng Sáu 2025(Xem: 13474)
Trước khi thực hiện cuộc phỏng vấn này, tôi đã tham khảo nhiều nguồn thông tin và trực tiếp đối thoại với những nhân vật “sống” trong và ngoài nước. Tuy nhiên, phản hồi nhận được đa phần rơi vào ba mô thức: (1) phê phán gay gắt phía đối lập, (2) nói chung chung với lý thuyết viễn mơ, hoặc (3) phủ nhận hoàn toàn tính khả thi của việc hòa hợp hòa giải. Do đó, tôi đã tìm đến Trí tuệ Nhân tạo Chat GPT – như một cuộc đối thoại với "sự trống vắng im lặng", và đồng thời là một sự tổng hợp từ hàng triệu nguồn tiếng nói – để có được một cái nhìn khách quan, toàn diện, mang tinh thần đối thoại tương kính về một vấn đề lớn và dai dẳng của dân tộc Việt Nam.
22 Tháng Mười Hai 2023(Xem: 29569)
Như bài viết gần đây của ông về kênh đào Phù Nam của Cam Bốt, và đặc biệt như một tuyên bố gần đây nhất của Thủ tướng Cam Bốt Hun Manet: “Kênh đào Phù Nam không lấy nước từ sông Mekong mà chỉ lấy từ sông Bassac và sẽ dùng cho tưới tiêu, nông nghiệp)\”, xin ý kiến của ông về những vấn đề sau:
27 Tháng Tư 2022(Xem: 35670)
Những ngày 11, 12 tuổi, vào những năm 73-74, tôi say mê Phan Nhật Nam. Anh trở thành thần tượng của tuổi thơ, với những ngày dài trên quê hương, những ngày bi thảm, những ngày thê lương, những ngày gẫy vụn, trong nỗi sợ khốn cùng. Nỗi sợ trái lựu đạn đã bật kíp. Nỗi đau vô hình của đồng ruộng ẩn chứa triệu trái mìn. Nỗi đau thắt ruột của người cha xếp xác con, trên đoạn đường từ Quảng Trị về Huế. Trong bất mãn của người lính trước một hậu phương vô ơn. Của người lính miền Nam phải tự vệ giữa một thế giới làm ngơ những thảm sát tập thể ở bãi Dâu, ở trường tiểu học Cai Lậy. Khác những nhà văn quân đội khác, tính chất bi tráng của một xã hội dân sự thời chiến phủ trùm lấy bút ký của Phan Nhật Nam, vượt lên trên các trận đánh. Không phải Mùa hè đỏ lửa, mà Tù binh và Hòa bình, Dọc đường số 1, Dấu binh lửa mới thực sự ghi lại suy nghĩ của một quân nhân trong chiến tranh. Bên cạnh, nhật ký của Đặng Thùy Trâm, Nguyễn Văn Thạc chỉ là những tiểu xảo của những sản phẩm được biên tập.
(Xem: 10655)
Cuốn sách này là bản dịch tuyển tập những bút ký cá nhân, văn học và báo chí về các nhân vật Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể cho văn học, nghệ thuật và khoa học. Đây là một nguồn tư liệu phong phú về lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của miền Nam Việt Nam, đồng thời khắc họa sự nghiệp của từng nhân vật. Phần lớn những người được đề cập nổi bật trong giai đoạn 1954 – 1975. Sau khi miền Nam thất thủ vào tay lực lượng miền Bắc năm 1975, hầu hết họ đều bị giam giữ nhiều năm trong các trại cải tạo cộng sản. Đến thập niên 1980, một số người đã sang Hoa Kỳ và đa phần vẫn tiếp tục hoạt động sáng tạo.(TS. Eric Henry, dịch giả)
(Xem: 12614)
Tập thơ “Hẹn Anh Về Vỹ Dạ Ngắm Mưa Bay” của Hoàng Thị Bích Hà có hơn 180 bài thơ dài ngắn khác nhau được chia làm 2 phần: Phần 1: 80 bài thơ, Phần 2: 116 bài thơ bốn câu. Phần 1: 80 bài thơ tuyển là những bài tâm đắc được chọn lọc ra từ 10 tập thơ trước đã xuất bản và một số bài thơ mới sáng tác trong thời gian gần đây, chưa in nhưng đã được đăng tải trên các trang báo mạng và website Văn học Nghệ thuật trong và ngoài nước. Phần 2 là những khổ thơ yêu thích, mỗi bài chỉ chon 4 câu trong số những bài thơ đã xuất bản.
TẠP CHÍ HỢP LƯU là một không gian văn học, nghệ thuật và biên khảo độc lập, nơi các dòng tư tưởng, mỹ cảm và ký ức văn hóa gặp gỡ và đối thoại. Chúng tôi đăng tải các tiểu luận, khảo cứu, bình luận văn hóa – xã hội, cùng những sáng tác văn học và phê bình nghệ thuật, với tinh thần khai phóng, tôn trọng đa dạng quan điểm và tự do học thuật. Hợp Lưu không nhằm đại diện cho bất kỳ khuynh hướng chính trị, ý thức hệ hay tổ chức quyền lực nào, mà xem trọng tiếng nói cá nhân, chiều sâu suy tư và giá trị của chữ nghĩa
(Xem: 2034)
Tháng Năm, Sài Gòn vừa chớm những cơn mưa đầu mùa. Không phải mưa tháng Mười Hai… nhưng lạ là, mỗi lần nghe tiếng mưa rơi trên mái phố, mình lại nhớ đến một bài thơ cũ— như thể ký ức có mùa riêng của nó.
(Xem: 3023)
Sau khi đã tập tành yêu anh / Em tập tành chia tay, tập tành giận dỗi / Tập tành nghi ngờ anh nói dối, / (Rồi không tin anh nói thật bao giờ)
(Xem: 3191)
Khoảnh khắc dài theo tiếng gọi / Rốt lại một chiều câm tiếng nói / Đợi chờ đuối một giấc mơ /
(Xem: 3349)
Ném buồn vào phố đông / Nhìn người ta bỗng thấy / Mình đi giữa đồng không / Ném buồn vào tôi vậy / Trăm gai cây xương rồng
(Xem: 4040)
Vậy đó, tưởng quên mà vẫn nhớ / Từ đêm vỡ tuyến lạc ven đô / Người thua trận chót đền trăm tuổi / Ta gánh thù sâu chốn hải hồ / Những tưởng mười năm đời sáng lại / Ta về bươi kiếm miểng xương khô / Vét hết oan khiên người lỡ vận / Vùi sâu xóa dấu một hoang mồ
31 Tháng Mười 202510:09 CH(Xem: 7718)
PHÂN ƯU / Vô cùng thương tiếc khi được tin: Nhà văn, Nhà giáo DOÃN QUỐC SỸ / Pháp danh HẠNH TUỆ / Sinh ngày 17 tháng 2 năm 1923 tại Hạ Yên Quyết, Hà Đông,Hà Nội, Việt Nam. Đã tạ thế vào ngày 14 tháng 10 năm 2025 / tại Anaheim California, Hoa Kỳ / Hưởng thượng thọ 103 tuổi
25 Tháng Mười 20251:53 SA(Xem: 7064)
Vô cùng thương tiếc khi được tin thân phụ của bạn Lưu Thanh Nga: Cụ Francis Xavier Lưu Vĩnh Lữ /Cựu Chủ Tịch Nghị Viên Hội Đồng Đô Thành Sài Gòn / Sinh năm 1934 tại làng Tưởng Lộc, Vĩnh Long, Việt Nam / Đã được Chúa gọi về ngày 11 tháng 10 năm 2025 tại Katy, Texas. /Hưởng thượng thọ 92 tuổi
14 Tháng Mười 202510:03 CH(Xem: 9777)
QUẬN CAM, California (Việt Báo) -- Nhà văn Doãn Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 Quốc Sỹ đã thanh thản từ trần lúc 10:05 giờ sáng ngày Thứ Ba 14/10/2025 tại một bệnh viện ở Quận Cam, California, theo tin từ gia đình họ Doãn. Nhà văn Doãn Quốc Sỹ lấy tên thật làm bút hiệu. Ông sinh ngày 17/02/1923 (nhằm ngày Mùng Hai Tết Quí Hợi) tại xã Hạ Yên Quyết, Hà Đông, ngoại thành Hà Nội. Như thế, nhà văn ra đi khi được 102 tuổi, theo tuổi ta là 103.