- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

TẾT ĐÃ VỀ TRONG LÒNG BẠN HAY CHƯA?

07 Tháng Hai 202610:48 CH(Xem: 11522)

H G 1



Hoàng Thị Bích Hà

TẾT ĐÃ VỀ TRONG LÒNG BẠN HAY CHƯA? 

ới tôi, Tết về trước hết, bằng một mùi hương - mùi gừng nồng ấm Ở cái xóm nhỏ ven sông- xóm Giã Viên. Trong ký ức, cứ vào khoảng đầu tháng Chạp, không khí quanh bến sông Kẻ Vạn* gần nhà tôi lại trở nên rộn ràng. Từ lò mứt chị Bưởi (chủ lò mứt: chị Nguyễn Thị Bưởi là con gái Kim Long, xứ mứt gừng nổi tiếng của Huế) ở xóm trên, những gánh gừng trên vai các o, các chị đã được thái lát, luộc qua, nối nhau về dòng sông để xả nước cho bớt vị cay. Dòng sông Kẻ Vạn ngày ấy trong đến nỗi có thể nhìn thấy từng viên sỏi, từng ngọn rêu dưới đáy. Không chỉ là mùi thơm của gừng, mà là mùi vị của sự tảo tần, của bàn tay chịu thương chịu khó bắt đầu vào vụ mứt Tết. Cứ thế, mùi gừng tươi theo gió sông phóng khoáng mà bay xa, phảng phất cả một khu phố. Cái mùi hương vừa ấm, vừa nồng, vừa thanh tao ấy khiến người ta chợt nhận ra "À, Tết sắp về rồi!"

 

Khi mứt gừng Huế được tỏa ra khắp chợ Tết ở mọi miền, tôi lại thấy cái mùi hương ấy thoảng qua. Nó gợi nhắc về một Tết đang đến rất gần, làm lòng tôi bỗng “nôn nao” một nỗi nhớ da diết về cái thời mà Tết là một hành trình chuẩn bị, đầy ắp những chờ mong và tỉ mẩn.

Với tôi Tết còn về từ trong ký ức xa xưa (khi tôi còn là cô bé 5 tuổi) ở căn bếp của bà nội tôi với dưa hành, dưa món và tiếng giã lá gai (lá gai tươi luộc chín, giã nhuyễn trộn cùng bột nếp dẻo thơm, đường cát …) làm nên bánh ít lá gai, nhân đậu xanh, vỏ bánh đen nhánh và ngọt mềm như lụa.

Tết cũng về từ những lời chào nhau của người người con xa xứ mới trở về, lòng người đã nao nao, rưng rưng như gặp lại người thân xa lâu ngày.

 

Hôm nay, khi các loại mứt gừng Huế đã có mặt trong các siêu thị, trung tâm thương mại ở Saigon, tôi vẫn nhận ra Tết từ mùi hương quen thuộc ấy... Dù cuộc sống có thay đổi, dù sông không còn trong như trước, nhưng cái hồn cốt của miếng mứt gừng cay nồng ấy vẫn là sợi dây vô hình kéo tôi về với không khí của một thời chưa xa.

mưt gung



Nếu mùi gừng là hương vị, thì hoa giấy làng Thanh Tiên chính là sắc màu đánh thức mùa xuân.

Tết còn về trên những nhánh sông. Trên mặt sông Hương mờ sương, những con đò nhỏ chở đầy chùm hoa giấy của làng Thanh Tiên có màu sắc dịu dàng, thanh nhã: đỏ thắm vừa phải, vàng tươi nhưng không chói, xanh nhẹ như lá non đầu mùa. Đó là sự bền bỉ của một nghề truyền thống, lặng lẽ gìn giữ hồn Tết qua bao thế hệ, cho một nếp sống tâm linh rất đỗi bình dị của người Huế. Tháng Chạp, người ta mua hoa giấy để thay trên các am thờ bếp hay các am nhỏ ngoài sân thờ cậu cô ngoại cảnh,… (còn trên bàn Phật và bàn thờ chính của tổ tiên là hoa tươi) cho mới mẻ, tinh tươm, chuẩn bị đón Tết. Từng việc thay đổi nhỏ ấy cũng là sự chuẩn bị nghiêm cẩn cho một khởi đầu mới.

Tết, chẳng phải là lúc chúng ta dọn dẹp lại lòng mình, vứt bỏ những muộn phiền cũ kỹ để khoác lên tâm hồn một màu áo mới rực rỡ hơn sao?

 

Ngay từ rằm tháng Chạp, hoa tươi, cây cảnh đã bày bán hai bên đường phố. Những chợ hoa ngày Tết ở Phu Văn Lâu, ngã ba đàn Nam Giao hay góc ngã sáu của Huế bỗng trở nên rộn ràng. Và như thế Tết đã tràn ra đường phố một cách rực rỡ. Chao ôi là hoa đẹp khắp nơi! Mai vàng e ấp, cúc vàng rực rỡ, vạn thọ tròn đầy, lay ơn thẳng tắp, những chậu quất, những cây bonsai được uốn công phu và cả những cành đào về từ phía Bắc, khoe sắc giữa lòng cố đô, tạo nên một thứ “hương xuân” đặc biệt. Đường phố trở nên quyến rũ lạ thường, bởi sức sống của thiên nhiên được mang về từ các làng hoa ngoại ô. Người qua lại đông hơn, bước chân cũng như nhẹ hơn. Lòng người phơi phới, như trẻ lại cùng mùa xuân của đất trời. Người Huế đi chợ hoa đôi khi không chỉ để mua, mà để "thưởng" cái không khí xuân, để thấy mình vẫn đang nhịp bước cùng hơi thở của mùa xuân.

Ở chợ, không khí Tết càng rõ ràng hơn nữa. Ở chợ Đông Ba, chợ Bến Ngự, Tây Lộc, Kim Long,… bên cạnh những món mứt, bánh, dưa món đã thành phẩm còn có cả những sạp hàng bán nguyên liệu. Ai bận rộn thì mua sẵn mứt bánh, dưa món cho tiện. Ai có thời gian, lại muốn tự tay chăm chút cho mâm cỗ gia đình, và cũng để duy trì cái “khéo tay hay làm” của người phụ nữ, thì mua nguyên liệu về. Đó cũng là cách người ta truyền lại cho con cháu một thói quen, một giá trị, một cách sống. Tết của những ngày chưa xa, khi mọi thứ còn chậm rãi, khi người ta còn đủ kiên nhẫn để ngồi bên bếp lửa, chờ từng mẻ mứt ráo đường. 

Những ngày giáp Tết, gian bếp cũng ấm hơn. Tiếng chảo kêu xèo xèo. Ngào mứt cà rốt, mứt dừa, mứt đậu trắng, … mùi đường tan chảy quyện với mùi gừng, mùi dừa, mùi bột bánh thuẫn mới đổ, thơm ngào ngạt cả một khoảng không gian. Tiếng khuấy mứt đều tay, tiếng khuôn bánh chạm nhau khe khẽ. Người mẹ vừa làm vừa dạy con gái, con dâu cách đảo chảo sao cho khéo để mứt không bị cháy, cách cảm nhận độ đường để mứt “ngậm” vừa phải. Dù bận rộn đến mấy, nhiều gia đình vẫn giữ nếp tự ngào mứt, đổ bánh. Mùi đường sên mứt cà rốt cam rực, mứt dừa trắng tinh khôi, mứt đậu trắng bùi béo… quyện cùng mùi gừng, mùi vani thơm ngào ngạt. Đặc biệt nhất là tiếng "lách tách" của lửa than khi đổ bánh thuẩn. Cái mùi thơm nồng của trứng, của bột, của chút nồng nàn từ bếp lửa hồng làm cả gian bếp trở nên ấm áp lạ thường. Việc duy trì những thói quen ấy không chỉ để có thành phẩm cúng tổ tiên, tiếp đãi khách khứa ngày xuân, mà là cách để người mẹ, người bà truyền dạy lại cho con cháu cái "đạo" của sự tỉ mỉ, lòng hiếu khách và nét đẹp văn hóa truyền thống. Tết ở Huế, vì thế, không chỉ nằm ở mâm cao cỗ đầy, mà nằm ở sự sum vầy bên bếp lửa, cùng nhau làm nên những dư vị của mùa xuân.

thuyen chở hoa giay Thanh Tiên


Tết thực sự về trong lòng mỗi người, từ lúc nào không hay.
Ngoài kia, gió mùa đông bắc vẫn thổi, nhưng trong bếp, mùa xuân đã về từ lâu.

Tết Huế không ồn ào. Nó thấm dần vào từng góc phố, từng dòng sông, từng mái nhà rêu phong. Thấm vào cách người Huế nói với nhau nhẹ nhàng hơn, nhìn nhau lâu hơn trong những ngày cuối năm. Tết cũng là lúc người ta chậm lại, để nhớ. Nhớ người đã xa, nhớ những cái Tết cũ, nhớ một thời rộn ràng của con trẻ chạy chân trần, đá banh trên bờ sông Kẻ Vạn, ngửi mùi gừng thơm trong gió để biết Tết sắp về!

Và rồi, giữa tất cả những chuyển động ấy, tôi tự hỏi: Tết đã về trong lòng bạn hay chưa? Có thể bạn đang ở một thành phố khác, giữa những tòa nhà cao tầng, những con đường rực ánh đèn. Có thể bạn bận rộn với công việc, với những lo toan chưa kịp khép lại trước thềm năm mới. Nhưng chỉ cần bạn dừng lại một chút, lắng nghe lòng mình, biết đâu bạn sẽ nhận ra Tết đã đến từ lúc nào. Từ một mùi hương thoảng qua, một bài nhạc cũ vô tình nghe lại, một tin nhắn hỏi thăm, hay một ký ức bất chợt ùa về.

Tết không đợi chúng ta xong việc mới đến. Tết đến khi lòng người sẵn sàng mở cửa. Khi ta cho phép mình nhớ, mình thương, mình mong, mình hy vọng. Với tôi, Tết Huế luôn là một lời nhắc nhở dịu dàng: rằng giữa bao nhiêu đổi thay của thời gian, vẫn có những điều bền bỉ ở lại. Như mùi mứt gừng phảng phất bên sông Kẻ Vạn năm nào. Như hoa giấy Thanh Tiên vẫn nở trên những con đò sang ngang. Như mùa xuân, năm nào cũng về, chỉ chờ lòng người kịp nhận ra.

Vậy nên, nếu hôm nay bạn chợt thấy lòng mình xao xuyến không vì một lý do rõ ràng, nếu bạn bỗng muốn về nhà sớm hơn, muốn dọn dẹp lại một góc nhỏ, muốn thắp một nén hương cho ấm không gian… thì có lẽ, Tết đã về!

Còn tôi đã có câu trả lời cho riêng mình. Tết đã về trong lòng tôi, không phải khi lịch báo hiệu, mà là khi ký ức về Tết cũ được đánh thức.

Tết với tôi đã về từ những điều giản dị như thế. Nó nhắc nhở rằng, dẫu cuộc sống có hiện đại, có hối hả đến đâu, thì trong sâu thẳm tâm hồn mỗi người, vẫn cần một bến đỗ bình yên của hoài niệm, của tình thân và của những giá trị truyền thống được gìn giữ qua từng hơi thở, từng hương vị, từng sắc màu của quê nhà.

 

Saigon, ngày 3/2/2026

Hoàng Thị Bích Hà

 

* Sông Kẻ Vạn ở phía Tây Kinh thành Huế, được đào năm 1814-1815 dưới thời vua Gia Long, nối từ sông Hương qua Bạch Hổ đến sông An Hòa, từng tấp nập chiến thuyền và bến chợ xưa.

 

Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
04 Tháng Chín 20238:52 CH(Xem: 31332)
Mùa thu này, nhà thơ Hoàng Hưng và phu nhân trở lại thăm Thủ đô. Ông có gọi tôi cùng tới studio riêng của họa sĩ Trần Lương. Giữa cơn hứng trò chuyện với họa sĩ, ông tìm đến “quốc hồn quốc túy” qua sợi thuốc lào Vĩnh Bảo, và tôi đã chộp được một hình ảnh của ông để rồi chợt thấm một nỗi buồn…
05 Tháng Tám 20239:50 CH(Xem: 31968)
“Khi người ta 19 tuổi, người ta là bà hoàng” - đó là một câu trong bộ tiểu thuyết sử thi “Con đường đau khổ” của nhà văn Nga A. Tolstoy mà bố từng lấy làm đề từ cho bài cảm ngôn “Viết dành cho con gái năm con 19 tuổi” từ những năm bố còn là một chàng trai mơ mộng lang thang trên những nẻo rừng Tây Bắc. Vài chục năm sau, vào lúc con đọc những dòng này của bố, khi con chuẩn bị bước vào năm thứ hai đại học, cũng là lúc cả xã hội ta đang trong một cơn xáo động kinh hoàng với bao giá trị đảo lộn quay cuồng khiến những cô cậu sinh viên quen sống trong vòng tay gia đình che chở như con phải hoang mang, ngơ ngác, hoảng sợ…
09 Tháng Sáu 20234:29 CH(Xem: 34936)
Con gái tôi thích ăn canh ổ qua xắt mỏng nấu với tôm, khi chín bỏ chút hành ngò rắc chút tiêu, món ăn ngày xưa của mẹ con tôi hay nấu nhưng bây giờ tôi lại hay nấu canh rau mồng tơi với tôm vì bọn trẻ con thích món này hơn chúng chê canh ổ qua đắng. Ngày xưa, mỗi lần cúng giỗ nhà tôi hay nấu canh ổ qua nhồi thịt, món này ba má tôi đều thích ăn, cả chúng tôi cũng hưởng ứng nên ngày thường cũng nấu. Sau 75 lại ít có vì thời khốn khó mà, thứ gì cũng không dễ có mà ăn.
08 Tháng Ba 20236:56 CH(Xem: 36476)
Ai cũng ghét kẻ khoe khoang và gọi kẻ ấy là hợm hĩnh khó ưa. "Khoe khoang" có gọi là "phô bày" không? Có đó, vì cả hai đều đồng nghĩa như nhau nhưng tôi thấy kẻ phô bày lại đáng thương hơn là đáng ghét đó. Có ai trong đời này mà không hề có sự phô bày cho người ta thấy chứ, ta thích được người biết cùng, khen cùng ta những điều ta có. Bây giờ có facebook thì điều này thể hiện rõ nhất qua nút chia sẻ đó.
13 Tháng Hai 20232:24 SA(Xem: 33243)
Nhớ lại những tháng năm xưa thời còn ở quê nhà. Đêm giao thừa sau khi đặt mâm cúng xong cả nhà mình đều xuất hành về hướng đông đi lễ chùa, má mặc áo dài màu nâu còn mình và bọn trẻ lại mặc đồ tây bình thường theo má. Má lạy Phật lạy hương linh ông bà chùa Long Khánh rồi sang chùa Tâm Ấn cũng như thế. Mình nhớ ngày ấy trời trong lắm lại mang hương xuân lành lạnh, đường phố sạch đẹp và đâu đó vẫn còn lác đác vài người phu quét lá bên đường còn sót lại. Mình hít hương xuân ngày đầu năm mới vào hồn với cả hân hoan.
06 Tháng Giêng 202312:51 SA(Xem: 35213)
Nhà văn Doãn Quốc Sỹ là thầy dạy tôi. Thầy sinh năm 1923, năm nay tròn 100, còn tôi sanh năm 1936, thầy hơn tôi 13 tuổi, năm nay tôi cũng đã 87. Tính ra năm thầy dậy tôi cách đây đã đến 70 năm rồi. Ở cái thời mà ai cũng gọi người dậy học là “Thầy”, dù là từ lớp vỡ lòng cho đến hết lớp trung học chứ không gọi là “Giáo sư” như những năm sau này. Mà người đi học thì gọi là “Học trò” chứ ít ai gọi là “Học sinh”. Thầy dậy tại trường Chu Văn An năm nào, thì tôi được học thầy năm đó. Tôi không còn nhớ mấy năm, nhưng đọc tiểu sử của thầy, trên mạng Wikipedia cho biết thầy chỉ dậy ở trường CVA có một năm 52-53, sau khi thầy dậy ở Nam Định một năm 51-52. Trang mạng này, có ghi thầy di cư vào Nam năm 54, đoạn sau lại ghi thầy dậy trường Trần Lục tại Saigon năm 53-60. Tôi không nghĩ rằng hai trường Công Giáo Trần Lục và Hồ Ngọc Cẩn dọn vào Saigon trước năm 54.
05 Tháng Giêng 202311:09 CH(Xem: 35025)
Võ Tòng Xuân, sinh ngày 6 tháng 9 năm 1940 (tuổi con rồng / Canh Thìn), tại làng Ba Chúc trong vùng Thất Sơn, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Xuất thân từ một gia đình nghèo với 5 anh em. Học xong trung học đệ nhất cấp, VTX lên Sài Gòn sớm, sống tự lập, vất vả vừa đi học vừa đi làm để cải thiện sinh kế gia đình và nuôi các em... Miền Nam năm 1972, đang giữa cuộc chiến tranh Bắc Nam rất khốc liệt – giữa Mùa Hè Đỏ Lửa, Đại học Cần Thơ lúc đó là đại học duy nhất ở Đồng Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL), được thành lập từ 31/03/1966 thời Việt Nam Cộng Hòa đang trên đà phát triển mạnh, và đã có khóa tốt nghiệp đầu tiên ra trường (1970). Võ Tòng Xuân đã được GS Nguyễn Duy Xuân (1970-1975) – là Viện trưởng thứ hai sau GS Phạm Hoàng Hộ (1966-1970), viết thư mời ông về phụ trách khoa nông nghiệp – lúc đó trường vẫn còn là có tên là Cao Đẳng Nông nghiệp, với tư cách một chuyên gia về lúa.
11 Tháng Mười Một 202212:24 SA(Xem: 36817)
Mưa rơi trong màn hình laptop, tôi thèm nghe tiếng mưa. Đêm nay. Mưa Cali hiếm hoi, cứ như chẳng bao giờ muốn có. Nhưng dù đã cố gắng cách mấy, tôi vẫn không thể nhận ra cái rì rào ướt át, chút rét mướt của gió đêm, qua những giọt “mưa giả”, ” mưa máy móc”, “ mưa trong computer”.
01 Tháng Mười Một 202212:25 SA(Xem: 34755)
Sáng sớm, ông bác sĩ quản lý vào phòng báo tin: sau khi hội ý với các bác sĩ chuyên khoa, tất cả đồng ý để tôi xuất viện vào trưa hôm nay và một tháng sau trở lại tái khám. Thú thực, tôi mừng lắm, nghĩ mình đã được sinh ra lần thứ ba! Lần đầu, vào lúc khởi diễn cuộc Thế Chiến Thứ Hai, Mẹ sinh tôi tại một làng quê thuộc Tỉnh Hải-Dương, miền Bắc Việt-Nam; lần thứ hai cách đây bốn mươi năm, là lúc tôi được phóng thich khỏi trại tù Vĩnh-Quang, một trong những nơi giam giữ các sĩ quan miền Nam, dưới chân núi Tam-Đảo thuộc tỉnh Vĩnh-Phú, cũng tại miền Bắc Việt-Nam. Và lần này, lần thứ ba được sinh ra, là ngày tôi xuất viện, sau một thời gian trị liệu nhiều “gian khổ”, “cam go” tại một bệnh viện nổi tiếng ở Houston, Texas.
05 Tháng Mười 20225:58 CH(Xem: 10353)
Thật khó ngỡ tôi có thể sống tới tuổi 80—dù chỉ lả tuổi khai sinh. Cha mẹ cho tôi “mang tiếng khóc bưng đầu mà ra” ngày mồng 6 tháng 10 năm Nhâm Ngọ —tức 13/11/1942—tại Phụng Viện thượng, tục gọi là Me Vừng, quận Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Tuy nhiên, sau ngày cha thoát khỏi những trại tù khổ sai của Việt Cộng, định cư tại tỉnh lỵ Hải Dương hoang tàn, đổ nát, rổi dàn xếp cho mẹ và hai anh em tôi trốn ra đoàn tụ, khi làm giấy thế vì khai sinh hai anh em tôi đều được khai sinh với năm tây lịch, và ngày tháng âm lịch. Ngày sinh trên giấy tờ trở thành 6/10/1942. Bởi thế, từ buổi di dân qua Mỹ, mỗi năm tôi có tới ba sinh nhật. 6/10, 13/11 và một ngày tây lịch nào đó tương ứng với ngày 6/10 âm lịch. Vợ tôi—người tình đầu đời từ trại Bác Ái xóm Cây Quéo, Gia Định 62 năm trước, cũng nguổn cảm hứng của những vần thơ khởi đầu văn nghiệp—thường tăng khẩu phần lương thực với lời chúc..