- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: tapchihopluu@aol.com
Tác Giả
Tìm đọc

KHALY CHÀM: KHI THƠ BIẾN THÀNH TỪ TRƯỜNG CỦA VÔ THỨC

23 Tháng Tư 20262:45 CH(Xem: 1661)



khaly chàm -2021
Nhà thơ Khaly Chàm -2021



Khaly Chàm:
Khi Thơ Biến Thành Từ Trường Của Vô Thức

Tiểu luận văn học Nhung Le

 

Có những thời đại mà thi ca không còn muốn kể chuyện theo trật tự của lý trí. Nó muốn bẻ cong ngôn ngữ, đánh tráo ánh sáng và bóng tối, khiến câu chữ tự vận hành như một cỗ máy mộng du. Đầu thế kỷ XX, khi châu Âu còn choáng váng sau Thế chiến thứ nhất, André Breton và Philippe Soupault viết Les Champs Magnétiques (1919) — văn bản khai sinh cho chủ nghĩa siêu thực. Breton sau này gọi siêu thực là “tự động tâm linh thuần túy nhằm diễn đạt hoạt động thực sự của tư duy,” và trong Tuyên ngôn Siêu thực (1924), ông nêu mục đích “hòa giải giấc mơ và hiện thực thành một siêu thực tế.” Lý trí không bị xóa bỏ, nhưng được buộc ngồi xuống đối thoại với vô thức.

 

Trong Les Champs Magnétiques, nơi “những sân ga chết” và “bầy chó vương không bao giờ già đi”, người đọc có thể không hiểu theo nghĩa đen, nhưng vẫn bị cuốn vào một nhịp cảm xúc mơ hồ. Giữa rời rạc và phi lý, ngôn ngữ bắt đầu tỏa sáng. Chính ở đó, siêu thực ra đời: không đại diện cho mộng tưởng, mà phát lộ một hiện thực khác – bí ẩn và mãnh liệt như trạng thái mê đi. Breton gọi đó là “vẻ đẹp co giật” – một thứ mỹ học khiến ta bất an nhưng không thể rời mắt.

 

Trong văn học Việt Nam, khi nhắc tới “điên” mà vẫn được tôn xưng như một hiện tượng, không thể quên Bùi Giáng – thi sĩ của đứt gãy và đắm say ngôn từ. Phạm Công Thiện từng nói một cách cực đoan rằng: “Tất cả sách vở nên đốt hết, trừ sách của Henry Miller ở Mỹ và Bùi Giáng ở Việt Nam.” Lời tán dương ấy, dù có phần ngông, vẫn cho thấy Bùi Giáng đã chạm đến một biên giới khác của thơ ca. Ở ông, thơ không kể chuyện mà tạo ra một thế giới dao động giữa thực và mộng, giữa rạch ròi và rối loạn.

 

Hoàng hôn cơn mộng tháp tùng

Từng vô duyên gọi bóng nùng diễm qua...

 

“Bóng nùng diễm” là ai? “Nguyệt hoa” ở đâu? Không ai biết. Nhưng trong nhịp ngân của “mộng – nguyệt – sương – thuyền quyên”, người đọc nghe thấy tiếng ngân vô thức. Thơ Bùi Giáng không cần được hiểu; nó cần được nghe, được cảm như bản nhạc của những từ.

 

Cùng mạch ấy, nhà thơ Lê Tuân – bạn học đồng khóa nhưng khác khoa với tôi trước 1975 – từng viết trong thi phẩm Lang Thang:

 

quốc tịch liên thiên hà

là hạt bụi lang thang

đã

đi

về

mấy trần gian...

 

Cấu trúc bị phá vỡ, câu thơ rơi tự do như hạt bụi du hành giữa các thế giới. “Quốc tịch liên thiên hà” – một công dân của vũ trụ hay linh hồn vô xứ? Người viết không kể truyện mà mở cửa cho những cảm giác chưa gọi tên. Đó là bước chuyển – từ siêu thực phương Tây đến cảm quan Việt Nam về sự lạc lõng, phân mảnh.

 

Từ mạch nguồn ấy, Khaly Chàm hiện ra như người tiếp biến mạnh mẽ nhất. Thơ anh xuất hiện thường xuyên trên các tạp chí như Hợp Lưu, Tiền Vệ, Văn Chương Việt, Quán Văn… Anh còn viết truyện, biên khảo, phê bình, nhưng trên hết, Khaly Chàm là thi sĩ của những vết thương chưa khép miệng.

 

Lần đầu tôi đọc anh là bài Bốn Mươi Năm Của Hai Thế Kỷ — một tiếng vọng thời gian kể từ tháng Tư 1975. Nếu không biết bối cảnh, người đọc sẽ lạc giữa những hình ảnh dữ dội; nhưng biết rồi cũng chẳng thể nắm hết, bởi thơ anh không thuật lại lịch sử, mà để lịch sử thấm vào chính thân thể người viết.

 

...mùi thối rữa của đêm đen vẫn bám lì trên khuôn mặt

tôi cùng với những bóng ma đang hít thở khí trời...

 

“Bóng ma” là ai? Chính chúng ta chăng – những người sống sót của ký ức? Ở đoạn khác:

 

...hôm nay cúi nhặt những mảnh vỡ mặt trời

mai mốt biết có còn dịp để khâm liệm phô diễn một đám tang...

 

“Mặt trời” – biểu tượng của hy vọng – nay đã vỡ nát, và thi sĩ chỉ còn cúi xuống lượm lại những mảnh sáng rách nát của quá khứ. Tới cao trào:

 

...bốn mươi năm chợt cháy bùng ngọn lửa

tôi tự thiêu cùng hai chữ tự do...

 

“Tự do” trở thành tín ngưỡng vừa cứu rỗi, vừa tự hủy. Ngọn lửa ấy không chỉ thiêu thân, mà thiêu cả một kỷ nguyên. Nếu Breton hòa giải giấc mơ và hiện thực, Khaly Chàm lại bắt hiện thực phải soi vào chính cơn ác mộng của nó.

 

Khác với Bùi Giáng, người tìm khoái cảm trong cơn điên, Khaly Chàm viết bằng nỗi tỉnh thức. Ngôn ngữ của anh không bay bổng mà lặn sâu; trong đó, lịch sử và bản ngã đối thoại trong tiếng khói thầm lặng.

 

Tập Đi Ra Từ Gương Chiếu – tôi hân hạnh được anh tặng – đưa người đọc đến một vùng sáng khác: sâu, lặng, và bình thản hơn.

 

gần hết cuộc đời

anh nhìn thấy mình lặng lẽ nhưng rực sáng...

 

“Lặng lẽ nhưng rực sáng” – một nghịch lý đẹp, tựa tia sáng cuối cùng lóe lên trong hoàng hôn. “Gương chiếu” là gì? Là mặt nước ký ức, là mạng ảo phản chiếu đời người, hay là tâm thức đang nhìn thấy chính mình?

 

...câu hỏi thì thầm như tiếng ru hồn từ vô biên

và đột nhiên hóa đôi cánh trên môi...

 

Ở đây, “câu hỏi” – hình ảnh của lý trí – bỗng mọc cánh, trở thành thi hứng. Khi tư duy bay, cảm xúc được thăng hoa; tình yêu trở thành mặc khải hơn là sự kiện.

 

em. người phụ nữ trên đỉnh khói sương bước xuống

chúng ta nắm tay nhau đi ra từ gương chiếu...

 

Khói sương – tượng trưng cho ảo ảnh – tan dần khi người phụ nữ bước xuống đời thực. “Đi ra từ gương chiếu” – bước khỏi ảo ảnh để chạm vào chân thực. Siêu thực lúc này không còn là kỹ thuật của hình ảnh, mà là hành trình từ ảo sang thực, từ phản chiếu sang hiện thân.

 

Khaly Chàm mang trong mình dòng máu Chàm – nền văn minh một thời huy hoàng rồi lụi tàn. Có lẽ vì thế, thơ anh thấp thoáng nỗi ám ảnh về đổ nát và tái sinh. Những tháp Chàm gạch đỏ giữa nắng gió miền Trung như ký ức bền dai của những linh hồn không chịu yên nghỉ.

 

Trong bài Về quê nhìn qua Kompong Cham, anh viết:

 

...tạ ơn đất tháng năm dài dựng mộ

ngày trở về dấu tích đá xanh rêu

xứ sở ơi, hồn ta hóa nắng chiều!

hồng những hạt phù sa nơi bến đổ...

 

Không còn những cú sốc ngôn từ, chỉ còn lời tạ ơn đất, thời gian và nguồn cội. “Hồn ta hóa nắng chiều” – con người tan vào cảnh vật, hòa cùng quê hương, như một hành động hòa giải với chính ký ức tập thể.

 

Khi đọc thơ Khaly Chàm, tôi từng nghĩ mình “chưa cảm được gì cả.” Nhưng khoảng lặng ấy chính là không gian để thơ thấm sâu. Thơ anh không dành cho tốc độ; nó đòi người đọc sống chậm, kiên nhẫn với điều chưa thể hiểu. Và đó, có lẽ, là hành vi siêu thực của thời đại hôm nay – khi ta cần niềm tin vào cái chưa lý giải được.

 

Siêu thực, xét cho cùng, không chỉ là trường phái nghệ thuật mà là thái độ sống. Khi hiện thực trở nên chật hẹp, con người phải mở thêm cánh cửa khác cho giấc mơ và ký ức. Breton tin vào vô thức; Bùi Giáng tin vào cơn điên; Khaly Chàm tin vào ký ức và tự do.

 

Có người hỏi: thơ bí hiểm để làm gì? Liệu có cần làm khó người đọc? Tôi nghĩ, thơ không có nhiệm vụ làm vừa lòng ai; nó chỉ cần trung thành với tiếng nói sâu nhất của mình. Rimbaud từng nói: “Je est un autre” – “Tôi là một kẻ khác.” Thơ, vì thế, không còn là lời kể của cái tôi ổn định, mà là sự vọng âm giữa nhiều tầng ý thức.

 

Khaly Chàm bước trong truyền thống ấy nhưng giữ dấu ấn riêng. Anh không tìm sự tối nghĩa để gây ấn tượng. Hình ảnh của anh, dù mơ hồ, vẫn bám rễ vào đời sống, vào thân phận con người – có khói, có lửa, có mộ phần, có phù sa. Thơ anh không bay lên khỏi mặt đất, mà lay động đất ấy bằng nhịp thở vô thức.

 

Và hơn hết, tôi tìm thấy ở Khaly Chàm một sự can đảm hiếm có: can đảm nhìn thẳng quá khứ, can đảm gọi tên tự do, can đảm bước ra khỏi “gương chiếu” để nắm lấy một bàn tay thật.

 

Khi khép lại những trang thơ ấy, tôi không chắc mình đã hiểu, nhưng chắc rằng mình đã bị chạm – bởi một từ trường của ngôn ngữ sống, nơi thơ không chỉ là hình ảnh mà là ký ức đang hít thở. Và trong từ trường ấy, Khaly Chàm lặng lẽ mà rực sáng — như chính câu thơ anh từng viết.

NHUNG LÊ


Gửi ý kiến của bạn
Tên của bạn
Email của bạn
09 Tháng Tám 20245:10 CH(Xem: 25279)
TÌNH SẦU là bài thơ nổi tiếng nhất và hay nhất của nhà thơ Huyền Kiêu. Ông tên thật là Bùi Lão Kiều (Có lẽ bút danh Huyền Kiêu xuất phát từ tên của ông là Kiều: Kiêu huyền thành Huyền Kiêu), sinh năm 1915, nguyên quán ở tỉnh Hà Đông (cũ). Ngoài viết văn, làm thơ ông còn cộng tác với nhiều báo ở Hà Nội. Ông công tác ở tạp chí Văn Nghệ (HNV), nhà xuất bản Văn học (HLHVHNTVN). Những tác phẩm của Huyền Kiêu: Sang xuân (1960), Mùa cây (1965), Bầu trời (1976). Sau 30 Tháng Tư năm 1975 ông vào Sài Gòn sinh sống. Ông mất ngày 8 tháng 1 năm 1995 (Ất Hợi), hưởng thọ 80 tuổi.
21 Tháng Bảy 202410:42 CH(Xem: 22293)
Ngày 5 tháng 8, 2024 sắp tới đây, đúng vào sinh nhật thứ 76 của cựu TT Samdech Techo Hun Sen, hiện là Chủ Tịch Thượng viện, lãnh đạo đảng Nhân Dân Cam Bốt (CCP), được con trai trưởng của ông là TT Hun Manet chọn là ngày Lễ Động Thổ khởi công Dự án Kênh đào Funan Techo – đang được rầm rộ chuẩn bị như là một ngày lễ hội lớn, với đốt pháo hoa và chiêng trống nổi lên từ khắp các chùa chiền cùng với lời cầu nguyện của giới sư sãi trên toàn Vương quốc Cam Bốt. Nhưng với cái giá môi sinh nào phải trả cho cả hai dân tộc Khmer và Việt Nam đang hiển lộ và không còn là những ẩn số.
05 Tháng Bảy 202410:27 CH(Xem: 24791)
Nhắc đến Ông trước hết là tác giả của những bài thơ nổi tiếng đã đi vào lòng người như: Hò hẹn mãi cuối cùng em cũng đến, Viên xúc xắc mùa thu, Chiếc lá cuối cùng…trong những tập thơ đã xuất bản.
05 Tháng Bảy 202410:07 CH(Xem: 21584)
Nếu không được xem cái clip mà tôi tin là chẳng thể bịa đặt nọ, thì tôi không thể tin nổi, không thể hiểu nổi, một giảng viên tự nhận có 30 năm dạy luật mà tán tụng luận án TS. của học viên TCQ như thế này: “Tôi cảm thấy người viết luận án không chỉ trí tuệ mà vô cùng tâm huyết, nếu dành lời khen thì có rất nhiều lời khen vượt ra khỏi ngôn ngữ…”
26 Tháng Sáu 202412:46 CH(Xem: 27094)
Thoại vẫn luôn luôn nghĩ là không thể để Ba tiếp tục sống một mình trong căn nhà ấy, nhất là từ ngày Mẹ Yến mất (27.04.2024). Từ 2015, khi Mẹ không thể tiếp tục sống với Ba nơi căn nhà thân yêu trên đường Coolidge, do bác sĩ gia đình bảo phải đưa Mẹ vào Ashbrook Nursing Home vì nhu cầu cần được chăm sóc 24 giờ/ ngày và 7 ngày/ tuần. Thoại đã phải lắp cameras khắp nhà: từ phòng khách tới phòng ngủ, từ nhà bếp tới phòng tắm, và cả dưới basement nơi Ba Thoại nhiều khi mất ngủ, xuống đó loay hoay in ấn mấy cuốn sách suốt đêm cho tới sáng.
05 Tháng Năm 202411:41 CH(Xem: 25444)
Cô em bên Texas gửi text về một bản tin CNN tường trình việc các nhà ngoại giao Âu châu giành nhau gặp gỡ các đồng minh của cựu Tổng thống Donald Trump, người coi như sẽ được đề cử đại diện Đảng Cộng hòa ra tranh cử tổng thống tháng 11 tới, để thăm dò. Cùng lúc, báo chí loan tin ngoại trưởng Anh David Cameron đã tới tận tư dinh của ông Trump ở Florida để tham khảo về cuộc chiến tại Ukraine và xung đột Israel-Gaza. Tôi đoán các bản tin khiến cô lo ngại về một Trump 2.0, như thể điều đó sẽ phải xẩy ra thôi.
22 Tháng Tư 20242:54 CH(Xem: 27401)
Tối thứ sáu 23/2/2024, chị Duyên gửi cho tôi link bài thơ “Tạm biệt một căn phòng” [1] của anh Phạm Cao Hoàng ghi gửi anh Trương Vũ./ Căn phòng này / chiếc bàn này / nơi chúng ta đã từng ngồi / nâng ly / chúc mừng một bức tranh vừa hoàn tất / chúc mừng một cuốn sách vừa in xong / chào mừng một người bạn từ phương xa đến /
22 Tháng Tư 20241:03 SA(Xem: 25493)
Lời Giới Thiệu: Ủy Ban Sông Mekong Việt Nam thông báo sẽ tổ chức một cuộc họp tham vấn vào ngày 23/04/2024 tại thành phố Cần Thơ về Dự án Kênh đào Funan Techo. Việt Ecology Foundation xin giới thiệu một bài viết của BS Ngô Thế Vinh về Dự án đang gây nhiều tranh cãi này. Ông là người từ rất sớm gióng lên tiếng chuông cảnh báo về hiểm họa của các đập thủy điện thượng nguồn sông Mekong, đã viết nhiều bài khảo luận và là tác giả hai cuốn sách Cửu Long Cạn Dòng Biển Đông Dậy Sóng (2000) và Mekong Dòng Sông Nghẽn Mạch (2007). Ông cũng được biết tới như một nhà hoạt động môi sinh bền bỉ từ ngót 30 năm nay, với mối quan tâm bảo vệ hệ sinh thái sông Mekong và ĐBSCL.
19 Tháng Tư 20246:57 SA(Xem: 30234)
Sáng sớm Chủ Nhật, điện thoại gõ nhẹ, nhìn vào messenger thấy dòng chữ nhắn tin từ chú Khánh Trường: “Tập thơ in xong rồi. Ghé lấy nhé.” 30 phút sau tôi ghé nhà, chú chỉ lên kệ sách: “Chỉ mới in 3 cuốn. Cháu cầm 1 cuốn về đọc trước.” Mở trang đầu dưới dòng chữ THƠ KHÁNH TRƯỜNG là hàng chữ “Tặng cháu, Nina Hòa Bình Lê”. Cảm động. Bài viết này xin có lúc được gọi Chú, xưng cháu.
15 Tháng Tư 202410:16 SA(Xem: 27303)
Vòng Tay Học Trò là tác phẩm tiêu biểu của nữ văn sĩ Nguyễn Thị Hoàng, được đăng nhiều kỳ trên tạp chí Bách Khoa năm 1964. Tác phẩm được công chúng nồng nhiệt đón nhận và theo đó cũng hứng nhiều luồng ý kiến khác nhau, càng làm cho tác phẩm nổi tiếng hơn. Chính vì vậy, từ khi xuất hiện, tác phẩm đã gây được tiếng vang lớn, làm xôn xao dư luận trong giới chuyên môn và công chúng độc giả, Hàng chục năm sau, lúc chúng tôi còn nhỏ, chưa đọc tác phẩm đã thuộc tựa đề vì Vòng Tay Học Trò gắn liền với tên tuổi tác giả. Nói đến Nguyễn Thị Hoàng người ta nhớ đến Vòng Tay Học Trò.