- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

Thẳm Sâu, Buôn Ma Thuột

17 Tháng Giêng 200912:00 SA(Xem: 32868)

w-hopluu98-f2-t195pdf_0_126x300_1Sống giữa thời đại văn minh cơ khí, thời gian ngựa chạy, xe xua ồn ỉ, con người phóng dật... tự nhiên ở cái lứa tuổi thập lục nhàn tôi thèm nhớ về, thèm sống lại cái thời xa lơ xa lắc ở bên nhà.

Cái thời tịch mịch đó. Cái thuở hoang sơ ấy. Cứ tưởng nó tuồn tuột, rơi rãi, mất hút, không hò hẹn, không âm vọng trên bước đường thậm thượt tha phương, không ngờ cứ âm ỉ, thổn thức, bám riệt vào não trạng dai như đỉa đói, gặm mòn nỗi nhớ theo tuổi tác, với râu với tóc bạc dần qua thời gian.

Dưới đây là một bức hoành tráng giữa sa mù.

Sương lam phủ dật dờ những eo đồi, gò đất, núi non, rừng rú vắng lặng. Bóng lũ cây ngàn không diễn đạt nổi một ý tưởng hay dáng vẻ thơ mộng nào, ngoài sự cam chịu của nỗi giá lạnh cô đơn.

Nói về trời nắng thì biền biệt khác với trời mưa. Nắng có sắc độ cao hứng từng ngày, hoặc theo mùa mà xiên khoai, cau có, gắt gỏng, hoặc dịu dàng, lung linh, mờ ảo, hay vàng vọt, ảm đạm, hôn mê. Nắng tràn cây, ôm quàng cây, leo liếm cây. Khi kiệt lực nắng buông mình rơi hút, chìm khuất trong rừng cây đám lá rậm rật màu đen kịn. Nhưng là nắng miền cao thì nắng được coi như là nguồn cơn ấm áp, an ủi vỗ về vẻ hiu quạnh của đất trời lạnh lẽo heo hút xa xăm non ngàn.

Còn mưa.

Mưa ẩm ướt không gian miền thượng trung du thấm đẫm một nỗi buồn thê thiết. Mưa ướt dầm mái tóc bù rối, rậm rịt của hồn rừng, hồn núi, hồn non.

Những con đường thuở nhỏ dẫn xuống nghĩa địa làng, xa hơn là khu Rau Xanh hướng về dẫy Trường Sơn mờ mịt.

Những con đường dẫn xuống nhà bác Chín Heo thọc ăn trái muồn quân, xuống đền Bắc Lệ nghe hát chầu văn , xuống suối Xanh câu cá, tắm suối.

Những con đường thoai thoải từ Ty Ngân Khố uốn vòng xuống hồ piscine, xuống khu di cư Trần Hưng Đạo nhà cửa san sát cái chùi ra cái thụt vào, cái cao cái thấp huếch hoác, thô thiển mọc dài theo tiếng Bắc kỳ râm ran chao chát đổ về phía Đông Nam. Từ đó băng qua những thửa ruộng, lội mòn theo bờ suối dẫn xuống suối Mu-ri (Maurice) chảy qua buôn Alê A, vô Đài Phát Thanh cây số 7 (Chi Lăng), vô Cầu Mười Bốn phía Tây Nam coi bắt cá sấu; hoặc lại xoay mình ngoặc ngược về hướng phi trường L19 dẫn xuống thác Nhà Đèn, vô hồ Trung Tâm, vô khu Hòa Bình thăm Q.H, anh bạn học người Mường đời xưa uống rượu nếp than, hút thuốc lào, ca múa dân ca Mường thâu đêm suốt sáng.

Đi xa hơn trên Quốc lộ 21 kép vô Trung Hòa, Kim Châu Phát của người bạn nhỏ Kim Quốc Khánh, cũng dân Bắc kỳ di cư năm 54 v.v...

Tất cả những con đường tứ hướng đó chồng chất hỗn độn, lầy lội, quằn quại trườn qua những ven đồi đất đỏ quạch, xuyên qua rừng rừng cao su thẳng tắp, luồn qua những đồn điền cà phê đậm đặc ngàn xanh tạo nên một bức tranh đầy vẻ mán mọi, rú rít, cô liêu, buồn muôn thuở.

 

Tôi nhớ hoài những tia nắng màu u uất, thê luơng, ảm đạm rạch gạch, cào cấu, chẻ nát buổi hoàng hôn, và mưa dầm sùi sụt không chịu tạnh, và rau càng cua mọc hoang bị mưa léo xéo rũ rượi bên bờ đất dẫn vô buôn Thượng, ám ảnh mãi trong tôi cái cảm giác điêu đứng, phế thải, hoang tàn.

Mãi mãi tôi vẫn còn ơn ớn, sờ sợ, không quên được cái cảnh hai người đàn ông Mường khiêng võng trùm kín một người bệnh (hay đã chết) cứ như những cô hồn sờ soạn, hoang mê, lầm lũi đi trên con đường lầy lội dưới trời mưa nghiêng.

Và tôi vẫn không quên nổi con dốc dẫn xuống trường Rạng Đông của ông thầy già. Cũng con dốc chở đầy những kỷ niệm ấu thơ đó chẳng biết tự bao giờ đã hả ra một miệng vực sâu hoắm ngày đêm gầm gừ tiếng nước đục ngầu chảy xiết, xâm thực đầy vẻ đe dọa. Cỏ tranh bạc đầu hung hãn xâm chiếm hai bên miệng vực gặp lúc gió mưa lại ngả nghiêng ma quái rạp xuống miễu đền âm u cất dưới những tàn cây cổ thụ. Ôi đình miếu mỗi cuối tuần không ngớt lanh lảnh tiếng chầu văn ai oán kéo cả phường bát âm gọi hồn đổ dài xuống con suối Đốc Học. Mùi nhang sung mãn bay khắp, bóng người lên đồng lảo đảo, xiêu giạt trong hoàng hôn tím thẫm.

Và tôi vẫn còn nhớ không quên một chuyện vui dưới thời Pháp thuộc. Có lần trong đám lính Tây đi chợ sáng chợt một "thằng Tây" trẻ trung, vui tính ngoắc tôi tới thảy cho một thỏi kẹo chocolat ngon lành. Tôi luýnh quýnh chạy ra xa bóc ra ăn mà nhớ đời. Cái cử chỉ hào phóng của "thằng Tây" buổi sáng hôm đó trước cửa tiệm bán thực phẩm của ngoại tôi ở góc đường Ama Trang Long và Nguyễn Thái Học

Tôi vẫn nhớ mãi đôi vai nhỏ nhít tôi ngù ngờ khiêng thời gian lặn lội qua hết thập niên 60 mới nhận thấy rừng lùi dần, nhường chỗ cho nhà cửa, trường ốc mọc lên xao xác.

Tôi tin chắc rằng mỗi một đời con người chí ít cũng đã nghe qua một lần loại âm thanh nào đó mà tới chết vẫn không cách gì quên được. Chẳng hạn:

- Những lời thủ thỉ bên tai của người mình yêu.

- Đang đi ngoài phố chợt nghe tiếng người gọi tên mình thật dịu dàng đầy cảm khái.

- Những lời mắng nhiếc nhau tận tình tận lực của hai kẻ tình thù.

- Âm thanh của tiếng gà gáy thuở bình minh bên kia ruộng bắp.

- Âm thanh ma quái của chiêng, trống, cồng đang đêm trong buôn Thượng.

- Âm thanh của tiếng nổ và tiếng người gục xuống ngoài chiến trường.

- Âm thanh ri rỉ, tỉ tê, rờn rợn, ưng ức, nghẹn ngào, tru tréo, đau đớn đầy vẻ ma quái của người vợ Êdê khóc bên xác chồng vừa hy sinh ngoài mặt trận.

- v.v...

Riêng cá nhân người viết cho tới tận bây giờ vẫn còn nghe văng vẳng tiếng vĩ cầm mùi riệu bản vọng cổ của Ba tôi. Cứ mỗi độ trăng tròn là ông và ly rượu đế lấy đờn ra kéo và ca cẩm. Hồi đó mỗi khi tiếng đờn ngọt ngào, tỉ tê, thê thiết mùi mẫn trỗi lên là tôi có cảm giác như cả cái trời cái đất, cả cái rừng cái rú tịch mịch Buôn Ma Thuột và cả cái ánh trăng vành vạnh đang bay trên cao kia thảy đều sà mình xuống nín thở lắng nghe. Má tôi nói để thâu tiếng đờn của Ba vô băng nhựa cho con cháu sau này nghe, nhưng tới khi Ba qua đời Má vẫn tiếc hoài vì không thực hiện được ý muốn của mình.

Cây vĩ cầm và cây long vĩ chùng tơ, long trục đó như một con ngựa chiến về già, giờ đây trở thành một cổ vật vô danh âm thầm, cam chịu nằm trơ trọi, đơn chiếc trên đầu tủ sách nhà tôi. Tuổi của kỷ vật này tính đến nay có hơn 60 niên trường.

Con giống cha, lẽ thường tình cả về thể chất lẫn tinh thần, có điều ông anh tôi không chơi vọng cổ mà tân thời hơn, chơi tây ban cầm cổ điển khá nổi tiếng một thời ở địa phương. Không thu được tiếng đờn của Ba thì anh tôi đã tự thu tiếng đàn của mình vào băng nhựa 60.

 

Bây giờ cả hai người ruột rà thân thích này đã ra người thiên cổ. Anh tôi tử trận vào Mùa Hè Đỏ Lửa ở Kontum; còn Ba tôi chết vì bệnh buồn: mất nước.

 

Đó là không gian và thời gian của thẳm sâu Buôn Ma Thuột.

 

Bây giờ là mùa đông tuyết giá nơi quê người, ngày tháng đang trôi dần xuống đáy năm. Thắm thoát lại sắp ùn thêm một cái Tết xa nhà. Tôi ròng rã xa quê cha đất tổ đã gần 30 năm mà chưa một lần trở lại.

Cũng vì cái tội không chịu tìm về nên mỗi cái Tết kề cận, tôi và nỗi nhà lại âm thầm thao thức gặm mòn nhau trong một góc nhớ.

Phan Ni Tấn (N.D)

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
01 Tháng Mười Một 20154:09 CH(Xem: 62710)
Bấy lâu nói về Nguyễn Du ta quen nhìn ông dưới góc độ một nhà thơ, một “nhà nho tài tử”, cho rằng ông chuyên chú nhiều cho văn chương, cuộc đời ông chủ yếu là văn chương, bàng bạc trong văn chương ông là một nỗi suy tư, nỗi buồn dằng dặc (?!). Thực ra khi hữu thời cũng như khi sa cơ ông luôn là một “nhà nho hành đạo”, một nho quan ôm chí lớn và văn chương chỉ là một phương diện an ủi tâm sự thầm kín.
18 Tháng Mười 201511:15 CH(Xem: 62144)
Sài Gòn quả thật vẫn đẹp mà nó vẫn đẹp theo cái cách mà tôi nhìn ngắm nó, nó vẫn đẹp như mơ, cực kỳ hoàn hảo và trác tuyệt. Vì đâu mà tôi có thể thấy như vậy nhỉ? Có lẽ nó xuất phát từ cái chủ quan riêng biệt của tôi mà tôi thấy như vậy.
18 Tháng Mười 201510:41 CH(Xem: 62434)
Tôi thích những định nghĩa về tự do của John Adams và yêu thơ Tagore. Cả hai đều khơi dậy cái sức mạnh tiềm ẩn bên trong con người. Điều lạ lùng là dù ở hai vị trí rất khác nhau, một chính khách và một nhà thơ; song họ lại gặp nhau ở một điểm rất chung. Tôi có thể mượn cái quan niệm của John Adam để nói về Tagore. Cả hai đều cho rằng không có sự ưu việt nào bằng sự ưu việt của linh hồn và không có sự giàu có nào bằng sự giàu có của con tim.
28 Tháng Tám 201511:15 CH(Xem: 70546)
Mùa Thu, năm 1994, chúng tôi trở lại Hà-nội sau 40 năm xa cách. Một trong mục đích của chuyến đi này là đề gặp ông Nguyễn Hữu Đang, người đứng đầu trong nhóm Nhân Văn, sau khi đọc bài của Phùng Quán viết về chuyến đi thăm ông. Ông đã bị giam tại trại Cổng Trời gần 20 năm, đến đó là chỉ chờ chết, khó có thể trở về được.
27 Tháng Tám 20158:59 SA(Xem: 66193)
Năm 1972, Nguyễn Bắc Sơn in tập thơ “ Chiến tranh Việt nam và tôi”, lập tức được giới văn nghệ và đặc biệt lính chiến sài gòn yêu thích vì lối viết phóng túng, giang hồ ...
18 Tháng Tám 20152:21 SA(Xem: 61471)
“ Nói về Nhục Cảm, thì có thể biểu đạt như một cảm giác hưởng thụ.” Cô bạn tôi, sau khi cái miệng xinh đã thỏa mãn chừng vài thỏi chocolate, liền phán tiếp, “ Miếng Chocolate đầu tiên là Thiên đàng, miếng thứ tư thì vẫn còn ngon, nhưng đến miếng thứ mười lăm thì có thể gần như vô vị.
12 Tháng Tám 20153:54 SA(Xem: 54815)
Dù ai có nghệ sĩ tính tận mây xanh, vốn coi tiền chả ra gì, chắc cũng có lúc phải lúng túng im lặng, khi vắng nó. Ít tiền mà để anh bạn mới quen bao cho bữa nhậu lớn hai người, để nợ mãi một bữa nhậu, thì chắc chừng nào bao lại được thì mới dám bè bạn tiếp với người ta. Ít tiền sao dám rủ rê ai, không rủ không đến với ai thì có ai chơi với mình.
12 Tháng Tám 20153:27 SA(Xem: 59148)
Thời đó, và có thể còn đậm nét ở thế hệ của tôi (1940), văn nghệ, văn chương theo định nghĩa của Xuân Diệu là “run với gió, mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây”. Mây gió trăng, sao, bầu trời xanh biền biệt vẫn là những đề tài muôn thưở của văn hoá, văn học. Thiên nhiên vẫn mãi là cái nền để thị hiện sự hiện hữu và tâm cảm của con người. Cái vở tuồng đời sống cần có mộït sân khấu để người ta yêu nhau, ghét nhau, ham muốn, thù hận, chiến tranh. Mặt trời lên, mang hơi ấm và sự bao bọc yên bình, đêm về với niềm đe doạ nhưng cũng đầy quyến rũ của một vũ trụ thăm thẳm “thiên la địa võng” vây bủa chung quanh.
04 Tháng Tám 20151:25 SA(Xem: 60521)
“ Tôi nhìn người đàn bà qua lớp gương mờ - tái nhợt như một cái xác chết di động. Gương mặt người đàn bà còn tinh tươm những trăn trở, héo úa. Cơn hoảng loạn còn in sâu vào đồng tử, nó trao tráo như mắt của một con cá đang mắc vào chiếc lao móc.”
01 Tháng Tám 20153:20 CH(Xem: 62176)
LTS: Lần đầu cộng tác cùng Tạp Chí Hợp Lưu. Đoàn Khuê định cư ở Canada, anh có một lối viết thật đặc biệt... Nói một cách khác là Đoàn Khuê viết "trúng tim đen" và thật hay. Chúng tôi hân hạnh mời quí bạn đọc và văn hữu cùng đi vào thế giới tạp bút của tác giả "Tạp bút, tìm tôi".