- Tạp Chí Hợp Lưu P.O.BOX 9809 Fountain Valley, CA 92728-9809 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc
Lượt người xem
1,160,889

Liên Hệ Việt Nam Và Pháp Trước 1858 (phần 1)

28 Tháng Mười Một 200812:00 SA(Xem: 6128)

Dẫn Nhập: Hạnh phúc biết bao cho một người không có quá khứ, hay một dân tộc không có lịch sử–nhiều người quan niệm như thế. Nhưng con người, mỗi người trong chúng ta, đều có quá khứ, vui, buồn hay buồn vui trộn lẫn. Một dân tộc luôn luôn có lịch sử, vinh quang, tủi buồn, hay vinh nhục đủ mùi vị. Quá khứ luôn luôn là tấm gương cho mỗi người tự sửa mình, rút cho mình một kinh nghiệm sống, chuẩn bị cải thiện tương lai. Lịch sử một quốc gia, nếu được ghi chép trung thực, là kho tàng kinh nghiệm cho việc ích quốc, lợi dân, và phát huy tình nhân loại cho một thế giới đáng sống hơn.

Việt Nam không phải là một đại cường, nhưng cũng chẳng là một tiểu quốc. Với lãnh thổ trên 300,000 cây số vuông, cùng ý chí và quyết tâm giữ vững nền độc lập của trên 80 triệu quốc dân, Việt Nam đã sinh tồn tới thế kỷ XXI, tự thiết lập vị thế riêng biệt không chỉ ở vùng châu Á-Thái bình dương, mà còn giương danh khắp thế giới. Tuy nhiên, người chép sử–đại đa số là sử quan hay sử công của chế độ, mà chưa phải sử gia, với huấn luyện chuyên biệt–thường chỉ nỗ lực uốn nắn các sử kiện vào khuôn thước quốc thống và chính thống của các chế độ cầm quyền, như thứ tài liệu huấn luyện giai tầng cai trị và trung gian. Sử quan và sử công thường im lặng, hoặc tảng lờ những dữ kiện đi ngược lại hoặc không phục vụ mục tiêu chính trị giai đoạn của chế độ. Và, nếu cần, ngạo mạn đánh giá các tác nhân lịch sử như anh hùng hay gian ngụy theo đúng luật "được làm vua, thua làm giặc." Sử văn còn bị biến thành một thứ tài liệu tuyên truyền, đủ màu sắc ý thức hệ và tôn giáo. Sự thực sử học bị phủ khuất dần. Hậu thế nhìn vào quá khứ chỉ thấy những rừng rậm nhá nhem đủ loại bóng tối, cây cổ thụ bị giây leo chằng chịt vây phủ. Ba mươi hai năm sau ngày Sài Gòn thất thủ, chẳng hạn, còn bao người biết rằng hình ảnh chiếc xe tăng Bắc quân húc vào cánh cổng Dinh Độc Lập (đang được trưng bày tại nội viên dinh Thống Nhất hiện nay) là kết quả của một màn đạo diễn phim tuyên truyền? (Một sử gia Việt Nam, xin tạm dấu tên, đã cho tác giả biết chi tiết này) Có soạn giả kết thúc biên khảo về cái chết của anh em Tổng thống Ngô Đình Diệm (1897-1963) bằng cách kêu gọi độc giả hùng hồn hô to "Toàn dân Việt Nam nhớ ơn Ngô Tổng thống, Ngô Tổng thống, Ngô Tổng thống muôn năm;"tảng lờ việc các Tướng tá Việt Nam Cộng Hòa, trước hành động bội phản của họ Ngô, và vì đã chán ngấy lời xướng tụng "muôn năm," quyết định sửa lại thành "muốn nằm" sáng ngày 2/11/1963. Nói chi những thứ gọi là "sứ mệnh khai hóa" hay "gánh nặng của người da trắng" trong các thế kỷ XIX-XX–cùng giai tầng trung gian bản xứ–được tô lục, chuốt hồng trong khối văn sử Tây phương và thuộc địa. Và, xa hơn nữa, là khối cổ sử của người Việt và người Hoa, đã và đang bị xách nhiễu bởi mặc cảm tự tôn hoặc tự ti, cùng những vách đá dựng đứng, tối tăm lạnh lẽo của những nhà tù ý thức hệ dân tộc chủ nghĩa và "thánh giáo"–với những hoang tưởng về "rồng vàng," những giấc mơ điềm mộng về danh vọng tương lai, hay những lời sỉ nhục nặng nề như giống người "lúc đứng hai ngón chân cái chạm vào nhau," giống "tinh tinh" ở đất Cửu Chân, và chỗ tận cùng của văn hóa, nơi "mặt trời mọc ở phương Nam."

Song song và dưới ảnh hưởng của các kỹ thuật bẻ cong hoặc nhất thống lịch sử trên là vấn đề tư liệu, hoặc thiếu sử liệu khả tín. Cho tới đầu thế kỷ XXI, chẳng hạn, vấn đề tư liệu còn nổi cộm. Không chỉ giới hạn trong giai đoạn tiền sử, cổ sử mà ngay cả giai đoạn lập quốc vào thế kỷ IX-X, hay giai đoạn phong kiến Trung cổ. Biết bao giấy mực đã hao tốn vì những chữ "Lạc" với "Hùng" trong nỗ lực đi tìm nguồn gốc dân tộc và thời kỳ dựng nước–những nỗ lực vô vọng, hoang phí, trong những cuộc tranh luận "sẩm sờ voi." Hay, hình ảnh một xã hội Đại Cồ Việt ở thời khai sinh như một quốc gia độc lập, tự chủ vào thế kỷ thứ IX và thứ X. Hành động mọi rợ văn hóa [cultural barbarism] của nhà Minh khi tịch thu, phá hủy các tư liệu của Đại Việt trong giai đoạn 1407-1427 khiến vấn đề tư liệu sử học càng thêm nổi cộm, đưa đến những truyền thuyết "100 trứng, trăm con" trong các bộ quốc sử "định hướng Khổng Giáo." Thời kỳ cận đại và hiện đại cũng chẳng khiến khích lệ trước những tội ác văn hóa quen thuộc của các giới chức cầm quyền–như tịch thu, thiêu đốt văn hóa phẩm của phe bại trận, gạn lọc và thiêu hủy một số tư liệu văn khố, phổ biến những ngụy thư cùng tin tức truyền khẩu (kiểu, Việt Nam có bốn anh hùng, Tường gian, Viêm láo, Khiêm khùng, Thuyết ngu; hay Petrus Key, một chủng sinh tại Penang bỏ tu đi làm thông ngôn cho quân viễn chinh Pháp, là một "thiên tài, thông thạo 26 thứ tiếng," kể cả những ngôn ngữ chưa bao giờ được huấn luyện, và cũng chẳng có người bản xứ nào giúp học nhái theo). Bởi thế, mới chỉ có những nỗ lực đơn lẻ, cá nhân hoặc một nhóm các chuyên viên, bỏ công sức đời mình tìm đọc các kho tài liệu văn khố rải rác năm châu–trong sự hờ hững của đám đông, đố kị và thù nghịch của một số thế lực và chính quyền. Đó là chưa kể những trò trộm cắp tim óc của những người nghiên cứu chuyên nghiệp để giải đáp những "bí ẩn lịch sử" với giọng điệu ngụy biện của những khối óc tù túng trong sự ngu dốt sặc sỡ và điêu ngoa hào nhoáng.

Các kho tài liệu văn khố thế giới liên quan đến Việt Nam cũng chưa hoàn toàn mở rộng. Ngoài ra, còn sự hạn chế về phương tiện du khảo cùng qui tắc của một số văn khố quốc gia. Văn khố Đảng Cộng Sản Trung Hoa và Liên Sô Nga là vài thí dụ cụ thể. Tại Việt Nam, chỉ một số nhà nghiên cứu ngoại quốc được phép làm việc tại ba Trung tâm Lưu trữ Quốc Gia ở Hà Nội và Sài Gòn. Thủ tục xin tham khảo hay làm phóng ảnh cũng rất khe khắt và tốn thời gian. Đó là chưa nói đến khả năng ngoại ngữ cần thiết về chữ Hán và chữ Nôm để nghiên cứu các kho tài liệu Nguyễn Triều Châu Bản.

Ở lần tái bản thứ nhất này–nhờ được vài học bổng nghiên cứu tại các văn khố và thư viện Việt Nam, thu thập thêm sử liệu mới, phỏng vấn quí ông Vũ Đình Hoè, Trần Văn Giàu, Trần Bạch Đằng cùng rất nhiều vị khác từ Bắc chí Nam, cũng như tham quan các địa danh miền Bắc mà tác giả chỉ giữ được những ấn tượng thiếu niên rất mơ hồ–chúng tôi tu chỉnh lại một số chi tiết kỹ thuật trong ấn bản 1999-2000, đặc biệt là giai đoạn trước 1883, và thập niên 1930, nhờ sự phát hiện một số tư liệu mới.

Chúng tôi cũng may mắn được sự trợ giúp nhiệt tình của một số chuyên viên, học giả trong nước suốt thời gian du khảo năm 2004-2005 cũng như giai đoạn hậu du khảo. Xin ghi nhận sự ân cần của quí vị Hiệu trưởng cùng nhân viên Đại học Khoa Học & Xã Hội Nhân Văn thành phố Hồ Chí Minh, quí vị Giám đốc và nhân viên các trung tâm lưu trữ Quốc gia, Trung tâm Nghiên cứu Quốc học, và Ban học bổng Fulbright Tòa Đại sứ Mỹ tại Việt Nam.

Houston, 4/8/2007

Vũ Ngự Chiêu

 

Việc Pháp đánh chiếm và "bảo hộ" Việt Nam hay Đại Nam từ 1858 tới 1945 có nguyên động lực chính là phong trào "thực dân" [colonialism] đương thời. Phong trào "ăn dân" này có nhiều nguyên do, nhưng căn bản là nhu cầu thương mại/kinh tế và sự đột tiến về khoa học/kỹ thuật của Tây phương. Tuy nhiên, nó thường được ngụy trang dưới những chiêu bài như "khai hoá" hay "gánh nặng của người da trắng."(1)

Trường hợp Đại Nam, người Pháp đã che dấu tham vọng vật chất của họ bằng sứ mệnh Phúc âm hoá và Pháp hoá những sắc dân "bán khai." Dẫu vậy, những yếu tố nội tại của Đại Nam, từ chính trị qua quân sự, văn hoá, kinh tế, xã hội dưới bốn triều vua Nguyễn đầu tiên ảnh hưởng không nhỏ đến kế hoạch xâm lăng của Pháp. Chính sách tự cô lập ngoại giao [self-isolationism] với các nước Âu Châu, và bách hại đạo Ki-tô từ triều Minh Mạng (1820-1841) tới Tự Đức (1848-1883),(2) đã tạo cơ hội cho Pháp phái chiến hạm và binh đội sang Đông Dương thị uy, rồi bốn thập niên sau xây dựng nên một lãnh thổ Pháp quốc hải ngoại "giàu có nhất" ở Á Châu.

Khởi đầu từ năm 1858 dưới triều Louis Napoléon, tức Napoléon III (1852-1871),(3) phần vì địa thế xa xôi, phương tiện giao thông chậm chạp, phần vì những biến đổi chính trị, quân sự và kinh tế tại Pháp cũng như Đại Nam, người Pháp cần tới một phần tư thế kỷ mới đặt xong nền Bảo hộ.

 

I. VIÊT NAM TRONG TIẾN TRÌNH TOÀN CẦU HÓA:

 

Trước năm 1858, Pháp và Việt Nam đã có quan hệ khá sâu đậm và phức tạp. Quan hệ đa phương này, giữa hai quốc gia cách nhau gần nửa vòng địa cầu, nẩy nở và đan kết qua ba phong trào đặc thù của thời Trung Cổ: thám hiểm và khai phá những vùng đất xa lạ bên ngoài Âu châu và vùng lân cận; đánh chiếm những vùng đất khác chủng tộc và văn hóa cho những lợi nhuận vật chất; và, truyền bá đạo Ki-tô. Trên cơ bản, động lực chính do bản năng loài người, ở giai đoạn luật kẻ mạnh thống trị. Những xã hội cổ thời ở lục địa Á Châu chẳng xa lạ gì với kinh nghiệm cá lớn nuốt cá bé này. Tuy nhiên, phong trào thực dân Âu Châu từ thế kỷ XV đã bộc phát với cường độ và biên độ mà Việt Nam và các nước lân bang Á Châu chưa bao giờ đối diện. Nó thách thức và đe dọa hủy diệt mọi hệ thống giá trị xã hội, văn hóa, chính trị và kinh tế hiện hữu. Ngay đến hệ thống ngoại giao "thông hiếu," "định hướng Khổng giáo," qui tâm về Yên Kinh cũng bị sụp đổ. Ngắn và gọn, nó là sự áp đặt bằng sức mạnh họng súng, những hệ thống giá trị và trật tự xã hội của người Tây phương.

 

A. "TRUNG QUỐC MIỀN NAM":

Những người có dịp viếng thăm Việt Nam vào thập niên đầu của thế kỷ XXI khó thể hình dung ra cảnh vật vương quốc Đại Nam vào giữa thế kỷ XIX. Hiện tượng đô thị hóa, kế hoạch công nghệ hóa, sự phát triển các hệ thống trục lộ, hải cảng và trung tâm du lịch, cùng sự gia tăng dân số trên hai phần trăm mỗi năm khiến ruộng đồng, rừng núi ngày một thu hẹp. Nhưng khoảng 150 năm trước, từ những mắt nhìn dài theo nòng hải pháo đen bóng hay qua ống viễn kính trên boong các chiến hạm Tây phương, Việt Nam vẫn còn là một xứ nông nghiệp, dân cư thưa thớt, núi rừng hoang dã, những quặng mỏ mới chỉ được khai thác theo các phương pháp thủ công nghiệp, thô sơ. Những hải cảng sầm uất như Hải Phòng, Đà Nẵng, Hà Tiên ngày nay chỉ gồm những xóm nhà lá tiêu điều hay những cộng đồng ngư dân nghèo nàn. Giải cao nguyên miền Trung hay vùng thượng du Bắc và Tây Bắc Bắc Kỳ vẫn còn là vùng đất "mọi rợ," đầy rẫy những "ma lai," "ma só," hay những thày phù thủy trong ống tay áo đầy rẫy đủ loại ma thuật. Sử sách Việt chép về những dân Man ở Hoàng gia động, dân Tày, Nùng, Thái, Mường, cùng những tiểu vương quốc Thủy Xá, Hỏa Xá của dân Gia Rai, giặc Man Thạch Bích ở vùng Quảng Ngãi, v.. v... Từ triều Gia Long mới có những nỗ lực đặt các sắc tộc thiểu số trên vào vòng "giáo hóa định hướng Khổng học." Dẫu vậy, bức bản đồ Đại Nam của các giáo sĩ Pháp hoàn tất năm 1838 chỉ bao gồm châu thổ các sông Hồng, sông Mã chạy men theo chân rặng Trường Sơn, kéo dài tới Hà Tiên, tức tỉnh cực Nam.

Mặc dù các vương triều Việt đã đặt ra những quốc hiệu như Đại Việt, Việt Nam, hay Đại Nam, và các vua đầu nhà Nguyễn (1802-1945) kiêu hãnh tự xưng là "Trung Quốc miền Nam," các địa danh này chỉ được biết trong giới thiểu số sĩ phu nội địa. Sử sách Trung Hoa, tức Trung Quốc miền Bắc, thường ghi tên An Nam, Giao Chỉ, hay Giao Châu. Người Hán hoặc bị Hán hóa phương Bắc từ Vân Nam tới Lưỡng Quảng vẫn thường dùng tiếng "di địch" hay "Nam Man" khi đề cập đến "người Hán ở Huế."

Ranh giới vương quốc cũng rất linh động, tỉ đối với sức mạnh quân sự giữa các lân bang, trong khuôn khổ hệ thống ngoại giao "thông hiếu" [tributary network]–tức nước nhỏ thờ nước lớn, cống lễ định kỳ, xin phong vương tước, cho tới ngày bị tận diệt và được an ủi bằng một miếu thờ, cùng ít ruộng đất hương hỏa. Trước ngày tiếp cận văn hóa Tây phương, Việt Nam đã nhiều lần cắt đất đổi hòa bình với Trung Hoa. Trong khi đó, các vua Việt cũng xâm lấn dần các tiểu quốc miền Nam, xóa tên nước Chiêm Thành, cưỡng chiếm phần hạ lưu sông Cửu Long (Mekong) của dân Khmer, và đã có lần muốn biến phần lãnh thổ còn lại của Kampuchea làm "Trấn Tây thành." Tằm ăn dâu là một thông lệ hơn biệt lệ trong hệ thống thông hiếu Á châu.

Đối với Đại Nam, du khách và thông dịch Tây phương, kể cả các giáo sĩ Pháp, thoạt tiên đặt ra những địa danh như "Ton Quin" (hay Tonkin, Tonqueen) và "Cochin Chine" (hay Cochin China) để chỉ hai vùng lãnh địa của chúa Trịnh và chúa Nguyễn. Theo thời gian, họ mượn những tên trong sách sử Trung Hoa như "Giao Chỉ""An Nam" khi đề cập đến xứ nằm về "cực Đông của thế giới cổ xưa có người ở" này. Địa danh An Nam được phổ biến nhất, nhưng chẳng hiểu những nhà thông thái trên đã dựa trên thuật ngữ "An Nam Đô hộ phủ" đời Đường (679), tước "An Nam quốc vương" của các vua Việt từ năm 1164 (đời Nam Tống, 1127-1279), hay thuật ngữ "An Nam" của người Thanh cùng người Hoa Nam đương thời. (4)

Cách nào đi nữa, người Portuguese dùng tiếng "Onam" để gọi người Việt, và vì tiếng Portuguese trở thành một thứ ngôn ngữ thông dụng tại Đông Nam Á, Việt Nam chỉ xuất hiện trong văn sử thế giới như Onam hay Cochin Chine. Các giáo sĩ Pháp còn khai sinh thêm từ "annamite" để chỉ người Việt và những gì thuộc về nước Việt; nhưng những từ này chỉ trở thành phổ thông từ thập niên 1860. Cho tới năm 1857, hai thuật ngữ Cochin Chine và Tonkin vẫn thông dụng trong giới ngoại giao Pháp. Quốc hiệu Việt Nam từ 1804 tới 1838 (và từ 1945 trở đi), hay Đại Nam (từ 1838 tới 1945) biến dạng. Cũng chìm vào lãng quên là quốc hiệu Đại Việt từ thời Lý Thánh Tông (1054-1072) tới Tây Sơn (1778-1802). Mãi tới giữa thập niên 1920, những người Việt kháng Pháp mới tìm nguồn hứng khởi cho tinh thần quốc gia mới bằng cách tái khám phá ra hai quốc hiệu cổ thời Việt Nam và Đại Việt. Khởi đầu là tổ chức Việt Nam Quốc Dân Đảng của Phan Bội Châu tại Quảng Châu, rồi đến Việt Nam Thanh Niên Kách Mệnh Đồng Chí Hội của nhóm Lý Thụy-Hồ Tùng Mậu. Trong nội địa, xuất hiện Tân Việt Cách Mạng Đảng, Việt Nam Quốc Dân Đảng (nhóm Nguyễn Thái Học). Qua thập niên 1930, quốc hiệu Đại Việt mới được sử dụng trong tên một số đảng như Đại Việt Xã Hội, Đại Việt Quốc Dân, Đại Việt Dân Chính, Đại Việt Phục Hưng, v.. v... bên cạnh tổ chức Việt Nam Phục Quốc Đồng Minh Hội của Hoàng thân Cường Để, Việt Nam Cách Mệnh Đồng Minh Hội của Việt kiều hải ngoại tại Hoa Nam. Phong trào Cộng Sản chỉ sử dụng tên Đảng Cộng Sản Việt Nam từ tháng 1 tới tháng 10/1930, và từ năm 1975 tới nay. Riêng tên Việt Minh, tức Việt Nam Độc Lập Đồng Minh, vốn do nhóm Hồ Học Lãm, Nguyễn Hải Thần lập ra năm 1936 tại Nam Kinh. Năm năm sau, Lin tức Trần Quang, mới lấy tên này làm cơ quan ngoại vi cho Đảng Cộng Sản Đông Dương. (5)

Ngoài địa danh An Nam, các giáo sĩ Tây phương còn đặt tên cho Đàng Ngoài và Đàng Trong–tức hai phần lãnh thổ Bắc và Nam sông Gianh dưới thời Trịnh-Nguyễn phân tranh, 1620-1775–là "Tonqueen" hay "Tong-quin" (Tonkin) và "Cochin-chine." Tới năm 1858, tức hơn nửa thế kỷ sau ngày Gia Long (1802-1820) thống nhất vương quốc, hệ thống hành chính của các Hội truyền giáo vẫn tiếp tục dùng sông Gianh (Linh giang) làm biên giới hai nhóm giáo khu Đàng Trong và Đàng Ngoài.

Trong khi đó, vì ngôn ngữ khác biệt, quốc hiệu "France" được ghi trong văn khố triều Nguyễn là "Phật Lan Tây" hay "Phú Lãng Sa." Mãi tới năm 1883, Tự Đức mới bắt chước nhà Thanh, cho lệnh dùng quốc hiệu tiêu chuẩn là "Pháp."

Tham vọng tìm thuộc địa ở Á Châu của Pháp, dĩ nhiên, không chỉ khởi đầu từ Napoléon III mà âm ỉ từ lâu. Năm 1778, nếu không phải sớm hơn, một số viên chức Pháp ở Viễn Đông đã đề nghị Toàn quyền Pondichéry thực hiện một cuộc viễn chinh giúp chúa Nguyễn đánh dẹp anh em nhà Tây Sơn. Tuy nhiên, việc Bri-tên chiếm Pondichéry từ tháng 10/1778 tới 1785, và Pháp can thiệp vào cuộc chiến giành độc lập của Liên bang Mỹ (1777-1783), rồi đến những cuộc chiến liên miên tại Âu và Mỹ châu khiến Paris chưa có cơ hội nhòm ngó vào xứ "Onam" mà Linh mục Pierre Poivre (1719-1786) từng ca ngợi là "không hề có một tên ăn mày, và chưa hề biết đến chuyện cướp bóc hay sát nhân," trong khi dân chúng rất "nhã nhặn, tiết kiệm, bao dung và chăm chỉ" [gentle, frugal, hospitable and industrious]. (6)

Cuối thế kỷ XVIII, trong ý định "chín đời báo thù mới là đại nghĩa," Nguyễn Chủng (tức Gia Long) ủy thác Giám mục Pierre Pigneau de Béhaine (1741-1799) mang Hoàng tử Cảnh cùng ấn tín và giấy ủy quyền của Hội đồng gia tộc tối cao qua tận Pháp xin cắt đất cầu viện. Tuy nhiên, Paris và các viên chức thuộc địa không thi hành những điều khoản ký kết. Chỉ có một nhóm lính đánh thuê Pháp theo Pigneau qua Sài Gòn, tham gia đạo quân Lê dương đủ quốc tịch của Nguyễn Vương. Tới cuối thập niên 1810, Paris mới tái khám phá "Onam," nhưng Gia Long và rồi Minh Mạng từ chối thông thương, cự tuyệt mọi đòi hỏi thực thi Hiệp ước Versailles ngày 28/11/1787 mà Gia Long đã chính thức bác bỏ từ năm 1890.

Sau ngày thôn tính Algérie ở Bắc Phi (1830-1840)–đặc biệt từ khi "chiến tranh nha phiến" ở Trung Hoa (1834-1942) chấm dứt, mang lại cho Bri-tên đảo Hong Kong cùng nhiều ưu quyền kinh tế khác như tự do ra vào các hải cảng Hoa Nam, và Singapore [Sư tử thành] phát triển thành trung tâm thương mại ở Đông Nam Á–tự ái và quyền lợi quốc gia khiến người Pháp nôn nóng hơn trong sứ mệnh khai hoá. Nhưng giống như các nước Âu Châu đương thời, thoạt tiên Pháp chỉ quan tâm đến Trung Hoa, một vương quốc rộng lớn với 400 triệu dân cùng kho tài nguyên thiên nhiên và thị trường hầu như vô tận. Sau đó, khi được lệnh đi tìm một căn cứ tiếp vận ngoài khơi Thái Bình Dương, các sĩ quan Pháp chỉ lưu tâm đến quần đảo "San Lazaro" (Philippines, tức Phi Luật Tân), hờ hững trước những lời kêu cứu thống thiết, bi phẫn của các giáo sĩ Pháp ở Đại Nam. Mãi tới thập niên 1850, khi chỉ còn bán đảo Đông Dương và Xiêm La là vùng lục địa Á Châu chưa bị cường quốc nào xâm chiếm,(7) và lực lượng Hải quân Pháp tại Viễn Đông đã đủ mạnh để bảo vệ quyền tự do hút thuốc phiện và truyền giáo cho dân Á Châu, Paris mới chợt nhận thức được trách nhiệm bảo vệ các "thừa sai" cùng giáo hữu người Việt tại vùng đất mà "Thượng đế đã ban ơn riêng" cho Pháp.

 

B. TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA:

Vào thế kỷ XIX, Việt Nam là một xã hội đa thần và đa tôn giáo. Hầu hết tôn giáo lớn nhỏ trên thế giới đều hiện hữu, từ đạo Phật tới Islam. Cả 5 thuật ngữ dùng để chỉ tôn giáo đều mượn từ tiếng Hán: tôn giáo, từ tung chiao, có nghĩa "lý thuyết về niềm tin" hay "hướng dẫn niềm tin;" giáo, từ tiếng chiao, có nghĩa "dạy bảo" hay "học thuyết hướng dẫn;" đạo từ tiếng tao (dao), tức "đường," hay "cách sống;" và tông, nghĩa là "cửa," hay "cửa dẫn đến sự giác ngộ và giải thoát [the door leading to enlightment and salvation.]

Vì Islam chỉ có một thiểu số tín đồ gốc Chàm hoặc Malay, chúng tôi sẽ chỉ lược nhắc đến ba đạo lớn nhất là Phật, Lão và Khổng.

 

1. Đạo Phật:

Đạo Phật thành lập vào khoảng thế kỷ thứ VI trước Tây lịch (TTL), tại Nepal, Bắc India (Ấn Độ). Người khai đạo là Guatalama Siddharta (Tất Đạt Đa), một hoàng tử, sống trong khoảng 563-483 TTL. (8) Nền tảng của đạo Phật là "tứ diệu đế" (sinh, chết, già và bệnh) của đời người, trong vòng "luân hồi" (karma) vô cùng tận. Muốn thoát khỏi vòng luân hồi ấy, cần tu đạo, hầu đạt "chính quả," vào cõi "niết bàn" (nirvana), tức chốn cực an, cực tịnh. Thế kỷ thứ 3 TTL, vua Ashoka đặt Phật giáo làm quốc giáo. Sau đó bị Hồi giáo (Hinduism) đẩy bật ra khỏi lãnh thổ. Nhưng Phật giáo được quảng bá khắp Á Châu.

Khoảng đầu Tây lịch, Phật giáo chia làm hai nhánh lớn: Nam Tông (còn gọi là "nguyên thủy") hay "tiểu thừa" [Hinayana] và Bắc Tông (tức "đại thừa" [Mahayana] hay "đại chúng"). Phái Nam Tông thiên về giải thoát cá nhân, tồn tại và phát triển ở Sri Lanka (Ceylon hay Tích Lan) cùng vùng Nam và Đông Nam Á (Diến Điện, Thái Lan, Cao Miên v.. v...). Phái Bắc Tông, thiên về việc "phổ độ chúng sinh" (đưa người qua biển mê), với mẫu người Bồ tát (boddhisatva) biến thái theo từng địa phương, mạnh nhất ở Tibet (Tây Tạng), Mông Cổ, Trung Hoa, Đại Hàn, Nhật Bản và Việt Nam. Du nhập Việt Nam vào khoảng thế kỷ thứ I hoặc thứ II, đạo Phật lên cao độ vào thế kỷ thứ X-XIII, sau khi được nhà Đinh (968-980) và rồi nhà Lý, nhà Trần nhận làm quốc giáo. Cả hai chi nhánh Bắc và Nam tông đều hiện hữu ở Việt Nam. Có thể nói trên 50% dân Việt, đặc biệt là giới phụ nữ và những người lớn tuổi, ít nhiều theo đạo này.

Trên phương diện thực hành, đa số Phật tử thường chỉ thắp hương, niệm Phật hay đi lễ chùa vào ngày mồng một hay rằm âm lịch. Có người chỉ đến chùa trong các đại lễ Phật đản (mồng 8 tháng tư âm lịch) hay Vu Lan (rằm tháng 7 âm lịch). Trong giới tăng lữ cũng chỉ có một thiểu số được huấn luyện và nghiên cứu thâm sâu về Phật pháp. Phái Bắc tông đặc biệt phát triển về thiền hay thuyền học [dhyana, ch’an hay Zen], do Bodhidharma [Bồ Đề Đạt Ma] mang từ India vào Trung Hoa dưới triều Lương Vũ Đế (520-549). Chủ đích của thiền học là tìm hiểu và khám phá ra tinh túy của lời Phật giảng dạy, ẩn dấu phía sau và vượt trên những kinh điển được chép lại. Sự tích cơ bản của phái này là "Niêm hoa vi tiếu"–tức nhìn hoa sen mà mỉm cười của Mahakasyapa [Ma-ha-ca-nhiếp-gia], người được Thích ca Mâu ni truyền thụ tâm ấn [hsin-yin hay seal-of-mind].

Việt Nam có bốn chi nhánh thiền: Tì Ni Đa Lưu Chi [Vinitaruci hay Hsih-ni-to-liu-chih] (khoảng năm 580, tại chùa Pháp Vân, Hà Đông); Vô Ngôn Thông [Wu yen-t’ung] (khoảng năm 820, chùa Kiến Sơ, làng Phù Đổng, Bắc Ninh); Thảo Đường; vàợ Trúc Lâm Yên Tử. Phái Tì Ni Đa Lưu Chi cung cấp những lãnh đạo Phật giáo từ Tiền Lê tới nhà Lý, như Pháp Thuận, triều Lê Hoàn (980-1005), Vạn Hạnh, cố vấn của Lý Công Uẩn (1009-1028), hay Huệ Sinh, Tăng Thống triều Lý Thánh Tông (1054-1072). Phái Vô Ngôn Thông có Ngô Chân Lưu được Đinh Tiên Hoàng (969-979) cử làm Tăng thống; Viên Chiếu, một học giả uyên bác, vua Lý Thái Tông (1028-1054); Quốc sư Thông Biện; cùng các danh tăng Không Lộ; và Thường Chiếu, tác giả Nam Tôn Pháp Đồ.

Do tình trạng "vệ tinh" của Việt Nam trong trật tự chính trị và văn hóa "thông hiếu" với Trung Hoa, Phật giáo Việt cũng bị Hán hóa dần, ngày một thiên về trường phái Đại thừa. Các tăng ni bắt đầu mặc áo nâu, cầy cấy ruộng và tham dự vào sinh hoạt xã hội qua các tang lễ hay nghề thuốc để mưu sinh.

Trong khi đó, phái Nam Tông hay Nguyên thủy, tuyệt đối trung thành với mọi và mỗi lời Phật giảng dạy còn được ghi chép. Các tăng mặc áo vàng, chỉ ăn ngày một bữa và khất thực, nên không nhất thiết phải ăn chay như phái Bắc tông. Tại miền Bắc, các thiền viện Nam Tông dần dần bị giảm thiểu, rồi không để lại dấu vết nào của những nhà sư như Khang Tăng Hội, hay trường phái Giáo Tông, v.. v... Tại miền Nam, khoảng đầu thế kỷ VII, phái Nam Tông phát triển khá mạnh ở Lâm Ấp hay Chiêm Thành. Trong một cuộc đánh cướp nước Chiêm năm 605, quan tướng Tùy (589-618) mang về Trung Hoa 18 pho tượng vàng và hơn 1,350 bộ kinh [sutras] Phật. Trong khi đó người Việt gốc Khmer ở vùng châu thổ Cửu Long cũng lập nên những cộng đồng theo hệ phái Nam Tông, tiêu biểu bằng những chùa chiền hùng vĩ với mái thiếp vàng, cùng những pho tượng vàng trấn tự. Các lục cả [tăng] giữ vai trò lãnh đạo tinh thần của các thôn xã [sóc hay láng]. Tại nhiều nơi, việc giáo dục thanh thiếu niên được hoàn toàn giao cho hàng tăng lữ.

2. Đạo giáo hay Lão giáo:

Xuất phát từ Trung Hoa, do Lão Đam (Lão tử) thành lập vào khoảng thế kỷ thứ VI TTL. Những chi tiết về Lão tử đầy tính cách thần thoại và tập Đạo Đức Kinh còn lưu truyền đến nay là do nhiều người ghi chép trong khoảng thế kỷ thứ III TTL.

Nền tảng của trường phái này là hai chữ "Đạo" (đường) và "Đức" (quyền lực). Bậc chân nhân có quyền lực nhờ đã tri nghiệm được "Đạo"–tức nguyên lý hằng cửu của vũ trụ. Cũng trong khoảng thế kỷ thứ III TTL xuất hiện một tư tưởng gia lỗi lạc khác của Đạo giáo là Trang Châu (Trang tử), với tác phẩm Nam Hoa Kinh. Hai tư tưởng xuất sắc nhất của Trang Châu là tự do tuyệt đối (tiêu dao du) và bình đẳng (tề vật luận), theo trật tự sẵn có của vũ trụ (tự nhiên như nhiên). (9)

Trong đời sống thường nhật, Đạo giáo bị đại chúng hoá nhằm thoả mãn nhu cầu niềm tin về sức mạnh huyền bí của vũ trụ. Các đạo sĩ hay chân nhân, sau một thời gian tu luyện trên núi cao, rừng sâu, trở lại các làng mạc, thị trấn để trừ ma, diệt quỉ, cải biến thiên tai với bùa chú hay lễ đàn hô phong, hoán vũ. Du nhập Việt Nam vào khoảng thế kỷ thứ II TTL, Đạo giáo tiếp tục hiện hữu cho tới thế kỷ XX với hình ảnh những "ông Đạo," thày tử vi, địa lý, hay những hội kín của người Việt gốc Hoa (Thiên địa Hội, Hồng Liên Giáo, v.. v...).

3. Khổng hay Nho giáo:

Dù không được coi như một tôn giáo, Khổng giáo là học thuyết chính trị của Khổng Khâu [Khưu], một học giả người Hoa sống trong khoảng từ 551 tới 479 TTL. Lúc bấy giờ, Trung Hoa còn theo chế độ phong kiến, Hoàng đế nhà Châu (1122-247 TTL) chỉ có hư vị, 5 nước chư hầu mạnh nhất (Tề, Tấn, Tần, Sở và Ngô-Việt) tranh nhau ngôi bá chủ (Xuân Thu). Xuất thân nước Lỗ, một trong những vương quốc yếu nhất (thuộc địa phận tỉnh Sơn Đông, ngày nay), Khổng Khâu kêu gọi phải trở về với đức hạnh, tiêu biểu bằng lòng nhân (jen), và rao giảng phép trị nước dựa trên sự hoà đồng giữa người với Trời, gia đình và vương quốc. Khổng Khâu muốn những nhà cai trị hãy bỏ sự dị đoan để trở lại với những vấn đề thiết thân của xã hội và quốc gia. Sự kêu gọi trở về với "văn hoá của nhà Chu" này là do các nhà cai trị thời bấy giờ tin tưởng vào tính cách tiên tri của các giấc mộng, sự hữu hiệu của các thần linh, sức mạnh của người chết, tục chôn người sống sau cái chết của người cai trị. (10)

Khổng Khâu tin ở trật tự thiên nhiên, cũng là trật tư đạo đức. Con người làm tròn bổn phận mình, đạt được đỉnh cao đời sống, nếu hành động theo ý muốn của Trời hay Thiên mệnh (T’ien-ming). Quân tử là mẫu người tiêu biểu của giai tầng trung gian, tức lớp văn thân hoặc nho sĩ, có nhiệm vụ giúp vua trị an dân chúng. Quân tử trước hết phải đạt được chính tâm, rèn luyện bản thân (tu thân), xây dựng gia đình (tề gia), rồi mới có thể cai quản đất nước (trị quốc) hay trị an (bình) thiên hạ. Phép tu thân có "ngũ thường" là nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Trong gia đình thì hiếu với cha mẹ, thờ cúng tổ tiên, duy trì bổn phận giữa chồng-vợ, cha-con, anh-em. Ra ngoài, tiến về việc trị quốc, nền tảng là "tam cương"–quân, sư và phụ. Tuy nhiên, Khổng Khâu tin rằng chỉ một thiểu số có thể đạt được tiêu chuẩn của mẫu người quân tử . Kẻ "tiểu dân" trong đám đông ở đáy xã hội, cần được chăm sóc, dạy bảo và hướng dẫn. Một cách nào đó, học thuyết Khổng Khâu tương tự như Plato của cổ Greece (Hy Lạp).

Những lời dạy bảo của Khổng Khâu–chưa hẳn đã là nhân vật Khổng-Khâu-lịch-sử–được chép lại thành bộ Luận ngữ. Khổng Khâu còn được ghi là tác giả bộ Xuân Thu (Yinxu, lịch sử nước Lỗ, 722-481), và người chú giải Kinh Dịch.

Trong số các đệ tử, người được Khổng Khâu thương yêu nhất là Nhan Hồi [Yen Hui]. Khâu nói về Hồi như sau:

Hiền tai, Hồi dã! Nhất đôn tự, nhất biều ẩm, tại lậu hạng, nhân bất kham kỳ ưu. Hồi dã bất cải kỳ lạc. Hiền tai, Hồi dã! [Hiền thay Nhan Hồi! Một chén tre lúa mạch để ăn, một bầu nước để uống, sống trong ngõ hẻm–những kẻ khác thấy ắt phải chán chường, nhưng niềm vui của Hồi chẳng hề bị ảnh hưởng. Hiền thay Nhan Hồi!] (11)

Khi Hồi chết, Khâu than thở:

Y! Thiên táng dư, thiên táng dư! [Hỡi ơi! Trời hại ta! Trời hại ta!] (12)

Vào thế kỷ IV TTL, Mạnh Kha diễn giải lại tư tưởng Khổng Khâu, tạo thành hệ thống chính trị nhân bản khá chặt chẽ. Sau khi Trung Hoa thống nhất, Khổng Khâu được tôn sùng lên hàng Thánh từ đời Hán Vũ Đế (140-86 TTL), nhưng cũng từ đó Khổng học chia làm nhiều hệ phái–như Hán Nho, Tống Nho, Minh Nho, hay Thanh Nho–tùy theo sự triển biến của tri thức và vũ trụ quan của người Trung Hoa.

Năm 637, Đường Thái Tông phong Khổng Khâu làm Tiên thánh, Nhan Hồi làm Tiên sư, cùng thờ với Chu Công Đán ở nhà Thái học. Năm 739, Đường Huyền Tông thăng lên chức Văn Tuyên Vương. Tống Chân Tông (998-1002) từng đến thăm miếu Khổng Khâu, truy tặng là Chí Thánh Văn Tuyên vương. Ngoài ra, còn phong 72 đệ tử Khâu và 27 nho sĩ khác các chức công, hầu, bá. (13)

Du nhập cổ Việt dưới thời Bắc thuộc (207 TTL-939), Khổng học không vượt ra ngoài phạm vi giới quan chức bảo hộ và giai tầng thượng lưu. Từ thời Vương Mãng, một số nho sĩ Trung Hoa đã qua Giao Chỉ tị nạn. Trong số con cháu những người này có Sĩ Nhiếp, đỗ Mậu Tài, sau trở thành Thái thú Giao Chỉ nắm quyền tự trị suốt 39 năm, từ 187 tới 226. Những cuộc tranh giành quyền lực ở Trung Hoa cũng khiến hàng trăm "danh sĩ" người Hán qua Giao Chỉ lánh nạn, phụ giúp Sĩ Nhiếp. Năm 318 [Mậu Dần], Lưu Trầm, tú tài đất Giao Châu, cùng Vương Cơ và Đỗ Thục nổi dạy. Thứ sử Quảng Châu là Đào Khản sai quân qua đánh thắng. Năm 541-542, Tinh Thiều, một nho sĩ giỏi văn chương từng ứng tuyển ở Trung Hoa nhưng Thượng thư bộ Lại nhà Lương là Thái Tổn cho rằng tổ tiên Tinh Thiều tầm thường, chỉ cho một chức quan nhỏ (Quảng dương môn lang), nên hổ thẹn, bèn phụ giúp Lý Bôn khởi binh. Vì Thứ sử Tiêu Tư (tôn thất của Lương Vũ đế, 502-549), hà khắc, làm mất lòng dân, hai người liên kết được vài châu, các tay hào kiệt đều hưởng ứng. Chiếm được Long Biên, lập nên nhà Tiền Lý trong sử Việt. (14)

Mãi tới nhà Trần (1226-1400) và Hậu Lê (1427-1527, 1593-1789), Nho Giáo mới dần dần thống trị triều chính và các sinh hoạt văn hóa tại Đại Việt. Năm 1247 [tháng 2 Đinh Mùi], Trần Thái Tông mở khóa thi Thái học sinh chọn nhân tài. Đặt ra tam khôi (Trạng nguyên, Nguyễn Hiền; Bảng nhãn, Lê Văn Hưu; Thám hoa, Đặng Ma La). Còn 48 người khác đều cho đồng xuất thân, theo thứ tự trên dưới khác nhau. (15)

Vào thế kỷ XV, khi ghi lại việc Lê Quí Ly dâng bản điều trần 14 điểm vào tháng Chạp Nhâm Thân [1392], đòi giáng Khổng Khâu xuống hàng "tiên sư" (xếp hạng sau Chu Công Đán trong miến thờ), và nêu lên bốn nghi vấn trong Luận ngữ, Ngô Sĩ Liên viết:

Đạo của tiên thánh trước nếu không có Khổng tử thì không rõ được; đạo của bậc thánh sau nếu không có Khổng tử thì không thể làm khuôn phép được. Từ khi có sinh dân đến nay chưa có ai hơn Khổng tử; thế mà dám khinh xuất bàn đến, cũng là chẳng biết lượng mình đấy. (16)

Ba thế kỷ sau, Ngô Thì Sĩ còn nặng lời hơn nữa, gọi việc làm của Lê Quí Ly là "người mù chê mặt trăng, mặt trời không có ánh sáng," "cái ngu của Quí Ly thì tội không kể xiết." (17)

Từ thế kỷ thứ IX-X, đã có khuynh hướng muốn "cùng tồn tại" rồi tổng hợp cả ba đạo lý trên. Các vua Việt độc lập đầu tiên sử dụng các sư, đạo sĩ và nho sĩ vào các chức vụ quốc sư và cố vấn tôn giáo. Từ thời Lý Cao Tông bắt đầu mở những kỳ thi tam giáo (1195) để chọn những người kiêm thông cả ba đạo Thích, Lão, Nho ra làm quan. Trần Thái Tông cũng mở thi tam giáo. Tháng 8 Đinh Mùi [1247], lấy Ngô Tần đỗ giáp khoa. Đào Diễn, Hoàng Hoan, Đỗ Vị Phủ, ất khoa. (18)

Ngay trong cuộc sống thường nhật, ba tư tưởng, đạo lý Phật, Lão, Nho dung hoà một cách thoải mái với phong tục tế lễ cổ truyền của người Việt.

Ở một cái nhìn phiến diện, khuynh hướng tam giáo đồng nguyên có vẻ cũng chỉ là một thứ vay mượn của văn hóa Trung Hoa. Sự kiêu hãnh chủng tộc và gia tài truyền thống văn hóa của người Hán khiến cuộc tranh chấp ảnh hưởng tại các triều đình Trường An, Nam Kinh và Yên Kinh khá gay cấn, đưa đến hiện tượng tổng hợp tôn giáo [religious syncretism]. Để tự bảo vệ trước sự tấn công không ngừng nghỉ hay khoan nhượng của đạo Lão và Khổng, các học giả Phật giáo viết ra nhiều tác phẩm bằng Hán ngữ, kể cả những ngụy thư về chuyến đi India [Thiên Trúc] của Lão tử, hay Khổng Khâu im lặng đón nhận đại thánh [Thích Ca Mâu Ni] từ phương Tây. Những nỗ lực này giúp đưa Phật giáo lên đỉnh cao quyền lực dưới triều Đường (họ Lý). Các lãnh đạo Phật giáo không chỉ được vua Đường nghe theo mà còn giữ một địa vị thống trị trong lãnh vực văn chương. Vào năm 845, toàn nước Trung Hoa có trên 265,00 tăng và 44,600 chùa cùng thiền viện.

Phật giáo tại Việt Nam, dĩ nhiên, cũng tăng trưởng đồng nhịp với các trào lưu ở mẫu quốc. Từ thế kỷ thứ VII tới thế kỷ IX, các tăng Trung Hoa và kinh điển Phật Bắc tông tràn ngập An Nam đô hộ phủ. Tuy nhiên, sự thay đổi văn hóa không bao giờ đồng nhất hay theo một đường thẳng. Người Việt và xã hội Việt luôn có những giá trị truyền thống với khả năng đề kháng lại sức đồng hóa của Hán tộc. Bởi vậy, vào khoảng thế kỷ thứ IX, hệ thống ngai vị trên đài sen của Việt Nam có vẻ đông đúc và mở rộng hơn người Trung Hoa. Hàng ngũ thần linh của người Việt không chỉ có Phật, Bồ Tát, mà còn Ngọc hoàng Thượng đế và chư Tiên, Thánh Khổng cùng thần thánh địa phương, từ Ông Giời hay Ông Trời (Cao Xanh) tới đủ loại thần. Trong khi đó các đạo sĩ rút về những vùng rừng núi hoang dã để tu luyện pháp thuật có thể giúp họ vào cõi trường sinh bất tử. Sau đó, họ trở lại trần thế, lấy việc hô phong, hoán vũ, trừ tà, đuổi ma hay nghiên cứu phong thủy kiếm sống. Các "bà hay cô dí" cũng sống khá ung dung nhờ những người chẳng may mất mát người thân, muốn tìm hiểu linh hồn người đã mất đang vui hay buồn, sướng hay khổ. Trong khi đó, nhà chùa hay thiền viện thường biến thành trung tâm sinh hoạt văn hóa nông thôn. Một số tăng sĩ không ngần ngại hy sinh sự giải thoát cho chính mình–qua việc rũ bỏ cảnh trần thế đầy hệ lụy–bằng cách dùng Phật pháp trừng trị hung thần, ác quỉ.

Trên đỉnh xã hội, Khổng giáo thống trị các thành thị và trang trại, nơi các quan chức và dân Hoa cư ngụ, xen lẫn với các viên chức bản xứ Việt. Những năm biến loạn trong hai thế kỷ VIII-IX loại bỏ dần người Hán khỏi giai tầng cai trị. Cư dân người Hoa lập nghiệp ở An Nam tích cực đóng góp vào phong trào tự trị này. Nhưng họ sớm đối diện và bị thách thức bởi những thổ hào bản xứ. Mãi tới đầu thế kỷ thứ XI, nhờ sự trợ giúp của Phật Giáo, nhà Lý mới thiết lập được một chế độ tương đối vững chãi, ổn định. Dẫu vậy, các vua quan Việt–phần do nhu cầu "đổi mới" để sinh tồn trong trật tự thông hiếu qui tâm về kinh đô Trung Hoa–lại tái khám phá chính giáo Khổng học, tức đào tạo nên một tầng lớp trung gian bản xứ mới làm trái độn giữa các giòng họ cầm quyền và đại đa số dân chúng bị trị. Dù luôn luôn nghi kỵ và chỉ trích Phật giáo–tìm cách kiểm soát và giảm thiểu quyền lực tăng ni–vua quan Việt chấp nhận trên thực tế sự đồng hiện hữu của ba tôn giáo Phật, Lão và Khổng.

Tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh, tức Truyện Kiều, của Nguyễn Du có ghi lại một chứng tích tiêu biểu của khuynh hướng "tam giáo đồng nguyên" này trong dân gian. (19) Trong khi đó, mặc dù từ năm 1825 đã đặt tên Khổng Khâu làm quốc húy, 15 năm sau Minh Mạng vẫn cho lệnh bộ Lễ tìm các nhà sư, đạo sĩ, thuật sĩ và người làm thuốc giỏi, gác bỏ ngoài tai lời can ngăn của bọn khoa đạo Bạch Đông Ôn, tuyên bố "tam giáo, cửu lưu nếu không phải tà thuật thì vẫn dùng." Nhờ vậy, vua khám phá ra sư Nguyễn Giác Ngộ ở Phú Yên, một cao tăng tu theo thuật tịnh cốc (không ăn) đã gần 10 năm. (20)

4. Ki-tô Giáo:

Ki-tô giáo, tôn giáo thứ năm du nhập vào Việt Nam, xuất xứ từ vùng Trung Đông, với thánh địa Jerusalem (vùng tranh chấp giữa Israel [Do Thái] và dân Arab [Ả Rập] ngày nay). Giáo chủ là Giê-Xu (hay Giê-duýt: Jesus, Joshua, Jeshua), một người Jews bị chính quyền Roma hành hình vào khoảng năm 30 Tây lịch. Tín đồ không biết và có lẽ cũng chẳng quan tâm đến nhân vật Giê-Xu-lịch-sử, chỉ tôn thờ Giê-Xu Đấng-Cứu-Thế (Messiah hay Christ), người đã tái sinh sau khi chết và có thể ban cho tín đồ ngoan đạo đời sống hằng cửu, bất kể tội lỗi của họ. Người ta tin Giê-Xu là hiện thân của một "chúa" [god] mà người Jews thờ kính. Chúa là "ngôi" toàn năng, đã sáng tạo ra vũ trụ trong 6 ngày vào khoảng năm 7,000 TTL, và sẽ trở lại trần thế để tuyên đọc phán quyết cuối cùng cho nhân loại. Nhân loại–giòng dõi của Adam và Eva, chiếc xương sườn cụt của Adam–được truyền tụng sẽ bị tận diệt vào khoảng năm 1000 hay 2000, hoặc sau ngày Israel tái lập quốc (1948).

Thần học Ki-tô dựa trên lòng "bác ái" (love), khuyên làm điều lành, tránh điều dữ. Trước thập niên 1990, Ki-tô giáo dạy rằng sau khi chết, linh hồn sẽ về hai cõi khác nhau: Thiên đường (Heaven) cho người lành cùng cựu thánh binh, và Địa ngục (Hell) cho kẻ dữ.

Những câu chuyện kể về Giê-Xu Đấng-Cứu-Thế [Gospels] và Giáo hội tiên khởi [Acts] được chép lại khoảng giữa thế kỷ thứ II, và lưu truyền cùng những lá thư của Paul [Bảo Lộc]. Mãi tới cuối thế kỷ thứ IV, việc biên soạn Thánh Kinh [Bible] mới hoàn tất. Tuy nhiên, cũng có thuyết cho rằng Thánh Kinh đã được tuyên đọc khoảng năm 1,500 TTL ("10 Lệnh Trời," hay Ten Command-ments). Phe này được gọi là Cựu Ước Kinh. Một bằng chứng của họ là những cuộn Kinh tìm thấy ở vùng Biển chết. Vì thế họ gọi Thánh Kinh biên soạn vào thế kỷ thứ IV là Tân Ước Kinh. Có sự khác biệt khá xa giữa cách diễn giải Cựu Ước và Tân Ước của hai phe Ki-tô Vatican [Catholicism] và Tin lành [Protestanism]. Cuộc tranh luận còn kéo dài. (21)

Vào thế kỷ thứ II, một trường đào tạo giáo sĩ (chủng viện) được thành lập tại Alexandria. Các giảng sư (Origen, 182-251) đặt xuống nền tảng thần học Ki-tô và rao giảng niềm tin theo kiểu triết học Greece (Hy Lạp). Trường phái Tân Plato [Neo-Platoism] để lại dấu tích sâu đậm trong các tác phẩm thần học như Augustine (354-430). Những người ẩn tu [hermits], phần lớn từ giai cấp nghèo khổ, bắt đầu hợp tác với các chủng viện, trước hết tại Egypt (St. Pachonimus, 290-345), rồi tới những vùng đất phía Đông và Tây (Luật St Benedict, 529). Dưới triều Constantino (306-337), Ki-tô trở thành quốc giáo của đế quốc Roma [La Mã]. Những đền thờ truyền thống (Pagan) bị phá bỏ, ngân quĩ dùng để xây cất những nhà thờ bề thế và trợ cấp hàng giáo phẩm. Luật pháp bị sửa đổi theo quan điểm thần học Ki-tô. Vào cuối thế kỷ thứ IV, mọi tôn giáo khác, kể cả Do Thái giáo (Judaism), bị tuyệt cấm và đặt ra ngoài vòng pháp luật.

Nhiều bậc "Thánh" bắt đầu được thêm vào các buổi tế lễ. Đáng kể nhất có Maria, mẹ Giê-Xu, thường được biết như "Mẹ Đồng Trinh" hay "Mẹ Vô Nhiễm." (22)

Trong số người khai đạo có Paul of Tarsus; hoạt động tích cực trong giới người Jews, nhằm chống lại giáo luật nghiêm khắc của dân Jews. Giới thẩm quyền Roma đàn áp mạnh–như vua Nero [Néron] vào năm 64–nhưng không thành công.

Giáo dân tổ chức rất chặt chẽ. Mỗi cộng đồng do một Giám mục [Bishop] cầm đầu, với sự trợ giúp của những người lớn tuổi [prebyters hay linh mục], cùng các phụ tá [deacons].

Đứng đầu giáo hội là giáo hoàng (pope hay pape). Giáo hoàng đại diện chúa trời diễn giải luật Thánh (canons), và tự xưng là Giám mục Roma, Sứ giả của Giê-Xu Cứu Thế (Vicar of Jesus Christ). Tông đồ (Thánh) Peter–đến Roma vào khoảng năm 42, và chết năm 67–được tôn làm giáo hoàng tiên khởi. Giáo hoàng một thời còn cai trị vương quốc Vatican, rộng 16,000 dặm vuông. Luật ngày 13/5/1871 hủy bỏ vương quốc trên, và giáo hội chỉ còn lại lâu đài Vatican và Lateran ở Roma, cùng biệt thự Castel Gandolfo. Hơn nửa thế kỷ sau, Mussolini và Hồng y Gasparrini ký Hiệp ước Lateran ngày 11/2/1929, theo đó vương quốc độc lập Vatican chỉ còn 108.7 acres [mẫu Bri-tên]. Đổi lại, chính phủ Italia nhìn nhận Ki-tô làm quốc giáo và được độc quyền giáo dục. Hiệp ước này được viết vào điều 7 của Hiến pháp Italia năm 1947. Gần ba thập niên sau nữa, năm 1976, chính phủ Italia và Giáo Hội mới đạt qui ước hủy bỏ điều khoản nhìn nhận Ki-tô giáo làm quốc giáo cùng độc quyền giáo dục.

Dưới giáo hoàng là một triều đình, chia làm nhiều ban. Ban Ngoại giao lo việc liên hệ với các nước.( 23)

Từ thế kỷ XII, Hội đồng Hồng Y (College of Cardinals) phụ tá giáo hoàng việc đạo, và bầu ra tân giáo hoàng khi người tiền nhiệm chết, bị truất phế, hay không còn khả năng làm việc. Hồng y (mặc áo đỏ, đội mũ đỏ) thoạt tiên không nhất thiết phải là tu sĩ. Từ năm 1918, điều kiện tiên quyết phải là từng là giáo mục, rồi từ năm 1962, thêm điều kiện phải từng giữ chức giám mục. Năm 1959, số hồng y tham dự Hội đồng Hồng y (để bầu giáo hoàng) tăng lên 120 người. Từ năm 1971, các hồng y trên 80 tuổi phải về hưu và không được dự cuộc bầu cử giáo hoàng (dù vẫn được hưởng những quyền lợi khác).

Giáo hội sớm bị phân hóa dài theo ranh giới địa phương và chủng tộc trong nội bộ cũng như ngoài biên cương đế quốc Roma. Những "phường rối đạo" đáng kể nhất là nhóm chối bỏ tính thánh của Giê Xu (Arianism), phủ nhận sự đồng hoá giữa quốc gia và giáo hội (Donatism); và phủ nhận bản chất nửa người, nửa thánh của Giê Xu (Monophysite). Đầu thiên kỷ thứ hai, vào năm 1054, Ki-tô giáo chia thành hai giáo hội Đông và Tây. Hậu thân giáo hội Đông là giáo hội truyền thống (Orthodox) tại Greece [95%], Nga (Ukraine), Roumania, Georgia và một số nước như Syria [50% trong số 2 triệu tín đồ Ki-tô]. Mãi tới ngày 3/5/2001, John Paul II (1978-2005), mới qua thăm Greece [trong chuyến du hành theo dấu chân Thánh Paul], và chính thức xin lỗi [mea culpa] giáo hội truyền thống Greece về những tội ác của Vatican, đặc biệt là cuộc tàn phá Constantinople năm 1204. (24)

Trong thế kỷ XIV và XV, giáo hội chia thành hai giáo hội Avignon và Vatican. (Xem Avignon Registers, 1315-1415,Vatican Registers trong giai đoạn tương ứng)

Thoạt tiên, đạo Ki-tô chống bạo lực và hiếu hòa. Việc bài xích trò chơi "giác đấu" [gladiators] là một thí dụ cụ thể. Nhưng từ thời Constantino, chủ trương bạo lực gia tăng. Từ 1095 tới 1291, các giáo hoàng mở khoảng 10 cuộc "thánh chiến" [crusades] tấn công vương quốc Byzantine (theo đạo Islam hay Muslim). Dân Jews bị thảm sát tại Rhineland (1096), England [Bri-tên] (1290), và Pháp (1306). Các cuộc chinh phạt "kẻ phản đạo" cũng tạo nên nhiều cơn binh lửa như tại Pháp năm 1229.

Sang thế kỷ XV, thần quyền Vatican lùi bước dần trước thế quyền. Dân trí ngày một dâng cao qua những phát kiến khoa học và kỹ thuật, cùng kiến thức mới về những phần đất khác trên thế giới cũng như vũ trụ. Trong khi đó giáo hoàng, hồng y hay giám mục, linh mục–những lãnh đạo tinh thần mà ai cũng đoan chắc vô cùng thánh thiện, đạo đức, tự nguyện cắt bỏ đời sống tình dục, dù không do bẩm sinh hay giải phẫu trên thân thể–tạo nên nhiều tai tiếng. Họ tham nhũng, hối mại thần quyền, có hầu thiếp, con rơi, hay ngoại tình. Eugene IV (1431-1439), Sixtus IV (1471-1484) hay Alexander VI (1492-1503) mang tai tiếng nhất. Dẫu vậy, Vatican vẫn còn ảnh hưởng tại các quốc gia có truyền thống Ki-tô mạnh. Các giáo hoàng đầu tiên thời Phục Hưng [Renaissance] còn dùng thần quyền để phân phối những vùng đất "mọi rợ" mà Portugal và Espania xâm chiếm ở duyên hải Tây Phi Châu (1416) hay Mỹ châu. (25)

Từ thế kỷ XIV, những cuộc tranh luận thần học–chống Vatican–ngày một mạnh. Đáng kể nhất có Wycliffe (1320-1384) ở England và John Huss ở Bohemia (bị đốt cháy năm 1415). Martin Luther (1483-1546) chủ trương chỉ có niềm tin đạo mới mang đến sự giải thoát, chẳng cần trung gian của giáo hội. Luther tấn công quyền lực của giáo hoàng, chống điều kiện độc thân của giáo sĩ, và thúc dục mọi người tự nghiên cứu thánh kinh (một điều đang bị cấm đoán), rồi bản thân dịch thánh kinh qua tiếng Đức vào khoảng năm 1525. Tác phẩm 95 Luận Đề Chống Lại Sự Tha Tội (Ninety-Five Theses Against Indulgences, 1517) [của giáo hội] khiến Luther bị "rút phép thông công" năm 1520. (Indulgences, tức Sự Tha Tội, là độc quyền của giáo hoàng. Trong thời Trung cổ, vì cần tiền, một số giáo hoàng đã cho phép con chiên tội lỗi chuộc bằng tiền để được lên thiên đường, tránh cõi địa ngục. Có giáo hoàng còn cho phép dùng tiền chuộc tội cho cả người chết)

Các phong trào chống lại độc quyền của giáo hội liên lũy lan rộng. Khởi đi là cuộc nổi dạy của nông dân Germany năm 1524, rồi đến những cuộc giao tranh liên miên suốt hơn một thế kỷ kế tiếp. Cao điểm của phong trào này là học thuyết của Charles R. Darwin (1809-1882), tức thuyết tiến hóa, và nhất là Karl Marx (1818-1883), sau này thường được biết như communism, dịch qua tiếng Việt thành "Cộng Sản" (góp chung tài sản). Thuyết tiến hóa chống lại thuyết sáng tạo của Ki-tô và như thế phủ nhận chúa hay "Tạo vật." Marx, dựa theo vật bản, cáo buộc tôn giáo nói chung và Ki-tô nói riêng như "thuốc phiện tinh thần." Trong khi đó, một số học giả và văn nghệ sĩ nêu lên khía cạnh kinh tế, kể cả thương mại, của tôn giáo. Đã có nhiều tác phẩm nói về dịch vụ xây thánh đường hay khả năng quyên góp tài sản của những người sắp chết, v.. v... như thành tích thăng tiến trong giáo hội. Và, dĩ nhiên, còn những thông tin chẳng mấy trong lành về sự đối đãi các đoàn thể hay cá nhân hành hương đến thánh địa.

Giáo hội tìm mọi cách phản ứng. Trong khi các nhà thần học lo biện bạch rằng Mỹ châu là "lục địa đã mất," nên không được chép trong thánh kinh, các giáo mục triều cấm đoán, dọa nạt, hạ ngục và đầy ải những nhà toán học và thiên văn học cùng lý thuyết bị kết án "sai lầm" của họ. Trường hợp nhiều người biết nhất là thuyết "trái đất quay quanh mặt trời", vì điều này trái ngược lời giảng dạy của giáo hội, tức "mặt trời quay quanh trái đất" theo thuyết của nhà thiên văn và địa lý học Ptolemy (thế kỷ II). Hàng triệu sách vở, tài liệu "rối đạo" bị thiêu hủy, ngăn cấm. Những "Inquisition" [Tòa án dị giáo] tạo nên bao thảm kịch đẫm máu trong ba thế kỷ XVI-XVIII. Hàng ngàn người bị hạ ngục, tra tấn, hay thiêu sống. Người Jews, dĩ nhiên, trở thành đối tượng chính. Giáo hoàng Pius XII (1939-1958) ít nhiều liên hệ đến việc Adolf Hitler và đảng Nazi thảm sát hàng triệu dân Jews trong Thế chiến thứ II (1939-1945). Mãi tới John Paul II (1978-2005) mới xóa bỏ tội giết Chúa của dân Jews. Nhưng tinh thần bài Jews [anti-Semitism] chưa chấm dứt. Những đại trí thức của thế giới–nhất là Darwin và thuyết tiến hóa–bị công kích mãnh liệt. Vatican cũng phát động nhiều cuộc thánh chiến chống cộng sản vô thần. Tinh thần bài trí thức trở thành một đặc điểm của Ki-tô giáo từ thời điểm này. (Vì trí thức là giai tầng duy nhất đủ can đảm và khả năng tấn công vào những thành trì dầy phủ rong rêu, sỉn tanh dấu máu nạn nhân bao quanh những trung tâm thần quyền).

Vào đầu thế kỷ XXI, những trường phái nghiên cứu cổ thư xuất hiện trước thế kỷ thứ III, đã bị giáo hội thiêu hủy và nghiêm cấm, như Da Vinci Codes, hay việc diễn giải các tư liệu khảo cổ khai quật tại hang mộ gia đình Jesus of Nazareth ở Jerusalem năm 1980 qua cuốn phim tài liệu The Lost Tomb of Jesus [Ngôi mộ đã mất của Jesus]–những tư liệu phủ nhận thuyết thăng thiên [ascension] và phục sinh [resurrection] nền tảng của tín lý Ki-tô Vatican–từng gây sôi nổi dư luận. Những vụ án xách nhiễu tình dục của các tu sĩ tại Mỹ, khiến nhiều hơn một giáo khu đầy quyền lực phải tuyên bố phá sản để trốn trách nhiệm dân sự (hộ) là những giọt nước tràn ly đầu tiên của hiện tượng thoái trào của thần quyền Vatican.

Các vương triều Việt trước Pháp thuộc dùng tiếng "Ba Lan," "Hoa Lan," "Hoa Lang," "Gia-tô" (Da-tô) để gọi đạo này. Cũng có người đặt tên đạo Ki-tô là Thiên Chúa, Thập tự giáo hay Cơ đốc. Thông thường giáo dân Ki-tô tự xưng là người bên đạo, có đạo hay đi đạo, hoặc, người công giáo. Sau khi ký Hiệp ước Việt-Pháp 1874, Tự Đức đặt ra danh từ "Giáo dân" để gọi người theo đạo Ki-tô (thay cho từ dữ dân); và "Bình dân" để chỉ những người khác. (26)

Người đầu tiên đưa Ki-tô giáo đến Đại Việt là giáo sĩ Portugal. Năm 1510, Portugal chiếm Goa ở India, và năm sau, Malacca tại bán đảo Malaya, trung tâm truyền đạo Muslim ở Viễn Đông. Từ hai địa bàn này, các giáo sĩ theo thuyền buôn tới Á Châu. Gaspard de Santa de Cruz, thuộc dòng Dominican (St Dominique), có thể đã đến Đại Việt vào khoảng năm 1550-1555. (27)

Những chuyến truyền giáo đầu tiên đến Đàng Trong (1580) và Đàng Ngoài (1581) thường ngắn hạn, mang tính cách dò dẫm, khai phá. Qua thế kỷ XVII, công tác truyền giáo mới thường trực, từ ba trung tâm Macao, Manila và Malacca. Dù đế quốc Portugal, và rồi Espania, suy yếu dần, mở đường cho sự thăng tiến của Bri-tên, Holland [Dutch, hay Hòa Lan], Pháp và Prussia (Phổ), mức độ truyền giáo ngày càng gia tăng.

Những cuộc nội chiến liên miên tại Đại Việt trong thế kỷ XVI-XVIII tạo cơ hội cho các cố đạo mở rộng hoạt động. Đây là sự trao đổi hàng hóa/kỹ thuật chiến tranh Trung cổ Tây phương với giới chức cầm quyền. Ngoài ra, cuộc bài đạo ở Nhật khiến giáo sĩ và giáo dân Nhật tìm đến nampo [biển Nam], tạo nên một cộng đồng Ki-tô ở Hội An. Theo giáo sĩ Christoforo Borri, vào thập niên 1620, Hội An khá lớn; có 2 dãy phố–một của quan chức nhà Minh chạy trốn nhà Thanh; một của giáo dân Nhật tị nạn chiến dịch bài đạo. (28)

Trong khi truyền đạo, các giáo sĩ mang vào Đại Việt những cụm văn hoá Ki-tô, cùng một số kiến thức mới về thiên văn, khoa học và y dược thường thức. Nhiều linh mục dòng Jésuites như Siebert (Germany), Slamenski (Hungary), Sébastien Piès (Portuguese), Jean Koffler (Espania), cùng Duff (Bri-tên) từng phục vụ tại Huế như y sĩ riêng của chúa Nguyễn hoặc phụ trách thiên văn. Có người còn tham gia chiến dịch tấn công Chân Lạp (Kampuchea). Được ưa chuộng nhất là khí giới cùng quân nhu, quân cụ. Tuy nhiên, cuộc giao lưu–hay, nếu muốn, xâm lăng–văn hoá này thường phát triển ở vùng duyên hải, cùng những địa phương có mật độ dân số quá cao, đông người nghèo khổ.

Trở ngại ngôn ngữ và văn hoá biến giáo sĩ thành những nhà nhân chủng [anthropologist] và ngôn ngữ [linguist] đầu tiên nghiên cứu về dân tộc Việt, dẫu tài tử nhưng thực dụng. Sau thời gian dài giảng đạo bằng hình ảnh, hay ra dấu bằng tay chân cùng những ngôn ngữ thân thể, rồi dạy tiếng Latin cho thày kẻ giảng [cathechists] bản xứ, giáo sĩ [cố đạo] Portugal và Italia sáng chế ra lối chữ viết sử dụng mẫu tự Latin (tức chữ quốc âm) để huấn luyện các cộng sự viên. Gaspar d’Amaral (Portugal) soạn tự điển Việt-Bồ, và Antonio Barbosa (Italia), hoàn thành tự điển Bồ-Việt. Loại chữ viết này–như con gnoo muon bau tlom laom hoalaom chiam [con nhỏ muốn vào nằm lòng Hoa Lang chăng]–được cải thiện dần.

Thừa hưởng công trình làm việc liên lũy của các đồng nghiệp tiền phong, Rhodes cải thiện loại chữ viết mới, và giới thiệu về đất nước Việt với Âu Châu. Trong thập niên 1650, Rhodes hoàn tất một số tác phẩm như lịch sử xứ Đàng Ngoài, tự điển tam ngữ Việt, Latin, Portuguese [Dictionarium Annamiticum - Lusitanum et Latinum], hay tập giáo lý bằng tiếng Latin và Việt [Cathechismus/ Phép giảng tám ngày], đã lưu hành từ năm 1624.

Tác phẩm cùng sự vận động của Rhodes khiến năm 1659, Alexandre VII (1655-1667) cử Francois Pallu (1626-1684) và Pierre Lambert de la Motte (1627-1693) làm đại diện Vatican tại Trung Hoa và vùng lân cận–một bước cơ bản cho việc thiết lập Hội truyền giáo hải ngoại Pháp năm 1663. Tuy nhiên, Lambert de la Motte đặt căn cứ ở Xiêm, chỉ ghé thăm Đại Nam ba lần vào các năm 1669, 1671 và 1676. Linh mục Bénigne Vachet (1641-1720) và Guillaume Mahot (1630-1684) mới thực sự sống ở Đàng Trong. Vachet truyền giáo tại Đàng Trong từ 1673 tới 1684, rồi qua Xiêm, và dẫn sứ đoàn Xiêm tới Paris. Mahot chết ở Hội An khoảng năm 1684. (29)

Khi Ki-tô giáo truyền vào Đại Việt, giai tầng văn thân-nho sĩ–đã nắm ưu thế từ triều Lê Thánh Tông (1460-1497) và giữ độc quyền giáo dục cùng chính trị–ra công bài bác. Từ huyền thoại phục sinh và thăng thiên của Giê-Xu, lời rao giảng bình đẳng trước "Chúa Bl’ời," tới cách tổ chức các cộng đồng giáo dân, và vai trò lãnh đạo nhiệt thành của các giáo sĩ, hàm chứa một thách thức trực diện sự hiện hữu của chính giai tầng văn thân. Trong ba thế kỷ XVI-XVIII có tới hơn 15 dụ cấm đạo của các chúa Trịnh, Nguyễn và nhà Tây Sơn. (30)

Ngoài ra, Ki-tô giáo chống lại những phong tục cổ truyền như thờ cúng tổ tiên, hoặc thịnh hành đương thời như đa thê, v.. v... Clement XI (1700-1721) từ năm 1715, và Benedict XIV (1740-1758), qua sắc dụ Ex quo Singulari năm 1742, tuyệt cấm giáo dân lễ kính tổ tiên, cho đó là dị đoan. Năm 1939, Pius XII mới ra Summi Pontificus, cho phép tín đồ dự những lễ nghi kể trên nhưng dụ này chỉ áp dụng tại Nam Việt Nam từ năm 1974–khi viễn ảnh chiến thắng của Cộng Sản đã rõ ràng. (31)

Theo tài liệu truyền giáo, một số người trong các giòng chúa Nguyễn và Trịnh đã theo đạo. Thành tích này có thể khiến ngộ nhận rằng Ki-tô giáo du nhập Đại Việt từ thượng tầng xã hội rồi quảng bá dần xuống đại chúng. Thực tế, đạo Ki-tô phát triển theo chiều hướng thượng–từ dưới lên trên. Với duyên hải hơn 2,000 cây số, Đại Việt mở ra cho các nhà truyền giáo nhiều cửa ngõ ven biển mà đại đa số dân cư sống bằng nghề chài lưới. Sau đó, tới những thị trấn đặt các sở buôn Âu châu. Vận tốc truyền giáo chậm lại khi muốn phát triển vào những vùng đất trù phú, hay các thành thị. Một trong những lý do là sau hơn ngàn năm Bắc thuộc và 600 năm độc lập, nền văn hoá cổ truyền Việt đã tổng hợp ba nguồn tư tưởng ngoại nhập khác là Phật, Lão, và Khổng thành một thể khối khá vững. Từ triều Lý (1009-1226), Trần (1226-1400) đã có những kỳ thi tam giáo để chọn nhân tài (1195, 1247). Trong khi đó, thần học nhất nguyên của Ki-tô coi bất cứ ai không theo Ki-tô là "ngoại đạo" hay "ác quỉ" (paiens hay demons). Thuật ngữ "Infidels" hàm ý một thứ tội lỗi tinh thần và đạo đức. Bởi thế, tại Đại Việt, sự phân chia Giáo (người theo đạo Ki-tô, hay dữ dân) và Lương (không theo đạo Ki-tô) khá rõ ràng. Thập niên 1860, một giáo sĩ Pháp từng nhận xét các tín đồ Ki-tô Việt sống như những người ngoại quốc trên chính quê cha, đất tổ của họ.

Cho tới thập niên 1850, các cộng đồng Ki-tô phát triển về bề sâu hơn bề rộng. Tổng số giáo dân Ki-tô chẳng bao giờ vượt quá 5% dân số. Vào hạ bán thế kỷ XIX, các giáo sĩ vẫn phải dùng tiền mua trẻ mồ côi hay con các gia đình nghèo khổ để tăng gia tín đồ. (32)

Về tổ chức, trước năm 1844, chỉ có ba giáo khu [vicariat apostolique]: Đàng Trong, Tây Đàng Ngoài và Đông Đàng Ngoài. Ranh giới giữa hai giáo khu do Pháp và Espania cai quản ở Đàng Ngoài là sông Hồng và sông Lô. Năm 1844, giáo khu Đàng Trong chia thành Tây (bao gồm Sài Gòn và Kampuchea), và Đông (trụ sở tại Qui Nhơn). Năm sau nữa, giáo khu Đàng Ngoài Tây cũng tách đôi làm Tây và Nam. Vào đầu triều Tự Đức, toàn quốc có 8 đơn vị. Đàng Ngoài gồm 4 giáo khu: Tây và Nam, do Pháp điều khiển; Trung (Giữa) và Đông, do Dòng Đa Minh (St Dominique) Espania trách nhiệm. Tại Đàng Trong chia làm Cambodge [Kampuchea], Tây, Đông và Bắc. Cả 4 khu đều thuộc Hội truyền giáo Pháp. Mỗi giáo khu có ngân sách riêng, và không ngừng được tăng cường cán bộ mới từ mẫu quốc. Đại đa số các Giám mục và "cha xứ" (linh mục chánh xứ) là người Âu. Rất ít người bản xứ được thụ phong linh mục. Phần lớn chỉ được tước hiệu phó tế hay thày kẻ giảng. Không ít người chỉ được dạy học thuộc lòng những câu thần chú bằng tiếng Latin để rửa tội cho người sắp chết.( 33)

(Còn tiếp )

Vũ Ngự Chiêu

[Trích: Các Vua Cuối Nhà Nguyễn, 1883-1945]

 

Phụ chú:

1. Có 3 khuynh hướng chính trong việc diễn giải chính sách thực dân của Pháp ở Đông Dương: chính trị, kinh tế và văn hoá (truyền giáo). Chúng tôi nghĩ cả ba yếu tố trên đều có những tác động mạnh, tùy theo từng thời điểm.

2. Tự Đức lên ngôi ngày 3/10 năm Đinh Mùi, tức 10/11/1847, nhưng niên hiệu Tự Đức chỉ có hiệu lực từ Nguyên đán Mậu Thân (5/2/1848); Quốc sử quán, Đại Nam Thực Lục Chính Biên, bản dịch Viện sử học, 38 tập (Hà Nội: 1963-1978),. Đệ tứ kỷ [IV], tập 28, tr. 35-36 [Sẽ dẫn: ĐNTLCB]. Chính xác hơn, nên ghi theo miếu hiệu Nguyễn Dục Tông (1848-1883). Vì khối sử văn thế giới thường chỉ biết đến niên hiệu Tự Đức, chúng tôi tạm dùng tên này. Đa tạ Giáo sư Mai Quốc Liên đã mua giúp tập Lịch Vạn Niên: Âm lịch Dương lịch đối chiếu, 0001-2060 của Lê Quí Ngưu biên soạn (3 tập, ấn bản 2004), giúp điều chỉnh lại một số ngày tháng chính xác hơn, khi chuyển từ lịch Trung Hoa sang Tây lịch.

3. Napoléon III, cháu của Napoléon Bonaparte (1799-1804), đắc cử Tổng thống Đệ Nhị Cộng Hoà Pháp năm 1848. Cuối năm 1852, Napoléon tự lập làm vua, và cai trị tới năm 1870 thì bị bắt trong trận chiến Pháp-Phổ (1870-1871). Sau trận này, Napoléon III phải từ chức và cắt đất Alsace-Lorraine cho Phổ. Napoléon III chết năm 1873, hai năm sau ngày "Paris công xã," đưa đến việc thiết lập nền Đệ tam Cộng Hoà Pháp (1871-1940).

4. Năm 1164, Hiếu Tông nhà Nam Tống mới cho Đại Việt hưởng vị thế một quốc gia, do một quốc vương cầm đầu; Đại Việt Sử Ký Toàn Thư (1679) bản dịch Cao Huy Giu (Hà Nội), I, tr. 289; Quốc sử quán, Khâm Định Việt Sử thông giám cương mục (1884), bản dịch Việt ngữ của Viện sử học, 2 tập (Hà Nội: Thuận Hóa, 1998), CB V:12-13, 1998, I:412-413. [Sẽ dẫn: KĐVSTGCM]. Theo Tống thư [Sung shu], năm 1174 Lý Cao Tông (1176-1210) mới được chức An-nan kuo wang [An Nam Quốc vương]; Ibid., I, p. 351, chú 25; Lê Tắc, An Nam Chí Lược (Huế: 1961), tr. 67. Ngô Thời Sĩ ghi là tháng 2 năm Ất Mùi (23/2-23/3/1175); Đại Việt Sử Ký Tiền Biên (1800), bản dịch Dương Thị The et al. (Hà Nội: Viện nghiên cứu Hán Nôm, 1997), tr. 293. Về những địa danh khác, xem KĐVSTGCM, TB V:17-18, CB III:20, V:12, 1998:I:183, 337. Xem thêm "Cochin China;" The North American Review, vol. 18, no. 42 (Jan 1824), tr. 141-142; Alexander B. Woodside, Vietnam and the Chinese Model, A Comparative Study of Nguyễn and Ch’ing Civil Government in the First Half of the Nineteenth Century (Cambridge, MA: Harvard Univ Press, 1971), tr. 120-121 [Sẽ dẫn: Woodside 1971].

5. Xem, Vũ Ngự Chiêu, "The Other Side of the 1945 Vietnamese Revolution: The Empire of Vietnam (April-August 1945);" Journal of Asian Studies (Ann Arbor, MI), Feb 1986; Idem, "Vài vấn nạn lịch sử thế kỷ XX;" Hợp Lưu (Fountain Valley, CA), số 84, 8-9/2005, tr.155.

6. Thư ngày 12/2/1778 và 15/2/1778, Chỉ huy trưởng Chandernagor gửi Bellcombe; Tài liệu 2 và 3, trong Gaudart, "Les archives de Pondichéry et les entreprises de la Compagnie Francaise des Indes en Indochine, au XVIIIè siècle;" Bulletin des Amis de Vieux Hué [Đô thành hiếu cổ], XXV:4 (10-12/1937), tr. 364-370; Encyclopedia Britanica; dẫn trong The North American Review, vol. 18, no. 42 (Jan 1824), tr. 141. Poivre để lại nhiều di cảo, gom thành Oeuvres complètes [Toàn tập] (Paris: Fuchs, 1797). Chúng tôi chưa được tham khảo tập này. Xem thêm H. Cosserat, "La route mandarinale de Tourane à Hué;" BAVH, VIII, no. 1 (1-3/1920), p. 6].

7. Quốc hiệu Xiêm La (Thái Lan từ năm 1938) chính thức ghi vào sử Trung Hoa đời nhà Minh (1368-1628). Nhờ chính sách ngoại giao mềm dẻo của dòng vua Chakri, tức Mongkut hay Rama IV (1851-1868) và Chulalongkorn (1868-1910), Xiêm được Bri-tên và Pháp chọn làm quốc gia trái độn qua Hoà ước 1896.

8. Ba nghiên cứu hữu dụng về Phật Giáo Việt Nam gồm Tran Van Giap, "Le Bouddhisme en Annam," Bulletin de l’Ecole Francaise d’Extreme-Orient [B.E.F.E.O.] (1932), XXXII, pp. 191-268; sẽ dẫn Giap (1932); Thích Mật Thể, Việt Nam Phật Giáo Sử Lược (Đà Nẵng: 1960 Thich Thien An, Buddhism and Zen in Viet-Nam in Relation to the Development of Buddhism in Asia (Tokyo: 1975). Xem thêm Nguyễn Tài Tư, et al., Lịch sử Phật Giáo Việt Nam (Hà Nội: Khoa học Xã hội, 1991); Erik Zurcher, The Buddhist Conquest of China, revised ed., 2 vols (Leiden: 1972), pp. 10, 13-15.

9. Đã có nhiều nghiên cứu về Lão-Trang trên thế giới.

10. De Barry, Sources, I:17.

11. Analects, VI:9; DeBary, I:24; Nguyễn Hiến Lê, Luận ngữ, tr. 84.

12. Analects, XI:8; DeBary, Sources, I:22; Siêu, tr. 138. Xem thêm những lời Hồi ca ngợi Khâu trong Analects, IX:10; DeBary, Sources, I:24-5; Siêu, 119.

13. Trần Trọng Kim, Nho Giáo, II:80-81, 96.

14. KĐVSTGCM (Hà-nội), TB III:17-19, IV:1-2, 1998, I:151-152 [Lưu Trầm],167-168; [Sài-gòn 1970], II:138-141; ANCL, 1961:94, 159, 240-241;

15. KĐVSTGCM, VI:29-30, 1998, I:470.

16. ĐVSK Tiền biên, 1997:497.

17. Ibid. [ĐVSK Tiền biên, 1997:497].

18, KĐVSTGCM V:26, 1998, I:425 [Tháng 2 năm Ất Mão [14/3-11/4/1195], Lý Cao Tông bắt đầu mở kỳ thi tam giáo chọn người ra làm quan]; ĐVSKTB, 1997:323 [1227 [Đinh Hợi]: Trần Thái Tông mở khoa thi Tam giáo tử [Thích, Lão, Nho]. Tháng 8 Đinh Mùi [1247]: Trần Thái Tông cho thi tam giáo]. CM, VI:30, 1998, I:470-471.

19. Xem, chẳng hạn, đoạn Tam Hợp đạo cô luận về 15 năm truân chuyên của Kiều; Vân Hạc, Nguyễn Du, Truyện Kiều Chú Giải, tr. 519-529.

20. ĐNTLCB, II, 7:179, 22:265, 284.

21. Lưu ý là chúng tôi không dùng thuật ngữ "công nguyên" để chỉ năm khởi đầu Tây lịch. Thuật ngữ này hàm ý loại bỏ mọi giá trị văn hóa trước ngày Giê-Xu ra đời.

22. Maria (Mary), vợ Joseph, khác với Mary Magdalane mà nhiều tác giả cho là vợ Jesus, sinh ra cho Jesus một con trai là Judah. Tên ghi trên sáu trong mười bình đựng hài cốt của "gia đình Jesus, con Joseph" tìm thấy năm 1980 tại phía Nam Jerusalem–được trắc nghiệm theo DNA, là những nhân danh quen thuộc trong Tân Ước Kinh: Jesus, Maria, Matthew (Matia), Joseph, Mary Magdalane và Judah. [Nhà sản xuất James Cameron cùng đạo diễn Simcha Jacobovici thực hiện thành bộ phim tài liệu The Lost Tomb of Jesus [Ngôi Mộ Bị Bỏ Quên của Jesus], chiếu trên Discovery Channel ngày Chủ Nhật, 4/3/2007]

23. Năm 1984, Liên bang Mỹ chính thức nối lại bang giao với Vatican, sau khi Quốc Hội Mỹ rút lại đạo luật năm 1867 (cấm liên hệ ngoại giao với Vatican). Israel và Vatican cũng bình thường hóa ngoại giao từ ngày 30/12/1993. (Năm 2007, Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chưa có bang giao với Vatican)

24. NYT, 3/5/2001; AP, 5/5/2001.

25. Xem Phụ Bản I.

26. ĐNTLCB, IV, 33:122-123. Có nhiều cách giải thích. "Truyện ngoại quốc" trong Minh Sử cho rằng "Hoa Lang [di]" là Hòa Lan [Holland], tập tục đọc sai thành Hoa Lang; KĐVSTGCN, q. 33, 5-6; II:300-301. Trần Trọng Kim giải thích bốn chữ "học Hoa Lan đạo" khắc lên trán giáo dân Ki-tô từ năm 1712 xuất xứ từ "Hoà Lan" [Holland]; Việt Nam Sử Lược, ấn bản Hoa Kỳ (1980?), II:100 [Sẽ dẫn VNSL]. Xem thêm Huồn, 1965, I:46-47. Giáo sư Woodside nghĩ rằng "Hoa Lang" là tiếng dùng chung cho các nước Tây phương, có lẽ mượn từ tiếng "farang" của Xiêm la, có nghĩa "người da trắng;" Woodside, 1971:246. Một tác giả Pháp cho rằng Ba Lan là do cách đọc chữ Hoa thành "Ba" của người thiểu số Việt ở vùng biên giới. Trong một thư gửi công sứ Nhã Nam bằng chữ Nôm, Hoàng Hoa Thám cũng tự xưng là Hoàng Ba Thám. Có người cho rằng đây là kỵ húy nhà Nguyễn (mẹ Thiệu Trị tên Hoa, nên phải đổi tên Thanh Hoa thành Thanh Hoá!)

27. Bonifacy, Le débuts du Christianisme en Annam: Dès origines au 18è siècle [Sự khởi đầu của Ki-tô giáo tại An-Nam: Từ nguyên thủy tới thế kỷ thứ XVIII] (Hanoi: 1930), tr. 16; dẫn trong Hồng Lam, Lịch sử đạo thiên chúa ở Việt Nam, thế kỷ XVI-XVIII (Huế: Đại Việt, 1944), tr. 4. Léonard Cadière, người chú giải sách Hồng Lam, cho rằng Santa de Cruz tới Lovek (kinh đô Chân Lạp) và Đàng Trong năm 1555; Ibid., 1944:116, 154-158. Những nghiên cứu về sự du nhập của Ki-tô (Gia tô) giáo vào Đại Nam khá nhiều. Xem, chẳng hạn, Nicole Dominique Lê, Les missions étrangères et la pénétration francaise au Vietnam (Paris: Mouton, 1975); Cao Huy Thuần, Les missionnaires et la politique coloniale francaise au Vietnam (1857-1914) (New Haven: Council on Southeast Asia Studies, 1990); Patrick J. N. Tuck, French Catholic Missionaries and the Politics of Imperialism in Vietnam, 1857-1914: A Documentary Survey (London: Liverpool Univ. Press, 1987); Piero Gheddo, The Cross and the Bo-Tree, trans. by Charles U. Quinn (New York: Sheed & Ward, 1970); David G. Marr, Tradition on Trial, 1981:82-88, 121-122, 145-146, 266-267, 403; Nguyên Vũ, "Góp phần vào việc nghiên cứu Petrus Key;" trong Ngàn Năm Soi Mặt (Houston: Văn Hóa, 2002), tr. 157-269, và Phụ bản; Ibid., 2002:389-396; Chính Đạo, Cuộc thánh chiến chống Cộng (Houston: Văn Hóa, 2004). Về quan điểm của các nhà truyền giáo, xem F. Romanet du Caillaud, Essai sur les Origines du Christianisme au Tonkin et dans les autres pays annamites [Bàn về nguồn gốc Ki-tô giáo ở Đàng Ngoài và những vùng đất An-nam-mít khác] (Paris: Challamel, 1915); Adrien Launay, Histoire générale de la Société des Missions étrangères, 3 tập (Paris: 1884), và Histoire de la mission de Cochinchine, 1658-1823; documents historiques, 3 tập (Paris: 1923); Võ Đức Hạnh, La place du catholicisme dans les relations entre la France et le Vietnam, 2 tập (Leiden: Brill, 1969). Về quan điểm của Cộng Sản, xem Etudes vietnamiennes, No. 53 (1978). Tài liệu chúng tôi sử dụng phần lớn gồm tài liệu văn khố Pháp, kể cả văn khố Hội Truyền giáo Pháp [ASME (Paris)].

28. Christoforo Borri, Cochin-China: A Relation of the Kingdome of Cochin-China (London: 1633), reprinted by Da Capo Press in 1970.

29. Léonard Cadière, "Le Voyage en ‘Sinja’ sur les côtes de Cochinchine au XVIIè siècle;" BAVH, VIII, nos. 1-4 (1921), pp. 15-29; Cao Huy Thuần, 1990:9-11. Vachet để lại hồi ký Mémoires de Bénigne Vachet (Paris: 1865), nhưng chúng tôi chưa được tham khảo bản gốc.

30. KĐVSTGCM, q. 33, 5-6; II:300-301 [Chúa Trịnh, 1663], II:373 [Trịnh 1696], q.34:35, XVI:63; (1698), II:373); q.35:10-11, II:400-401 [Trịnh 1712], Ibid., q.41:24, II:626-627 [Trịnh 1754], q.44:9, II:708-709 [Trịnh 1773]; ĐNTLTB, 1:68 [Nguyễn 1635] I:153 (Nguyễn 1698), I:154 [Nguyễn, 1699]. Tài liệu truyền giáo ghi thêm: [Trịnh, 1630] (Rhodes 1650:187-188); (Trịnh, 1643); [Nguyễn, 1625], [Nguyễn, 1629], [Nguyễn, 1639], [Nguyễn 1705], [Nguyễn 1750].

31. Rhodes 1650:187-188; Huồn, 1965, I:90, 319.

32. Năm 1857, Pellerin ước lượng rằng Cochinchine (hiểu theo nghĩa Đại Nam) có 32 triệu dân, mà 600,000 người là Ki-tô; SHM (Vincennes), GG2 44, carton 3. Đáng lưu ý là gần một thế kỷ sau nữa, năm 1933–tức 400 năm sau ngày đạo Ki-tô du nhập vào Đại Việt và hơn một thế kỷ sau ngày vua Minh Mạng cấm đạo–Việt Nam mới có Giám mục đầu tiên là Jean Baptiste Nguyễn Bá Tòng (quê ở Gò Công, Nam Kỳ, nhưng cai quản Phát Diệm tới năm 1945)

33. ASME (Paris), Lettre commune [LC] 14/4/1850. Xem thêm Yoshiharu Tsuboi, Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa, 1847-1885 [L’Empire vietnamien face à la France et à la Chine], bản dịch Nguyễn Đình Đầu (Sài Gòn: 1990), tr. 61-62. [Sẽ dẫn: Tsuboi 1990]. Một số tác giả Việt đã lầm lẫn dịch chữ "Tonkin" trong tên đặt các giáo khu thành "Bắc Kỳ."

 

Phụ Bản I:

Tóm Lược Các Thánh Lệnh Phân Chia Thế Giới

 

Dudum cum ad nos (1436) và Rex Regum (1443) của Eugene IV (1431-1439, 1439-1447 [antipope Felix V (1439-1447]); Divino amore communiti (1452) và Romanus Pontifex (8/1/1454) của Nicholas V (1447-1455), Inter caetera (1456) của Callistus III (1455-1458), Aeterni Regis (1481) của Sixtus IV (1471-1484); và nhất là những giáo lệnh (Papal bulls) của Alexander VI (1492-1503) trong hai năm 1493-1494, như Inter caetera ngày 3-4/5/1493, và Dudum siquidem ngày 23/9/1493. (Inter caetera ngày 4/5/1493 in trong Corpus của Luật tòa thánh Ki-tô, tức the Catholic canon law); H. Vander Linden, "Alexander VI and the Demarcation of the Maritime and Colonial Domains of Spain and Portugal, 1493-1494" [Alexander VI và sự phân chia lãnh hải và thuộc địa giữa Es-pa-ni-a và Pooc-tiu-gơn, 1493-1494];" American Historical Review [AHR], Vol. XXII, No. 1 (Oct 1916), pp. 1-20; John Fiske, The Discovery of America, 2 vols (Boston: Houghton, Mifflin & Co., 1892), I:324-6, 454-68; Phụ bản B, II:580-93.

Sắc lệnh ngày 8/1/1454, ban cho vua Portuguese tất cả những lãnh thổ khám phá ra "trong vùng đại dương tới những vùng phía Nam và Đông" mà các vua theo đạo Ki-tô chưa hề tìm thấy hay sở hữu. (Alguns Documentos do Archivo Nacional da Torre do Tombo [Lisbon: 1892], tr. 15-6; dẫn trong Linden 1916, tr. 12)

Sắc lệnh ngày 21/6/1481 của Sixtus IV lập lại những sắc lệnh kể trên, và phê chuẩn hòa ước Alcacovas năm 1479 giữa Espania và Portugal (Linden 1916, tr. 12n28)

Sắc lệnh của các giáo hoàng (bulls) ban cho vua Ki-tô người Portuguese những "quyền" sau tại các vùng đất chiếm đóng được ở Africa: (1) chủ quyền lãnh thổ tại những vùng mới khám phá ra hoặc chiếm đóng; (2) quyền được giáo hội ban phép lành; (3) quyền được thu thuế [tithes] tại những vùng đất mới; (4) quyền được truyền giảng đạo Ki-tô; và (5) quyền bắt thổ dân làm nô lệ. Ngoại trừ điều khoản bắt thổ dân làm nô lệ trong các sắc lệnh trên, nội dung của các sắc luật Alexander V ban phát (grant and donation) cho Espania cũng tương tự. Có 3 khuynh hướng diễn giải về vai trò của Giáo Hoàng và Giáo Hội: (a) Giáo hoàng chỉ là người trọng tài trong cuộc tranh chấp Espania-Portuguese; (b) Giáo Hoàng là chánh án tối cao giải quyết sự tranh chấp giữa Espania và Portugal; và (c) Giáo hoàng chẳng có quyền lực gì, chỉ chấp nhận một thực tế. Tuy nhiên, do hiệp ước ngày 7/6/1494, Espania đồng ý nhượng cho Portugal xứ Brazil (Brê-ziêu); tức đường ranh giới thế giới dời về hướng Tây 10 kinh độ (từ khoảng 36’30 Tây tới 46’30 Tây, tương đương với 270 hải lý), cách bờ Tây quần đảo Cape Verde khoảng 370 hải lý]

Machiavelli, trong The Prince, nhận định: "Alexander VI luôn luôn, và ông ta chỉ luôn nghĩ tới, lừa bịp người ta, và ông ta luôn luôn tìm thấy nạn nhân cho sự lừa bịp của mình." ( Chúng tôi sử dụng bản dịch George Bull (Baltimore: Penguins Books, 1961), chapter 18, tr. 100.

 

Copyright 2007, by Chieu Ngu Vu & Van Hoa Publishing Co.

All Rights Reserved.

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
(Xem: 6214)
(Xem: 8637)
(Xem: 9871)
(Xem: 9539)
(Xem: 9893)
(Xem: 10384)
(Xem: 9176)
(Xem: 8967)
(Xem: 9067)
(Xem: 9398)