- Tạp Chí Hợp Lưu  Fountain Valley, CA 92708 - USA Điện thoại: (714) 381-8780 E-mail: [email protected]
Tác Giả
Tìm đọc

“NHẤT TƯỚNG CÔNG THÀNH VẠN CỐT KHÔ” (Một cảm nghĩ về phim “Mưa Đỏ”)

Thursday, September 11, 202510:04 PM(View: 14653)
MUA DO - NAT
MƯA ĐỎ


Trần Thuận Thanh

“NHẤT TƯỚNG CÔNG THÀNH VẠN CỐT KHÔ”

(Một cảm nghĩ về phim “Mưa Đỏ”)

 

Hơn hai tuần qua, bộ phim “Mưa Đỏ” đã tạo nên một hiệu ứng truyền thông chưa từng có trong lịch sử Điện ảnh Việt - vượt rất xa phim “Địa đạo - mặt trời trong lòng đất” từng làm mưa làm gió phòng vé mấy tháng trước, và tạo nên một đợt sóng dư luận mới - trong đó, khen nhiều hơn chê, chủ yếu là khen ăn theo dư luận; và cái “Khen” chủ yếu dựa trên một định đề quen thuộc nằm trong “chiến lược truyền thông” chính thống lâu nay ăn vào não trạng phần đông dân Việt: “Cần mô tả, ca ngợi sự hy sinh mất mát to lớn để hiểu cái giá của Hòa Bình, Độc lập - Tự do”…

Nhưng cho đến giờ này, giới chuyên môn bên Điện ảnh vẫn chưa có một tiếng nói chính thức nào về phim “Mưa Đỏ”. Mới xuất hiện ngày một nhiều ý kiến của người “trong cuộc” từng tham gia cuộc chiến Thành Quảng Trị vạch rõ sự sai lệch, xuyên tạc về lịch sử của tiểu thuyết “Mưa Đỏ” và phim ăn theo tiểu thuyết. Và giữa “Cơn sốt phòng vé” chưa hạ nhiệt, đã có những tiếng nói khá chuyên nghiệp phân tích chí lý về sự non kém nghề nghiệp của một nữ đạo diễn quân đội xuất hiện như một “ánh sao băng chói lọi” nhưng trước đó chẳng ai biết đến tên tuổi (trong hệ thống phim Nhà nước tài trợ “khủng” chủ yếu dành cho con cháu các “công thần”, như “Truyền thuyết Quán Tiên” (của đạo diễn mới ra trường là con cháu lãnh đạo cao cấp), “Bình Minh đỏ” (đạo diễn là NSND, con của một NSND là “thủ lĩnh” cũ của ngành phim truyện VN, v.v.). Và nữ nghệ sĩ mang hàm thượng tá này với tư cách đạo diễn của một bộ phim thực chất là “minh họa” một cách công phu, cầu kỳ, tốn kém cho tư tưởng “Chiến thắng bằng mọi giá” của những người ở “đẳng cấp” tự cho mình mang sứ mệnh “Người lính Tiên phong của Tiền đồn XHCN” (Vui gì hơn làm người lính đi đầu - Tố Hữu)…

Ở góc độ một khán giả bình thường đang làm công tác giáo dục & nghiên cứu văn hóa, tôi chỉ xin gợi ra chút ít về điều này: Bộ phim “Mưa Đỏ” được làm ra để làm gì, có ý nghĩa gì trong giai đoạn người ta vẫn gọi là “tiếp tục hằn gắn vết thương chiến tranh” và “hòa hợp hòa giải dân tộc thực sự”? Nhất là bộ phim (và tiểu thuyết) đã rơi vào quỹ đạo là tuyên truyền cho cái điều hàng thập kỷ nay thiên hạ phản bác, ghê sợ: “Nhất tướng công thành vạn cốt khô” mà nhà thơ Nguyễn Khôi trước đây từng nhắc lại qua bài thơ thời Đường là “Kỷ Hợi tuế” (Tào Tùng):

Trạch quốc giang sơn nhập chiến đồ,

Sinh dân hà kế lạc tiều tô.

Bằng quân mạc thoại phong hầu sự,

Nhất tướng công thành vạn cốt khô.

( Dịch nghĩa:

Xứ có nhiều sông hồ rơi vào cơn chiến loạn,

Dân đen làm sao có thể yên vui sinh sống?

Các ông đừng có nói về chuyện phong hầu nữa,

Vì một tướng vinh danh thì có vạn xương khô vì loạn lạc).

và ông Nguyễn Khôi dịch thơ:

Năm Kỷ Hợi :

Giang Nam cuộc chiến đã bùng

Dân đen nào biết đến vùng nào yên?

"Phong hầu" thôi, chớ rùm beng

Một anh nên Tướng, vạn tên rơi đầu.

Rồi nhà thơ giải thích sơ qua nhưng gói gọn hồn cốt của một bài thơ nói lên sự thật: Bài thơ của Tào Tùng là vịnh sự việc vào năm Kỷ Hợi Tuế (879), Trấn Hải Tiết Độ Sứ là Cao Biền cầm quân giết hại tàn khốc quân khởi nghĩa Hoàng Sào… Người kiếm cỏ (Tiều Tô) nơi yên hàn đã nói với Bằng quân: "Xin anh chớ nói chuyện phong hầu" bởi vì điều đó thật đáng sợ - đó là thứ "giãi thây trăm họ làm công một người" - Đó là câu thơ cảnh báo "vạn cốt khô" là tội ác của chiến tranh. Chữ "cốt" là nhỡn tự "chữ mắt" thật rợn người… (Theo: thivien.net).

Chỉ cần đọc lại, đọc thêm một vài tư liệu lịch sử đáng tin cậy thì ta nhận ra ngay cái ý chí & kết quả của tinh thần phi nhân “Nhất tướng công thành vạn cốt khô” nói trên, và nó đã vô tình được minh họa, rồi được quảng bá rầm rộ trong một phim “bom tấn” xét cho cùng là loại phim “Cúng cụ” mang tên “Mưa Đỏ” ra sao:

“TRẬN CHIẾN Ở THÀNH CỔ QUẢNG TRỊ"

Giáo sư K. W. Taylor viết:  “Vào mùa Xuân năm 1972, Hà Nội huy động toàn bộ tiềm năng quân sự để mở một cuộc tổng tấn công ở miền Nam với hy vọng giành chiến thắng ngay tức khắc. Quân lực Việt Nam Cộng hoà đã đánh bại cuộc tấn công của bộ đội miền Bắc với sự hỗ trợ về hậu cần và sự yểm trợ của Không quân Mỹ” (A History Of The Vietnamese).

Trong tác phẩm Vietnam - A History (1983), nhà báo Stanley Karnow đã viết về cuộc chiến mùa Hè năm 1972 và trận chiến ở Thành cổ Quảng Trị: “Những người Cộng sản có nhiều lý do khi chuẩn bị cuộc tấn công vào đầu năm 1972. Họ hy vọng có thể ảnh hưởng tới chiến dịch tranh cử Tổng thống ở Mỹ và khi đã khởi đầu chiến dịch quân sự, họ hy vọng sẽ được Trung Quốc và Liên Xô tiếp tục hỗ trợ khi họ đã chứng minh khả năng chiến đấu của mình.

Nhưng trên tất cả, động lực mới liên quan tới một vấn đề cốt yếu: thế quân bình lực lượng giữa hai phía sẽ ảnh hưởng ra sao tới những cuộc đàm phán với Mỹ.

Và một lần nữa, nó lại cho thấy niềm tin của những người Cộng sản rằng chiến thắng quân sự quyết định thành công trong ngoại giao. Nếu họ giáng được một đòn trí mạng cho quân đội Sài Gòn, họ sẽ cho thấy sự thất bại của chủ trương Việt Nam hoá Chiến tranh và thuyết phục Mỹ tin rằng chỉ có thỏa thuận đạt được theo những điều kiện họ đưa ra là lối thoát duy nhất để chấm dứt cuộc chiến.

Báo Tiền Phong khẳng định rằng những chiến thắng trên chiến trường là ‘chìa khoá để đạt được sự dàn xếp về chính trị. Khi cái đầu qua được thì cái đuôi sẽ lọt’.

Vào ngày 30.3.1972, những người Cộng sản mở 3 đợt tấn công liên tiếp, huy động 120.000 bộ đội chính quy miền Bắc và mấy ngàn binh lính Mặt trận Giải phóng miền Nam để tiến hành cuộc tổng tấn công:

Đợt tấn công thứ nhất nhắm vào các tỉnh phía Bắc của miền Nam Việt Nam; đợt tấn công thứ hai nhắm vào các tỉnh cao nguyên và vùng duyên hải; đợt tấn công thứ ba nhắm vào Saigon và các vùng phụ cận.

Dù đã có nhiều thông tin tình báo, các chỉ huy Mỹ và Nam Việt Nam thật sự sửng sốt trước mức độ ác liệt và sự dài lâu của các cuộc tấn công, và cú sốc này lan tới cả các viên chức cao cấp ở Washington. 5 tuần trước đó, Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laird nói với các  dân biểu Hạ viện Mỹ rằng ‘những cuộc tấn công của Bắc Việt và Việt Cộng trên khắp miền Nam là điều bất khả’. Những trận đánh ác liệt chưa từng thấy ở một số nơi sẽ kéo dài tới tháng 6, gây ra thương vong rất lớn cho binh lính hai phía và các thường dân.

Quân đội Bắc Việt tập trung nỗ lực tấn công mạnh mẽ ở tỉnh phía Bắc của miền Nam Việt Nam.

Được trang bị trọng pháo của Liên Xô, rốc-két và xe tăng, 15.000 binh lính Bắc Việt tấn công từ 3 mũi: phía Đông từ Lào, từ Cambodia qua thung lũng Ashau và từ phía Bắc qua vùng phi quân sự. Sĩ quan chỉ huy vùng này là Trung tướng Hoàng Xuân Lãm - một sĩ quan kém năng lực đã rút lui thảm hại hồi năm ngoái trong chiến dịch Hạ Lào, được Tổng thống Thiệu giao quyền chỉ huy vì lòng trung thành với ông.

Tổng thống Thiệu miễn cưỡng thay tướng Hoàng Xuân Lãm bằng một sĩ quan chỉ huy có năng lực hơn là Trung tướng Ngô Quang Trưởng. Tuy nhiên tướng Trưởng không tập hợp được binh lính của một trong hai sư đoàn của ông kinh hãi trước cuộc tấn công ác liệt của bộ đội Bắc Việt.

Bộ đội Bắc Việt chiếm được thành cổ Quảng Trị vào ngày 1 tháng 5 và giữ được cho tới tháng 9. Họ không muốn tiến về phía thành phố Huế, một phần vì hậu cần không cho phép họ thực hiện điều này và một phần cũng vì cuộc tấn công của họ chỉ nhằm mục đích chính trị.

Con đường ven biển từ Quảng Trị đi về phía Nam được gọi là ‘Đại lộ Kinh hoàng’ vì trọng pháo của bộ đội Bắc Việt và các tàu chiến của Mỹ ngoài khơi và máy bay đã giết chết hơn 2.000 thường dân và binh lính của quân đội Sài Gòn.

Dưới sự chỉ huy của Trung tướng Ngô Quang Trưởng, Quân đoàn 1 được tăng cường Lực lượng Tổng trừ bị của Quân lực Việt Nam Cộng hòa và được yểm trợ từ xa bởi Đệ thất Hạm đội của Mỹ ở ngoài khơi và Không quân Mỹ đã đẩy lui quân đội Bắc Việt, tái chiếm Thành cổ Quảng Trị và các phần đất ở phía Nam sông Thạch Hãn.

Tổng thống Nixon đã viết: ‘Vấn đề thật sự là Bắc Việt sẵn sàng hy sinh để giành chiến thắng trong khi miền Nam Việt Nam không muốn trả một cái giá quá cao như vậy để tránh thất bại’. Điều Nixon nói cũng là điều ám ảnh người Mỹ từ khi bắt đầu can thiệp ở Việt Nam. Những người Cộng sản sẵn sàng chịu thương vong rất lớn để giành những thắng lợi rất nhỏ nhoi. Số thương vong của quân đội Bắc Việt trong cuộc tổng tấn công năm 1972 là 50.000 người chết và khoảng 50.000 người bị thương” (Vietnam - A History, tr. 639, 640, 642)

Tài liệu tổng kết Chiến dịch Mùa hè 1972 của Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam (mã số KHTM/1972-BQP) cho biết: “Chúng ta đã thiệt hại nặng nề nhất kể từ sau Tổng tiến công Mậu Thân năm 1968 mà cần phải một thời gian chừng 4 năm nữa mới có thể khôi phục lại”.

Ước chừng 225 xe tăng cùng pháo hạng nặng bị phá hủy. Theo Sổ tay Tác chiến: “Ta hy sinh 10.767, mất tích 1.550, bị bắt 98, bị thương 27.573, đào lạc ngũ 5.957, hàng 136. Tổng cộng là 46.081. Thiệt hại binh lực có thể nói là lớn nhất so với tất cả các chiến dịch trong hai cuộc kháng chiến"…

“Chiến sĩ hầu hết là sinh viên học sinh các trường đại học. Rất nhiều sinh viên Thủ đô Hà Nội xung phong vào chiến trường” (số liệu theo FB Tạ Ngọc Vinh).

(FB Huỳnh Duy Lộc).

 

Xin đọc thêm một số ý kiến khách quan & công tâm về phim “Mưa Đỏ”:

-       https://www.facebook.com/100004289162781/posts/3334705313349075/?rdid=ieGfmCPAhDsxBJip#

-       https://www.facebook.com/61561107727129/posts/122176806122370257/?rdid=HQpQCT3O7RvIYVNC#

-       https://www.facebook.com/100004427675316/posts/3304634699694087/?rdid=aG7kkNiGonOvMoJL#

-       https://www.facebook.com/61561107727129/posts/122177129690370257/?rdid=FOg5PLLatnkdq8Sz#
v.v.

Hà Nội, đầu tháng 9.2025

Trần Thuận Thanh

Send comment
Your Name
Your email address
Saturday, August 3, 201910:10 PM(View: 46628)
Khi cuộc đấu tranh giành quyền con người đang xảy ra tại Hồng Kông, khi những tinh hoa của phong trào dân chủ ở xứ sở này đang làm cả thế giới ngưỡng phục, khi hầu hết người VN cũng đang hướng về cuộc đấu trí ngoạn mục của người dân Hồng Kông với tất cả lòng ngưỡng mộ, tôi muốn nhắc với chúng ta về một người con gái của đất nước mình. Ngày hôm nay, ở Trà Vinh có một mái nhà nho nhỏ đang ấm lên vì được đón cô trở về.
Tuesday, July 16, 201911:23 PM(View: 47250)
Lần đầu được đọc tập ký hoàn chỉnh của nhà báo Đinh Quang Anh Thái, một tác giả người Việt hải ngoại, tự nhiên trong đầu tôi nảy ra sự so sánh với hàng ngàn vạn bài ký “mậu dịch” của hơn tám trăm tờ báo dưới sự chăn dắt của Ban Tuyên giáo Trung ương. Hóa ra, đó toàn là những sản phẩm đồng phục được chế tác bởi những tác giả, qua sự đào luyện của hệ thống trường ốc, trong đó, cá tính đã được mài nhẵn, tư tưởng được kiểm soát chặt chẽ, mọi phản biện xã hội đều bị giới hạn trong phạm vi cho phép, vì thế, cái gọi là ký ấy chỉ là những văn bản véo von ca ngợi, tự sướng của những cây bút thủ dâm chính trị, tự huyễn hoặc mình. Loại báo chí ấy chẳng những không có lợi, mà trái lại, rất có hại, bởi nó thực chất là dối trá, lừa phỉnh nhân quần.
Wednesday, June 12, 20196:05 PM(View: 47994)
Bài thơ chữ Hán Điệp tử thư trung (Con bướm chết trong sách) được xếp ở sát cuối phần Làm quan ở Bắc hà (1802-1804), trong Thanh Hiên thi tập.(1) Có thể nói đây là một trong những bài thơ hay nhất, và kỳ lạ bậc nhất của Tố Như, khi ông chưa tới tuổi “tam thập nhi lập.” Hay và kỳ lạ, song xưa nay nó mới chỉ được điểm qua, chưa hề được phân tích bình giải một cách thấu đáo. (Trong khi, bài Độc Tiểu Thanh ký xếp liền sau đó lại được khai thác khá kỹ trong hàng chục bài viết - ở các bậc phổ thông, đại học và nhiều diễn đàn văn chương). Có lẽ, bởi tính chất kỳ lạ và trừu tượng đến khó hiểu của nó?
Wednesday, May 15, 20195:35 PM(View: 51742)
Trên vạn dặm Trung Hoa, trong số những di tích lịch sử tôi có dịp được tham quan, có lẽ đền thờ Nhạc Phi nằm ở chân núi Thê Hà cạnh Tây Hồ, Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang là di tích để lại cho tôi nhiều ấn tượng khó quên hơn cả. Đặc điểm nổi bật nhất trong kiến trúc của khu đền là giữa không gian rộng rãi, có khu mộ Nhạc Phi cùng con trai Nhạc Vân, đối diện là bốn bức tượng sắt quỳ nhốt trong cũi sắt, đã tạo nên nét đặc sắc chưa từng thấy trong các di tích lịch sử ở Trung Quốc cũng như trên thế giới… Hơn hai trăm năm trước, đại thi hào Nguyễn Du đã tới nơi này, để lại 5 bài thơ chữ Hán vịnh sử bất hủ về Nhạc Phi và những kẻ thủ ác hãm hại người anh hùng của đất nước Trung Hoa cổ đại.
Tuesday, May 14, 20199:20 PM(View: 48812)
Bài thơ: “Cúng Dường” của thiền sư, thi sĩ Tuệ Sĩ đã được nhiều giảng sư, luận sư, triết gia chuyển dịch, tất cả đều dịch rất sát, rất hay, nhưng trên ý nghĩa của mặt chữ, đã khiến dư luận cảm thương, tội nghiệp khi đọc thi phẩm này, mà theo tôi, sự giải thích sát nghĩa như vậy đã ngược lại hoàn toàn tính hùng vĩ và đại bi tâm của nhân cách tác giả và thi phẩm.
Monday, May 13, 20198:54 PM(View: 51504)
Cù Huy Cận sinh ngày 31 tháng 5 năm 1919 tại xã Ân Phú, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, trong một gia đình trung nông lớp dưới. Bố Huy Cận đậu tam trường làm hương sư ở Thanh Hoá, sau về quê dạy chữ Hán và làm ruộng. Mẹ Huy Cận là cô gái dệt lụa làng Hạ nổi tiếng ở xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ.
Wednesday, April 24, 201911:02 PM(View: 49233)
Nhà báo Pháp Paul Dreyfus là một trong 25 nhà báo Pháp có mặt tại Sài Gòn vào giờ phút cuối cùng của tháng Tư năm 1975. Trong cuốn sách của mình với tựa đề "và Sài Gòn sụp đổ" (Et Saigon tomba - Collection Témoignages 1975), tác giả đánh giá sự kiện Sài Gòn thất thủ là sự kiện 'quan trọng nhất' với hệ thống cộng sản châu Á sau cuộc tiến vào Bắc Kinh năm 1949 của Mao. Ông thuật lại những cảm nhận cá nhân qua những lần tiếp xúc với đại tướng Dương văn Minh, tổng thống cuối cùng của miền Nam, theo giới thiệu sau qua lời dịch của nhà báo Phạm Cao Phong từ Paris: Theo Paul Dreyfus, tướng Minh là "một người minh mẫn và nắm vững tình hình". Những tâm sự của tướng Minh thời điểm đó mang lại một cách đánh giá đa chiều về nhân vật gây nhiều tranh cãi.
Wednesday, April 17, 20197:44 PM(View: 44659)
Tám bài thơ viết về Khuất Nguyên hoặc có liên quan tới Khuất Nguyên mà chúng tôi đã/ sẽ khảo sát đều được đại thi hào Nguyễn Du viết khi chu du trên sóng nước Tiêu Tương, vùng Hồ Nam - nơi nổi tiếng với “Tiêu Tương bát cảnh” từng thu hút cảm hứng vô hạn của bao thế hệ văn nhân, nghệ sĩ Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam…
Monday, April 8, 20199:47 PM(View: 42590)
Khoảng thời gian ba thế kỉ XVII-XVIII-XIX là thời thịnh của thể loại truyện nôm. Các nhà văn thời này đều có chấp bút và đã lưu lại nhiều tác phẩm văn chương lôi cuốn nhiều thế hệ người đọc. Truyện Phan Trần là một truyện nôm ra đời trong thời kì này, cụ thể là khoảng cuối thế kỉ XVIII, trễ lắm là đầu thế kỉ XIX.
Tuesday, April 2, 201910:27 PM(View: 49371)
Cũng như hai bài thơ Tương Đàm điếu Tam Lư đại phu đã khảo sát ở phần I, trong các bài thơ còn lại về chủ đề này, Nguyễn Du vẫn say mê trò chuyện, luận bàn, thậm chí tranh cãi với Hồn oan nước Sở từ hơn hai ngàn năm, như hồn đang hiển hiện quanh quất bên mình, trên dòng sông lịch sử tựa một nấm mồ lớn đang vùi lấp thân xác của một con người tri âm tri kỷ đặc biệt đối với ông.